9 Cách Phát Bồ Đề Tâm

Đã đọc: 18612           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

1. Bồ đề tâm như hạt giống

      Bồ đề tâm này giống như hạt giống,

      sinh trưởng tất cả chân lý, Phật pháp.

    Đầy đủ duyên lành, thì mới lớn mạnh

 

2. Bồ đề tâm như ruộng tốt

      Bồ đề tâm này giống như ruộng tốt, sinh trưởng

      pháp lành của mọi chúng sinh.

    Vô số pháp lành, hạnh tốt

 

3. Bồ đề tâm như đại địa

       Bồ đề tâm này giống như đại địa,

     nâng giữ mọi thứ khắp cả thế gian.

     Đất từ bi, nuôi dưỡng mọi mầm sống

 

4. Bồ đề tâm như tịnh thủy

       Bồ đề tâm này cũng như tịnh thủy,

      rửa sạch tất cả phiền não, bẩn dơ.

       Nước từ bi: chảy vô ngại

 

5. Bồ đề tâm như gió lớn

       Bồ đề tâm này giống như gió lớn,

      thổi khắp thế gian, không hề chướng ngại.

       Rừng rậm tà kiến

 

6. Bồ đề tâm như lửa mạnh

       Bồ đề tâm này giống như lửa mạnh,

      thiêu sạch mọi thứ cây củi tà kiến.

    Thổi mất chấp trước, níu kéo

 

7. Bồ đề tâm như tịnh nhật

       Bồ đề tâm này giống như tịnh nhật,

      phổ chiếu khắp hết thế gian mọi chốn.

    Nước trí huệ: soi mòn thói xấu

 

8. Bồ đề tâm như trăng tròn

       Bồ đề tâm này giống như trăng rằm,

      khiến việc tốt làm, đều tất viên mãn.

       Soi chiếu điểm mù

 

9. Bồ đề tâm như đèn sáng

       Bồ đề tâm này giống như đèn sáng,

      tỏa ra muôn thứ ánh sáng chân lý.

    Ánh sáng chân lý, tùy theo tâm thức

 

Download file word ở phần đính kèm bên phải.

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (8 đã gửi)

avatar
Phương Nguyễn 24/02/2010 00:20:03
Nam Mô A Di Đà Phật.
Trước hết, mới đọc đề tựa "9 cách Phát Bồ-Đề Tâm", nhưng đọc hết, Phật-tử tôi chỉ thấy nói "ý nghĩa của Bồ-Đề Tâm" mà thôi chứ không thấy đề cập tới : "Thế nào là Phát Bồ-Đề Tâm" cả.
Xin phép quý vị cho tôi được bầy tỏ về ý nghĩa thô thiển về vấn đề Phát Bồ Đề Tâm như sau :
Phát Bồ-Đề-Tâm ở Nguyên-thủy khác với Phát Bồ-Đề-Tâm ở bậc Bồ-Tát một chút.
Ở quả vị A-La-Hán, khi các Ngài phát Bồ-Đề-Tâm thì chỉ cần thấy thế-gian đau khổ, tự mình muốn giải thoát là được kể như là đã "Phát" Bồ-Đề-Tâm rồi. Lý do là các Ngài không cần nói độ ít hay nhiều người gì cả. "Độ" mình được thì thì cũng là "Phát Bồ-Đề-Tâm" rồi. Chữ Bồ-Đề-Tâm có nghĩa là "cái tâm Giác Ngộ". Phát cái Tâm Giác-Ngộ chứ không phải là "nói" Phát cái Tâm Bồ-Đề như cái nghĩa là phải đi "cứu độ" người ta.
Ở Đại-Thừa, có người nói, "Phát Bồ-Đề-Tâm" tức là "Phát Bồ-Tát-Tâm". Chữ thì có khác một chút nhưng ý nghĩa thì như nhau hết.
Thường thường phàm-phu cho rằng, "Phát" là suy nghĩ về cái gì đó thì ở đây, ý nghĩa về "Phát Bồ-Đề-Tâm" không phải như vậy. "Phát" đây là cái "Tâm" mình khởi được cái ý đó và đồng thời hướng về "cái đó" không còn "thối chuyển" nữa thì mới gọi là "Phát Bồ-Đề-Tâm".
Ai cũng có thể "Phát Bồ-Đề-Tâm" được nhưng, vấn đề "Phát Bồ-Đề-Tâm" trong các Kinh-điển Đại-thừa khác với ý nghĩa "Phát Bồ-Đề-Tâm" mà người bình thường hiểu.Phát Bồ-Đề-Tâm không phải là cái miệng nói ra. Chẳng hạn khi đi Chùa, nghe mấy Sư nói : Hôm nay quý Phật-tử hãy đọc theo tôi, Phát Bồ-Đề-Tâm, nào là "Chúng-sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng, thệ nguyện học, Phật-đạo vô-thượng, thệ nguyện thành" v...v... Xướng lên như vậy chưa phải là "Phát Bồ-Đề-Tâm".
Phát Bồ-Đề-Tâm là tự mình nguyện, tự mình nhận thấy cái "sự thật" rồi từ đó, cái Tâm mình cứ theo đó mà đi chứ không cần ai chỉ dạy cho biết, chỉ dạy cho "phải nói hay làm" này nọ. Tự mình tự nhận biết, rồi tự mình nguyện, mình làm thì cái đó mới là "Phát Bồ-Đề-Tâm", mà "phát Bồ-Đề-Tâm thực sự như trong Kinh Hoa-Nghiêm nói, thì là cái người đó đã là Bồ-Tát rồi chứ không phải còn là người"phàm" nữa. Cho nên khi nói một người đã "Phát Bồ-Đề-Tâm" là người đó, tự họ đã nhận rõ ra được, thế-gian là đau khổ, không còn luyến ái thế-gian thế-gian này nữa và thấy chungsanh còn đang phải chịu đau khổ nên "nguyện" phát cái tâm tự cứu mình, cứu người. Mình nhận rõ ra như vậy và sống được như vậy thì tự nhiên cái đó là "Bồ-Đề-Tâm" chứ không phải "Phát" Bồ-Đề-Tâm là làm cái gì khác cả.. Bồ-Đề-Tâm là nơi cái Tâm mình chứ không phải là ở nơi ngoài. Không phải là "Phát Bồ-Đề-Tâm" là nói cho người ta nghe là mình "Phát" Bồ-Đề Tâm, cũng không phải là "thọ giới" Bồ-Tát là "Phát" Bồ-Đề-Tâm nữa.
Điều kiện để "Phát Bồ-Đề-Tâm" là mình "ngộ" được thế-gian là "vô-thường", "ngộ" được mình có cái "Tánh" như Phật, "ngộ" được mình có cái "Pháp-Thân" mới gọi là "Phát Bồ-Đề-Tâm" chân thật. Bồ-Đề-Tâm có nhiều bậc. Có bậc gọi là "Giả danh Bồ-Đề-Tâm", "Tương Tợ Bồ-Đề-Tâm và "Chân Thật Bồ-Đề-Tâm".
Giả Danh Bồ-đề-Tâm, tức là chỉ có cái "danh" không thôi, chẳng hạn như phàm-phu mình, mỗi ngày cứ nói cái "miệng" là, tôi "phát bồ-đề-tâm", tôi "phát bồ-đề-tâm".....Những cái đó chỉ là "giả danh" bồ đề tâm chứ không phải là thứ thiệt. Bởi vì miệng nói nhưng cái "Tâm" mình chưa phải là như vậy.
Rồi tới "Tương-tợ Bồ-Đề-Tâm" là cái người "đang tu hành", đang thực-hành cái "Hạnh Bồ-Đề-Tâm" đó thì gọi là "Tương-Tợ".
Còn "Chân Thật Bồ-Đề-Tâm" là "Tâm Bồ-Đề" của các vị Bồ-Tát, từ bậc "Sơ-Địa" trở lên tới Đức Phật mới là "Chân Thật". Cái "Tâm Bồ-Đề" đó là cái "Tâm-Nguyện" độ-sanh và tự độ đó mới là cái "Tâm Bồ-Đề Chân Thật ", chân thật từ hành động phát ra. Tâm tâm nơi "nguyện", nơi "Thân" cũng y như vậy hết. Mà luôn luôn như vậy chứ không phải lúc thế này, lúc thế nọ. Phàm phu mình chưa được như vậy nên chưa phải là Bồ-Đề-Tâm chân thật.
Phật-tử chân chính không nên lạm dụng danh-từ Phát Bồ-Đề-Tâm, mà các vị Sư cũng không nên ru ngủ Phật-tử bằng cách tán dương các Phật-tử "phát" Bồ-Đề-Tâm là Tâm Bồ-Tát v...v... Bồ-Đề là "Giác Ngộ", Phát Tâm Giác Ngộ. Mà "giác Ngộ" thì làm sao mở miệng ra nói được ? Mình thì theo "vọng-tưởng", chạy theo "vọng-tưởng" mà mở miệng ra nói muốn "phát" cái "Giác" thì "phát" cái "Giác" ra làm sao và "phát" cái "Giác" ở chỗ nào ?
Phải hiểu "Phát Bồ-Đề-Tâm" là là cái "Tâm" cầu "Giác-Ngộ". Cầu Giác-Ngộ thì làm cái gì ? Phát Bồ-Đề-Tâm tức là mình bắt đầu vứt bỏ những vọng-tưởng, không theo vọng-tưởng chứ không phải là "cầu" cái "Giác". Cầu cái "Giác" thì ai ban cho mình ? Đâu có ai "Ban" cái "Giác" cho mình được ?. Chhẳng hạn như bây giờ mình mở miệng, mình phát nguyện thành Phật,làm sao để "thành", mình đâu có biết làm sao ?
Tóm lại, Bồ-Đề-Tâm là công phu tu-hành đê chuyển Thức thứ 7 là Mạt-Na-Thức và Thức thứ 8 là A-Lại-Da-Thức thành "Bình-Đẳng Thánh-Trí" và "Đại-Viên Cảnh-Trí", là cái "Trí-Huệ" sáng suốt, hết chấp "Ngã" và "Pháp" chấp, thấy được cái tánh "bình đẳng" củ Vạn Vật, là Tí-Huệ sáng suốt "Viên Mãn", trò đầy như tấm gương rộng lớn chiếu soi khắp "Càn-Khôn Vủ-Trụ", vật gì cũng in bóng nhưng lại chẳng giữ lại một hình bóng nào cả ( tức Tâm Vọng -tưởng )
Gọi là một chút "loạn ngôn", có điều gì thất thố, mong các vị xá tội cho.
U.S.A 2010/Feb/16. Tuệ-Giác Phương Nguyễn kính bái
Reply Tán thành Không tán thành
12
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Tue Đăng _Hải Nguyen 10/06/2010 17:20:08
Nhận xét cua Đạo hữu thật sâu sắc, nhưng cuối cùng thì cũng nên tùy Duyên,tùy căn cơ,không nên chấp ai hiểu khác, làm khác.
Oakland, CA
avatar
duyenthu 04/08/2010 04:21:58
xin cảm ơn Phật tử Phương Nguyễn cũng như tác giả bài viết cho tôi hiểu thêm về phát tâm Bồ Đề. Mong mọi người hãy nhìn thế giới xung quanh ta rồi từ đó suy nghĩ , chiêm nghiệm để nhận ra đời vốn giả, sự vật vô ngã, vô thường, phát tâm Bồ Đề, hướng về Phật pháp. Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
avatar
Phàm Phu 04/08/2010 18:42:41
Tôi cũng thắc mắc như các bạn : 9 bài kệ này là 9 ý nghĩa hay 9 cách thức phát bồ đề tâm ? Sau khi tra tài liệu , tôi thấy đúng là 9 cách ( hay 9 bậc,9 loại ) chứ không phải 9 ý nghĩa . Có điều tài liệu của tôi chỉ có 8 thay vì 9 như của tác giả Hằng Trường.

Sau đây , tôi xin trích tài liệu để các bạn cùng tham khảo :

BỒ ĐỀ TÂM: Bodhicitta (skt).

(A) Nghĩa của Bồ Đề Tâm :

1) Theo Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật đã dạy: “Nầy thiện nam tử! Bậc Bồ Tát phát lòng Vô Thượng Bồ Đề là ‘khởi lòng đại bi cứu độ tất cả chúng sanh. Khởi lòng cúng dường chư Phật, cứu cánh thừa sự. Khởi lòng khắp cầu chánh pháp, tất cả không sẻn tiếc. Khởi lòng thú hướng rộng lớn, cầu nhứt thiết trí. Khởi lòng đại bi vô lượng, khắp nhiếp tất cả chúng sanh. Khởi lòng không bỏ rơi các loài hữu tình, mặc áo giáp kiên thệ để cầu Bát Nhã Ba La Mật. Khởi lòng không siểm dối, vì cầu được trí như thật. Khởi lòng thực hành y như lời nói, để tu đạo Bồ Tát. Khởi lòng không dối với chư Phật, vì gìn giữ thệ nguyện lớn của tất cả Như Lai. Khởi lòng nguyện cầu nhứt thiết trí, cùng tận kiếp vị lai giáo hóa chúng sanh không dừng nghỉ. Bồ Tát dùng những công đức Bồ Đề Tâm nhiều như số bụi nhỏ của cõi Phật như thế, nên được sanh vào nhà Như Lai. Nầy thiện nam tử! Như người học bắn, trước phải tập thế đứng, sau mới học đến cách bắn. Cũng thế, Bồ Tát muốn học đạo nhứt thiết trí của Như Lai, trước phải an trụ nơi Bồ Đề Tâm, rồi sau mới tu hành tất cả Phật pháp. Thiện nam tử! Ví như vương tử tuy hãy còn thơ ấu, song tất cả đại thần đều phải kính lễ. Cũng thế, Bồ Tát tuy mới phát Bồ Đề tâm tu Bồ Tát hạnh, song tất cả bậc kỳ cựu hàng nhị thừa đều phải kính trọng nể vì. Thiện nam tử! Như thái tử tuy đối với quần thần chưa được tự tại, song đã đủ tướng trạng của vua, các bầy tôi không thể sánh bằng, bởi nhờ chỗ xuất sanh tôn quý. Cũng thế Bồ Tát tuy đối với tất cả nghiệp phiền não chưa được tự tại, song đã đầy đủ tướng trạng Bồ Đề, hàng nhị thừa không thể sánh bằng, bởi nhờ chủng tánh đứng vào bậc nhứt. Thiện Nam Tử ! Như người máy bằng gỗ, nếu không có mấu chốt thì các thân phần rời rạc chẳng thể hoạt động. Cũng thế, Bồ Tát nếu thiếu Bồ Đề tâm, thì các hạnh đều phân tán, không thể thành tựu tất cả Phật pháp. Thiện nam tử ! Như chất kim cương tất cả vật không thể phá hoại, trái lại nó có thể phá hoại tất cả vật, song thể tánh của nó vẫn không tổn giảm. Bồ Đề tâm của Bồ Tát cũng thế, khắp ba đời trong vô số kiếp, giáo hóa chúng sanh, tu các khổ hạnh, việc mà hàng nhị thừa không thể muốn làm đều làm được, song kết cuộc vẫn chẳng chán mõi giảm hư.”.

2) Tâm Bồ Đề là tâm giác ngộ, tâm thấy được bản mặt thật của chư pháp, tâm tin nơi nhân quả và Phật tánh nơi chúng sanh cũng như luôn dụng công tu hành hướng về quả vị Phật.

3) Bồ Đề Tâm liên hệ tới hai chiều hướng :
• Thượng cầu Phật Đạo
• Hạ hóa chúng sanh
4) Kinh Đại Tỳ Lô Giá Na nói: “Bồ Đề Tâm làm nhân, đại bi làm căn bản, phương tiện làm cứu cánh.” Ví như người đi xa, trước tiên phải nhận định mục tiêu sẽ đến, phải ý thức chủ đích cuộc hành trình bởi lý do nào, và sau dùng phương tiện hoặc xe, thuyền, hay phi cơ mà khởi tiến. Người tu cũng thế, trước tiên phải lấy quả vô thượng Bồ Đề làm mục tiêu cứu cánh; lấy lòng đại bi lợi mình lợi sanh làm chủ đích thực hành; và kế đó tùy sở thích căn cơ mà lựa chọn các pháp môn hoặc Thiền, hoặc Tịnh, hoặc Mật làm phương tiện tu tập. Phương tiện với nghĩa rộng hơn, còn là trí huệ quyền biến tùy cơ nghi, áp dụng tất cả hạnh thuận nghịch trong khi hành Bồ Tát đạo. Cho nên Bồ Đề Tâm là mục tiêu cần phải nhận định của hành giả, trước khi khởi công hạnh huân tu.

5) Kinh Hoa Nghiêm nói: “Nếu quên mất Bồ Đề Tâm mà tu các pháp lành, đó là ma nghiệp.” Lời nầy xét ra rất đúng. Ví như người cất bước khởi hành mà chẳng biết mình sẽ đến đâu, và đi với mục đích gì, thì cuộc hành trình chỉ là quanh quẩn, mỏi mệt và vô ích mà thôi. Người tu cũng thế, nếu dụng công khổ nhọc mà quên sót mục tiêu cầu thành Phật để lợi mình lợi sanh, thì bao nhiêu hạnh lành chỉ đem đến kết quả hưởng phước nhơn thiên, chung cuộc vẫn bị chìm mê quanh quẩn trong nẻo luân hồi, chịu vô biên nỗi khổ, nghiệp ma vẫn còn. Như vậy phát tâm Bồ Đề lợi mình lợi người là bước đi cấp thiết của người tu.

(B) Đặc tánh của Bồ Đề Tâm : Theo Thiền Sư Suzuki trong Đại Thừa Phật Giáo Khái Luận, Bồ Đề tâm là đặc tánh quan trọng nhất của Bồ Tát, nên thuyết giảng về siêu việt tánh của Bồ Đề Tâm trong Triết Học Trung Quán của Ngài Long Thọ có nhấn mạnh về các đặc tánh của Bồ Đề Tâm như sau :

1) Bồ Đề Tâm siêu việt tất cả mọi hạn định của ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới. Nó không phải cá biệt mà là phổ quát.

2) Từ bi chính là bản chất của Bồ Đề Tâm, vì thế tất cả Bồ Tát coi Bồ Đề tâm là lý do tồn tại của họ.

3) Bồ đề tâm cư ngụ trong trái tim của bình đẳng tánh, tạo nên những phương tiện giải thoát cho cá nhân.

(C) Phân loại Bồ Đề Tâm :

1) Nhị Chủng Bồ Đề Tâm:
- Duyên Sự Bồ Đề Tâm
- Duyên Lý Bồ Đề Tâm

2) Tam Chủng Bồ Đề: Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, đem công đức niệm Phật để cầu phước lợi nhỏ nhen ở thế gian, tất không hợp với bản hoài của Phật, cho nên hành giả phải vì sự thoát ly khỏi vòng sống chết luân hồi mà niệm Phật. Nhưng nếu vì giải thoát cho riêng mình mà tu niệm, cũng chỉ hợp với bản hoài của Phật một phần ít mà thôi. Vậy bản hoài của Phật như thế nào? Bản hoài đích thực của Đức Thế Tôn là muốn cho tất cả chúng sanh đều thoát vòng sanh tử, đều được giác ngộ như Ngài. Cho nên người niệm Phật cần phải phát Bồ Đề tâm. Bồ Đề nghĩa là “Giác.” Trong ấy có ba bậc :

- Thanh Văn Bồ Đề

- Duyên Giác Bồ Đề

- Phật Bồ Đề : Người niệm Phật phát tâm Bồ Đề, chính là phát tâm cầu quả giác ngộ của Phật; quả vị ấy cùng tột không chi hơn, siêu cả hàng Thanh Văn Duyên Giác, nên gọi là Vô Thượng Bồ Đề. Tâm nầy gồm hai chủng tử chính, là từ bi và trí huệ, hay phát xuất công năng độ thoát mình và tất cả chúng sanh.

3) Xem Lục Tâm.

4) Xem Tám Cách Phát Bồ Đề Tâm.

(D) Làm cách nào để phát Tâm Bồ Đề ? Phát Bồ Đề Tâm như trên đã nói, có thể tóm tắt trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện :

“Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.”


Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, không phải chỉ nói suông “Tôi phát Bồ Đề Tâm” là đã phát tâm, hay mỗi ngày tuyên đọc Tứ Hoằng Thệ Nguyện, gọi là đã phát Bồ Đề Tâm. Muốn phát Bồ Đề Tâm hành giả cần phải quán sát để phát tâm một cách thiết thật, và hành động đúng theo tâm nguyện ấy trong đời tu của mình. Có những người xuất gia, tại gia mỗi ngày sau khi tụng kinh niệm Phật đều quỳ đọc bài hồi hướng: “Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não…” Nhưng rồi trong hành động thì trái lại, nay tham lam, mai hờn giận, mốt si mê biếng trễ, bữa kia nói xấu hay chê bai chỉ trích người, đến bữa khác lại có chuyện tranh cãi gây gổ buồn ghét nhau. Như thế tam chướng làm sao tiêu trừ được? Chúng ta phần nhiều chỉ tu theo hình thức, chứ ít chú trọng đến chỗ khai tâm, thành thử lửa tam độc vẫn cháy hừng hực, không hưởng được hương vị thanh lương giải thoát của Đức Phật đã chỉ dạy. Cho nên ở đây lại cần đặt vấn đề “Làm thế nào để phát Bồ Đề Tâm?” Muốn cho tâm Bồ Đề phát sanh một cách thiết thực, chúng ta nên suy tư quán sát để phát tâm theo sáu yếu điểm như sau :

Lục Tâm : Chúng ta phần nhiều chỉ tu theo hình thức, mà ít chú trọng đến chỗ khai tâm, thành thử lửa tam độc vẫn cháy hừng, không hưởng được hương vị thanh lương giải thoát mà Đức Phật đã chỉ dạy. Muốn cho lòng Bồ Đề phát sanh một cách thiết thực. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, chúng ta nên suy tư quán sát để phát tâm theo sáu yếu điểm sau đây:

1) Giác Ngộ Tâm : Chúng sanh thường chấp sắc thân nầy là ta, tâm thức có hiểu biết, có buồn giận thương vui là ta. Nhưng thật ra, sắc thân nầy giả dối, ngày kia khi chết đi nó sẽ tan về với đất bụi, nên thân tứ đại không phải là ta. Tâm thức cũng thế, nó chỉ là thể tổng hợp về cái biết của sáu trần là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Ví dụ như một người trước kia dốt, nay theo học chữ Việt, tiếng Anh, khi học thành, có cái biết về chữ Việt tiếng Anh. Lại như một kẻ chưa biết Ba Lê, sau có dịp sang Pháp du ngoạn, thu thập hình ảnh của thành phố ấy vào tâm. Khi trở về bản xứ có ai nói đến Ba Lê, nơi tâm thức hiện rõ quang cảnh của đô thị ấy. Cái biết đó trước kia không, khi lịch cảnh thu nhận vào nên tạm có, sau bỏ lãng không nghĩ đến, lần lần nó sẽ phai lạt đến tan mất hẳn rồi trở về không. Cái biết của ta khi có khi không, hình ảnh nầy tiêu hình ảnh khác hiện, tùy theo trần cảnh thay đổi luôn luôn, hư giả không thật, nên chẳng phải là ta. Cổ đức đã bảo: “Thân như bọt tụ, tâm như gió. Huyễn hiện vô căn, không tánh thật.” Nếu giác ngộ thân tâm như huyễn, không chấp trước, lần lần sẽ đi vào cảnh giới “nhơn không” chẳng còn ngã tướng. Cái ta của ta đã không, thì cái ta của người khác cũng không, nên không có “nhơn tướng.” Cái ta của mình và người đã không, tất cái ta của vô lượng chúng sanh cũng không, nên không có “chúng sanh tướng.” Cái ta đã không, nên không có bản ngã bền lâu, không thật có ai chứng đắc, cho đến cảnh chứng thường trụ vĩnh cửu của Niết Bàn cũng không, nên không có “thọ giả tướng.” Đây cần nên nhận rõ, cũng không phải không có thật thể chân ngã của tánh chân như thường trụ, nhưng vì Thánh giả không chấp trước, nên thể ấy thành không. Nhơn đã không thì pháp cũng không, vì sự cảnh luôn luôn thay đổi sanh diệ, không có tự thể. Đây lại cần nên nhận rõ chẳng phải các pháp khi hoại diệt mới thành không, mà vì nó hư huyễn, nên đương thể chính là không, cả “nhơn” cũng thế. Cho nên cổ đức đã bảo: “Cần chi đợi hoa rụng, mới biết sắc là không.” (Hà tu đãi hoa lạc, nhiên hậu thỉ tri không). Hành giả khi đã giác ngộ “Nhơn” và “Pháp” đều không, thì giữ lòng thanh tịnh trong sáng không chấp trước mà niệm Phật. Dùng lòng giác ngộ như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ Đề Tâm.

2) Bình Đẳng Tâm : Trong khế kinh, Đức Phật khuyên dạy: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều là cha mẹ đời quá khứ và chư Phật đời vị lai.” Chư Phật thấy chúng sanh là Phật, nên dùng tâm bình đẳng đại bi mà tế độ. Chúng sanh thấy chư Phật là chúng sanh, nên khởi lòng phiền não phân biệt ghét khinh. Cũng đồng một cái nhìn, nhưng lại khác nhau bởi mê và ngộ. Là đệ tử Phật, ta nên tuân lời Đức Thế Tôn chỉ dạy, đối với chúng sanh phải có tâm bình đẳng và tôn trọng, bởi vì đó là chư Phật vị lai, đồng một Phật tánh. Khi dùng lòng bình đẳng tôn kính tu niệm, sẽ dứt được nghiệp chướng phân biệt khinh mạn, nảy sanh các đức lành. Dùng lòng bình đẳng như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ Đề tâm.

3) Tâm Từ Bi : Ta cùng chúng sanh sanh đều sẳn đủ đức hạnh, tướng hảo trí huệ của Như Lai, mà vì mê chân tánh, khởi hoặc nghiệp nên phải bị luân hồi, chịu vô biên sự thống khổ. Nay đã rõ như thế, ta phải dứt tâm ghét thương phân biệt, kởi lòng cảm hối từ bi tìm phương tiện độ mình cứu người, để cùng nhau được an vui thoát khổ. Nên nhận rõ từ bi khác với ái kiến. Ái kiến là lòng thương yêu mà chấp luyến trên hình thức, nên kết quả bị sợi dây tình ái ràng buộc. Từ bi là lòng xót thương cứu độ, mà lìa tướng, không phân biệt chấp trước; tâm nầy thể hiện dưới đủ mọi mặt, nên kết quả được an vui giải thoát, phước huệ càng tăng. Muốn cho tâm từ bi được thêm rộng, ta nên từ nỗi khổ của mình, cảm thông đến các nỗi khổ khó nhẫn thọ hơn của kẻ khác, tự nhiên sanh lòng xót thương muốn cứu độ, niệm từ bi của Bồ Đề tâm chưa phát bỗng tự phát sanh. Trong Kinh Hoa Nghiêm, ngài Phổ Hiền đã khai thị : “ Đại Bồ Tát với lòng đại bi có mười cách quán sát chúng sanh không nơi nương tựa mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh tánh chẳng điều thuận mà khởi đại bi, quán sát chúng sanh nghèo khổ không căn lành mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh ngủ say trong đêm dài vô minh mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh làm những điều ác mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh đã bị ràng buộc, lại thích lao mình vào chỗ ràng buộc mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh bị chìm đắm trong biển sanh tử mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh vương mang tật khổ lâu dài mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh không ưa thích pháp lành mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh xa mất Phật pháp mà khởi đại bi…” Đã phát tâm đại bi tất phải phát đại Bồ Đề tâm thề nguyền cứu độ. Thế thì lòng đại bi và lòng đại Bồ Đề dung thông nhau. Cho nên phát từ bi tâm tức là phát Bồ Đề tâm. Dùng lòng đại từ bi như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ Đề tâm.

4) Hoan Hỷ Tâm : Đã có xót thương tất phải thể hiện lòng ấy qua tâm hoan hỷ. Lòng tùy hỷ trừ được chướng tật đố nhỏ nhen. Lòng hỷ xả giải được chướng thù báo phục. Bởi tâm Hoan Hỷ không ngoài sự giác ngộ mà thể hiện, nên đó chính là lòng Bồ Đề. Hoan hỷ có hai thứ:
a) Tùy Hỷ là khi thấy trên từ chư Phật, Thánh nhân, dưới cho đến các loại chúng sanh, có làm được công đức gì , dù là nhỏ mọn cũng vui mừng theo. Và khi thấy ai được sự phước lợi, hưng thạnh thành công, an ổn, cũng sanh niệm vui vẻ mừng dùm.
b) Hỷ xả là dù có chúng sanh làm những điều tội ác, vong ân, khinh hủy, hiểm độc, tổn hại cho người hoặc cho mình, cũng an nhẫn vui vẻ mà bỏ qua. Sự vui nhẫn nầy nếu xét nghĩ sâu, thành ra không thật có nhẫn, vì tướng người, tướng ta và tướng não hại đều không. Nên Kinh Kim Cang dạy: “Như Lai nói nhẫn nhục Ba La Mật, tức chẳng phải nhẫn nhục Ba La Mật, đó gọi là nhẫn nhục Ba La Mật.”.

5) Sám Nguyện Tâm : Trong kiếp luân hồi, mọi loài hằng đổi thay làm quyến thuộc lẫn nhau. Thế mà ta vì mê mờ lầm lạc, từ kiếp vô thỉ đến nay, do tâm chấp ngã muốn lợi mình nên làm tổn hại chúng sanh, tạo ra vô lượng vô biên ác nghiệp. Thậm chí đến chư Phật, Thánh nhơn, vì tâm đại bi đã ra đời thuyết pháp cứu độ loài hữu tình, trong ấy có ta, mà đối với ngôi Tam Bảo ta lại sanh lòng vong ân hủy phá. Ngày nay giác ngộ, ta phải hổ thẹn ăn năn, đem ba nghiệp chí thành sám hối. Đức Di Lặc Bồ Tát đã lên ngôi bất thối, vì muốn mau chứng quả Phật, mỗi ngày còn lễ sám sáu thời. Vậy ta phải đem thân nghiệp kính lễ Tam Bảo, khẩu nghiệp tỏ bày tội lỗi cầu được tiêu trừ, ý nghiệp thành khẩn ăn năn thề không tái phạm. Đã sám hối, phải dứt hẳn tâm hạnh ác, không còn cho tiếp tục nữa, đi đến chỗ tâm và cảnh đều không, mới là chân sám hối. Lại phải phát nguyện, nguyện hưng long ngôi Tam Bảo, nguyện độ khắp chúng sanh để chuộc lại lỗi xưa và đền đáp bốn ân nặng (ân Tam Bảo, ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân thiện hữu tri thức, và ân chúng sanh). Có tâm sám nguyện như vậy tội chướng mới tiêu trừ, công đức ngày thêm lớn, và mới đi đến chỗ phước huệ lưỡng toàn. Dùng lòng sám nguyện như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ Đề tâm.

6) Bất Thối Tâm : Dù đã sám hối phát nguyện tu hành, nhưng nghiệp hoặc ma chướng không dễ gì dứt trừ, sự lập công bồi đức thể hiện sáu độ muôn hạnh không dễ gì thành tựu. Mà con đường Bồ Đề đi đến quả viên giác lại xa vời dẫy đầy gay go chướng nạn, phải trải qua hằng sa kiếp, đâu phải chỉ một hai đời? Ngài Xá Lợi Phất trong tiền kiếp chứng đến ngôi lục trụ, phát đại Bồ Đề tâm tu hạnh bố thí. Nhưng khi chịu khổ khoét một con mắt cho ngoại đạo, bị họ không dùng liệng xuống đất rồi nhổ nước dãi, lấy chân chà đạp lên trên, ngài còn thối thất Đại thừa tâm. Thế thì ta thấy sự giữ vững tâm nguyện là điều không phải dễ! Cho nên hành giả muốn được đạo tâm không thối chuyển, phải lập thệ nguyện kiên cố. Thề rằng: “Thân nầy dầu bị vô lượng sự nhọc nhằn khổ nhục, hoặc bị đánh giết cho đến thiêu đốt nát tan thành tro bụi, cũng không vì thế mà phạm điều ác, thối thất trên bước đường tu hành.” Dùng lòng bất thối chuyển như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ Đề tâm.

Tám Cách Phát Tâm Bồ Đề : Trong Kinh Hoa Nghiêm Đức Thế Tôn và chư Bồ Tát đã thuyết giảng rộng rãi về công đức của Bồ Đề tâm: “Cửa yếu vào đạo trước phải phát tâm. Việc yếu tu hành, trước nên lập nguyện.” Nếu không phát tâm rộng lớn, không lập nguyện bền chắc, thì dù trải qua vô lượng kiếp, vẫn y nhiên ở trong nẻo luân hồi; dù có tu hành cũng khó tinh tấn và chỉ luống công khổ nhọc. Do đó nên biết muốn học Phật đạo, quyết phải phát Bồ Đề Tâm không thể trì hưởn. Do đó khi xưa Đại Sư Tỉnh Am bên Trung Quốc đã soạn ra bài phát nguyện “ Phát Bồ Đề Tâm Văn ” để khuyến khích tứ chúng. Trong ấy, ngài đã theo các tâm nguyện mà trình bày sự phát tâm thành tám cách Tà, Chánh, Chân, Ngụy, Đại, Tiểu, Thiên, Viên. Trong tám cách nầy, Tà, Ngụy, Thiên, Tiểu nên bỏ; Chân, Chánh, Viên, Đại nên theo. Được như thế mới gọi là phát Bồ Đề Tâm đúng cách.

1) : Có những người tu không tham cứu tự tâm, chỉ biết theo bên ngoài, hoặc cầu danh lợi, đắm cảnh vui hiện tại, hay mong quả phước trong tương lai mà phát lòng Bồ Đề. Trong đời sống, đây là hạng người chỉ một bề hành theo “Sự Tướng” mà không chịu xoay vào “Chân Tâm.” Phát tâm như thế gọi là TÀ. Trên đây là lối phát tâm của đa phần các người tu, tại gia và xuất gia, trong thời mạt pháp nầy. Những người như thế có nhan nhãn ở khắp mọi nơi, số đông như các sông Hằng.

2) Chánh : Như chẳng cầu danh lợi, không tham cảnh vui cùng mong quả phước, chỉ vì thoát vòng sanh tử, lợi mình lợi sanh mà cầu đạo Bồ Đề. Đây là hạng người trên không cầu lợi dưỡng, dưới chẳng thích hư danh, vui hiện thế không màng, phước vị lai chẳng tưởng. Họ chỉ vì sự sanh tử mà cầu quả Bồ Đề. Phát tâm như thế gọi là CHÁNH—CORRECT. Đây là lối phát tâm của bậc tu hành chân chánh, chỉ cầu mong giải thoát. Lối phát tâm và cách tu hành nầy đời nay khó thể nào thấy được, họa hoằn lắm trong muôn ngàn người tu mới có được một hay hai vị mà thôi.

3) Chân : Mỗi niệm trên vì cầu Phật đạo, dưới vì độ chúng sanh, nhìn đường Bồ Đề dài xa mà không khiếp, thấy loài hữu tình khó độ nhưng chẳng sờn. Tâm bền vững như lên núi quyết đến đỉnh, như leo tháp quyết đến chót. Những bậc nầy, niệm niệm trên cầu Phật dạo, tâm tâm dưới độ chúng sanh. Nghe thành Phật dù lâu xa chẳng sợ, chẳng lui. Phát tâm như thế gọi là CHÂN.

4) Ngụy : Có tội lỗi không sám hối chừa cải, ngoài dường trong sạch, trong thật nhớp nhơ, trước tinh tấn sau lười biếng. Dù có tâm tốt nhưng còn xen lẫn lợi danh, có pháp lành song bị tội lỗi làm ô nhiễm. Phát tâm mà còn những điều nầy, gọi là NGỤY. Đây là lối phát tâm của hầu hết người tu hành trong thời mạt pháp nầy.

5) Đại : Cõi chúng sanh hết, nguyện mới hết; đạo Bồ Đề thành, nguyện mới thành. Phát tâm như vậy gọi là ĐẠI. Đây là lối phát tâm của hàng Đại Thừa Pháp Thân Đại Sĩ Bồ Tát, hay bậc Thánh Tăng Bồ Tát, đã đắc được vô sanh pháp nhẫn, chuyển pháp luân bất thối trong mười phương pháp giới .

6) Tiểu : Xem tam giới như tù ngục, sanh tử như oan gia, chỉ mong mình mau giải thoát, chẳng muốn độ người. Phát tâm theo quan niệm nầy gọi là TIỂU. Đây là cách phát tâm của bậc Thánh nhân trong hàng nhị thừa Thanh Văn và Duyên Giác. Lối phát tâm nầy tuy là được giải thoát ra ngoài tam giới, chứng được Niết Bàn, nhưng vẫn bị Phật quở là đi ra ngoài con đường hạnh nguyện độ sanh của Bồ Tát và Phật .

7) Thiên : Thấy chúng sanh và Phật đạo ở ngoài tự tánh, rồi nguyện độ nguyện thành, đường công hạnh chẳng quên, sự thấy hiểu không dứt. Phát tâm như thế gọi là THIÊN. Đây là cách phát tâm sai lầm của những vị tu hành mà quả vị chứng đắc vẫn còn nằm trong ba cõi sanh tử, chớ chưa giải thoát được, họ chỉ tu hành để đạt được cảnh giới cao hơn như lên cõi sắc giới hay vô sắc giới, vì các vị ấy chưa thông đạt lý “ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm.”

8) Viên : Biết chúng sanh và Phật đạo đều là tự tánh, nên nguyện độ nguyện thành, tu công đức không thấy mình có tu, độ chúng sanh không thấy có chúng sanh được độ. Các bậc nầy dùng tâm rỗng như hư không mà phát nguyện lớn như hư không, tu hành rộng như hư không, chứng đắc như hư không, cũng chẳng thấy có tướng “không.” Phát tâm như thế gọi là VIÊN. Đây là lối phát tâm của các hàng Đăng Địa Bồ Tát, Đẳng Giác Bồ Tát, và Nhứt Sanh Bổ Xứ Bồ Tát. Sau cùng các vị nầy chứng được quả vị Phật với đầy đủ thập hiệu.

( Nguồn : Phật Học Tự Điển Việt-Anh Thiện Phúc. )
avatar
ngocyen 26/11/2010 03:30:32
Nam Mo A Di Da Phat!
avatar
TRẦN THANH VIỆT 22/04/2011 02:35:44
Bài Viết rất hay giúp tôi hiểu được thế nào là : Phát Bồ Đề Tâm , Xin thành thật cám ơn, nhưng nếu giọng văn nhẹ nhàng chút xíu bài viết đáng giá 5 Sao
avatar
Ngộ Minh Kiệt 19/11/2011 02:45:37
Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô A Di Đà Phật.
Cám ơn bài viết và các bài đóng góp của các tác giả quá hay. Giúp mình có thêm kiến thức về tâm bồ đề và biết đường để tu chỉnh lại mình. Vì mình làm nhiều điều thiện mà không phát tâm bồ đề trướ thì lại rơi vào TÀ mà không hay biết.
avatar
Thiền Hưng 14/01/2014 23:42:46
tôi đã đọc bài viết này.
rất bổ ích.

Thanks.
tổng số: 8 | đang hiển thị: 1 - 8

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

2.71

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập