Đạo Phật Theo Năm Tháng

Đã đọc: 1378           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Đối với các nhà nghiên cứu thì xem Đạo Phật như là một triết lý thâm sâu huyền diệu bởi thiên kinh vạn quyển mà Đức Phật đã để lại còn những người con Phật thì xem Ngài như một vị cha lành nâng đỡ, dẫn đường cho những đứa con trong cuộc đời mênh mông biển khổ.

 

    Đạo Phật theo năm tháng  cùng  các vị Tổ sư các nhà truyền giáo đã vân du  đến đất  Việt rồi lưu lại ở đây  một cách  lặng lẽ thâm trầm như những giọt nước thấm đẫm vào lòng dân tộc vào dòng văn hóa và tâm hồn  người Việt  để làm nên bao nhiêu truớc tác thi ca tôn vinh, tán thán  đạo Phật  mà gần đây nhất  những câu thơ của Trụ Vũ đã nói lên được sự gần gũi, gắn bó của đạo Phật đối với dân tộc như thế nào

                       Phật giáo Việt Nam. Dân tộc Việt Nam

                       Ngàn năm xương thịt nối liền

                       Tình sông nghĩa biển mối duyên mặn nồng...

    Hoặc như

                      Lũy tre vững hiện mái chùa 

                      Ấm tay đại thụ, mát bờ quê hương.

  Vì vậy mà chúng ta không thể xác định  đã theo đạo Phật từ bao giờ, khi đạo Phật  như dòng sông, con suối mà mạch chảy tuôn tràn từ bao thế hệ cho đến tận bây giờ. Bởi đạo Phật đã mấy ngàn năm qua vẫn luôn được  lưu giữ. truyền thừa một cách tự nhiên từ thế hệ này sang thế hệ khác. Điều mà ai cũng biết  là từ khi  còn rất  nhỏ các con cháu đều được  ông bà cha mẹ dạy cho biết chắp tay cúi đầu  lễ Phật hoặc đưa con cháu  đến chùa cho quy y, để  Sư thầy đặt  tên pháp danh cho  khi chua hề có ý thức  cũng là chỉ  mong cầu  Chư Phật hộ trì  cho con trẻ được an ổn mạnh lành thì đó là đức tin chân chất, mộc mạc  của người Việt tự  rất lâu đời,  vô tình đã biến  Đức Phật  thành  vị thần hộ mạng trong mỗi gia đình  không biết tự khi nào. Nên dù không chính thức  theo đạo Phật hoặc trong nhà không có bàn thở Phật  thì  những  khi gặp   chuyện chẳng lành   người Việt Nam   vẫn luôn miệng cầu trời khấn Phật. Và như thế   đạo Phật đã đi vào   cuộc sống của  người VN  một cách  nhẹ nhàng tự nhiên mà  hoàn toàn không  gặp sự phản kháng hay chống đối  bởi  bản chất hiền hòa của đạo Phật, để rồi mặc nhiên từ đó  người VN đã xem đạo Phật như một tín ngưỡng truyền thống, gắn liền với tâm thức với quê hương  dân tộc như những câu thơ của Nguyễn Bính

                       " Quê tôi có gió bốn mùa

                          Có trăng giữa tháng, có chùa quanh năm

                          Chuông khuya, gió sớm trăng rằm

                          Chỉ thanh đạm thế âm thầm thế thôi !

 

                          Mai ngày tôi bỏ quê tôi

                          Bỏ trăng, bỏ gió, chao ôi ! bỏ Chùa.."

     Đối với các nhà nghiên cứu thì xem Đạo Phật như  là một triết lý thâm sâu huyền diệu bởi thiên kinh vạn quyển mà Đức Phật đã  để lại  còn những người  con Phật thì  xem Ngài như một  vị cha lành nâng đỡ, dẫn đường cho  những đứa con trong cuộc đời mênh mông biển khổ. Cho nên  dù ba bộ Kinh Luật Luật có  được lưu truyền với những lời giáo huấn cao siêu , rộng lớn  thì mỗi chúng sanh cũng chỉ  lãnh hội  được phần của  mình. Như trong Kinh Pháp Hoa ở phẩm Dược thảo dụ thứ 5 đã ví lời dạy của Đức Phật như là những trận mưa Pháp  làm cho các loại cây cỏ từ cổ thụ, lớn, vừa hay nhỏ cũng thảy đều được thấm nhuần, thọ hưởng tùy theo  sức thẩm thấu của mỗi loại. Vì vậy  kinh điển có nhiều, có cao thâm  huyền diệu thì sự hiểu biết của mỗi chúng sanhi cũng chỉ  có hạn, điều quan trọng chính yếu  là có đem  thực hành   mới  thấy được hạnh phúc, an lạc thật sự. Hãy nhìn nhân cách, lòng từ bi và tâm bình đẳng nơi Đức Phật mới hiểu được vì sao đã  giác ngộ đến quả vị tối thượng, trí tuệ vuợt bậc  sáng suốt mà  Ngài không dành độc tôn cho riêng  mình  khi nói rằng "Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành" là  bởi Đức Phật  đã nhìn thấy ở  mỗi chúng sanh đều có Phật tánh nên Ngài  luôn luôn nhắc nhở, khuyến khích con người hãy  cố gắng  tinh tấn thực hành rồi cũng sẽ đạt đến quả vị như Ngài . Đức Phật thường dạy học nhiều, hiểu rộng, đọc tụng, giảng hay mà không thực hành thì cũng chẵng khác gì cái đảy chứa sách, cho dù có gần gũi  có nắm chéo y của Như Lai mà không thực hành giáo pháp thì  cũng như xa Như lai  ngàn dặm . Vì vậy truớc kia khi  kinh điển còn toàn chữ  Pali hay Hán ngữ có  ai hiểu được nhiều những triết lý thâm sâu, nhưng  vẫn biét đến điều căn bản của Đạo Phật để thực hành cũng là quá đủ 

                                      Tránh tất cả các việc ác

                                       Làm tất cả các việc lành.

                                       Giữ tâm ý trong sạch.

    Ngày nay các  bộ kinh  của Đức Phật  không còn bị hạn chế nữa mà đã được phổ biến hết sức rộng rãi qua nhiều ngôn ngữ khác nhau nhất là khi   có chữ quốc ngữ  thì các bộ kinh đưọc phiên dịch ra Việt ngữ dễ đọc dễ hiểu càng  giúp thêm nhiều cho  sự hiểu biết Phật pháp một cách  sâu rộng.Việc  dịch thuật phổ biến đạo pháp cũng  không còn dành riêng cho giới  Tăng lữ nữa mà có sự tham gia của các cư sĩ  Phật tử  như Đoàn Trung Còn, Lê Đình Thám, gần đây có  dịch giả Phạm Kim Khánh...  cũng đã phiên dịch  nhiều bộ sách giá trị . Ngoài ra cũng có các   vị cư sĩ  đi thuyết pháp , luận giảng  khắp nơi  như cụ Tâm Minh  Lê Đình Thám, cụ  Chánh Trí Mai Thọ Truyền cùng các lớp Phật học một thời  mang lại bao nhiêu điều lợi lạc.  Thời gian gần đây  còn có Phật Giáo Hòa Hảo đào tạo được một số các em nhỏ gọi là Nhóm búp sen tiểu nhí cũng đi hoằng pháp đó đây , không chỉ hạn hẹp trong giới tín đồ Hòa Hảo mà các chùa trong hệ phái Bắc tông  cũng thỉnh mời những vị Bồ tát nhỏ ấy đến truyền bá đạo lành,  thật  là điều quý hiếm, đáng mừng .Việc học Phật, tìm hiểu đạo Phật đã trở nên thuận lợi, dễ dàng  ngay cà khi  bận rộn không có thời gian  đọc tụng kinh sách thì đã có băng đĩa ấn tống phát hành  miễn phí để  vừa lái xe hay vừa làm việc vẫn  có cơ hội học Phật. Trong thời xa xưa việc tìm hiểu Phật pháp thì  vô vàn khó khăn như Ngài  Huyền Trang đời Đuờng  phải  trải muôn dặm sơn khê, gian truân, khổ nhọc đi tìm cầu kinh pháp và cùng với tấm  lòng thương kính Đức Phật Ngài  đã để lại những câu thơ đầy cảm xúc  

                                 Phật tại thế thời ngã trầm luân

                                Kim đắc nhân thân Phật nhập diệt  

                                Áo não thử thân đa nghiệp chuớng

                                Bất kiến Như lai kim sắc thân

       Tạm dịch

                                Phật tại thế con chìm đắm mãi 

                               Được thân người Phât lại Niết bàn

                               Trách mình  nghiệp chướng đa mang

                               Nên không thấy được thân vàng Như lai.

           Đạo Phật đã đến và tồn tại hơn 2000 năm trên quê hương nước Việt, đã đồng hành cùng với những thăng trầm, thịnh suy theo vận nước cho đến cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20 thì đạo Phật càng đuợc phổ biến rộng rãi hơn nhờ vào chữ quốc ngữ ra đời cộng thêm  ảnh huởng của phong trào chấn hưng Phật giáo mà khởi nguồn đầu tiên từ vị cư sĩ người Sri Lanka David Hawavitarane, rồi   lan nhanh đến Trung Quốc.  Tại nơi đây lại được tiếp sức cũng  bởi cư sĩ Phật tử Dương Nhân Sơn, ông  cho  thành lập Kỳ Hoàn Tinh xá để nghiên cứu Phật học qua 3 ngôn ngữ Pali, Anh văn, Hán văn. Sau đó phong trào được Ngài Thái Hư Đại sư  tiếp tục đẩy mạnh nên  công cuộc chấn hưng  đã  phát triển rộng lớn đến các quốc gia lân cận như Nhật bản, Hàn quốc, Myanma, Thái lan.. trong đó có Việt Nam. Nhờ vậy mà những thập niên đầu thế kỷ 20 đã có không biết bao nhiêu là truờng Phât học được mở ra , các tờ báo được thành lập ở  khắp ba miền từ Bắc Trung Nam  để phổ biến cũng như xây dụng lại nền móng cho đạo pháp dù  đang trong thời kỳ Pháp thuộc. Muốn hiểu rõ thêm giai đoạn này hãy tìm đọc Việt nam Phật giáo sử luận tập ba  của tác giả Nguyễn Lang mới thấy hết tấm lòng hy sinh vì đạo của các vị Thầy Tổ, cùng các cư sĩ hiền tài tiền bối với những đóng góp thiết thực cả về  vật chất, tinh thần cũng như công sức cho sự phát triển này. Vì vậy dù gặp nhiều khó khăn nhưng thời gian này lại có  nhiều giáo phái ra đời  như Phật giáo Hòa hảo do Đức Huỳnh Phú Sổ khai sáng , Cao đài giáo do ông Phạm Công Tắc làm giáo chủ , Tịnh độ cư sĩ do Đức Tông sư Minh trí  mở đạo, phái Khất sĩ do Thiền sư Minh Đăng Quang thành lập ngoài ra còn có sự  đặc biệt  trở lại VN của Nguyên Thuỷ Phật Giáo (NTPG) do các Ngài Hộ Tông, Bửu Chơn,  Thiện Luật là những người có công lao rất  lớn trong việc này mặc dù khi chưa xuất gia các Ngài cũng chỉ là những cư sĩ hộ đạo.

     Thật sự thì Nguyên Thủy Phật Giáo đã có mặt ở VN rất sớm từ đời Hùng vuơng thứ 18  (258 BC) do vị sư người Ấn độ tên là Phật Quang hay còn được gọi là sư Bần đi truyền giáo đến nước ta, mới đem pháp Phật mà dạy cho Chữ Đồng Tử và Tiên Dung để hai vị này  trở thành  Phật tử đầu tiên theo đạo Phật trên đất nuớc VN. Nhưng rồi PGNT  mất dần dấu tích , mãi cho đến  đầu  thế kỷ thứ I sau Tây lịch,  Phật giáo từ phương  Bắc được truyền vào VN nên được  gọi là Bắc truyền  hay Bắc tông, để rồi  từ đó phát triển và tồn tại cho đến ngày nay.

      Trải dài theo năm tháng  cùng dân tộc qua bao thời đại,  với lòng từ bi và tinh thần vô uý đạo Phật phần nào đã góp sức  làm nên  trang sử oai hùng trong những triều đại hưng thịnh,đã sản sinh  nhiều  bậc anh minh  tài đức được người đời xưng tụng như Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Vua Lý Thánh Tông... có lòng từ, biết  thương dân   nhưng không hề nhu nhược  rất  cuơng cuờng quyết  tâm chống giặc  giữ vững biên cuơng, bờ cõi  là một trong  những đóng góp thiết thực mà đạo Phật đã mang lại cho dân tộc Việt.

      Một điều đặc biệt ở đạo Phật,mà  có lẽ do ảnh huởng sâu đậm từ những lời giáo huấn,  tấm lòng từ bi vô luơng  cùng những hành xử của Đức Phật đối với các giáo phái ngoại đạo khi Ngài còn tại thế  đã góp phần rất lớn  cho  sự truyền bá đạo Phật ở khắp mọi nơi. Như câu chuyện của Truởng giả U Pa Li ( trùng tên với Ngài U Pa Li đệ nhứt  trì luật là một trong thập đại đệ tử của Đức Phật) đuợc Giáo chủ  Ni Kiền Tử là Nitaputta phái đi đến luận giáo với Đức Phật nhắm triệt hạ uy tín của Ngài.Nhưng  sau khi tranh luận bất thành  ông lại vô cùng hoan hỷ với những lời thuyết giáo của Đức Phật  và lập tức  xin quy y theo Phật.  Đức Phật đã không nhận lời thỉnh cầu này mà còn khuyên ông nên  suy nghĩ chân chính về những lời giáo huấn và hãy đem thực hành truớc đã, không nên vội vàng. Thế nhưng  với sự giác ngộ và hoan hỷ tuyệt đối vị  truởng giả này cứ một mực nài nỉ  xin được quy y. Cuối cùng thì Đức Phật  nhận lời ông nhưng khuyên ông hãy  nên tiếp tục cấp dưỡng vật chất cho nguời thầy cũ.

     Tâm  Phật luôn rộng lượng bao la, giáo huấn của Phật luôn nhắc nhở điều  trí tuệ, sáng suốt mà không cố chấp, phân biệt cho nên  đạo Phật  ví như  thể chất mềm mại của   nước dễ dàng dung nạp, thuận hoà ở bất cứ nơi đâu. Chính nhờ vậy mà bao nhiêu   giáo phái ra đời đều lấy  giáo lý đạo Phật làm căn bản  rồi diễn đạt sự hành trì theo phuơng cách riêng  vẫn đươc mọi nguời chấp nhận và tin theo do  bởi sự hiền hòa và cũng  không ngoài mục đích huớng  thiện, làm lành.   Con nguời có  trí tuệ khác nhau,sự hiểu biết giác ngộ không đồng đều nên Đức Phật nói tám mươi bốn ngàn pháp môn chỉ  được hiểu như một  con số để không chấp truớc, không phân biệt cách tu tập, hành trì của các tôn giáo khác. Điều vô cùng  quan trọng  là giới đức phải luôn tròn đủ, trong sạch  đem  an lạc hạnh phúc cho mình và cho người mới là điều rốt ráo cần thiết  như lời dạy của Đức Phật cho vị Thánh tăng sau cùng Subhadda  trước khi Ngài viên tịch " Này Subhadda hãy bỏ qua một bên những lời dạy của các vị giáo chủ mà nên ghi nhớ điều Như Lai sắp nói đây   ở bất luận giáo đoàn nào nếu có thực hành Bát chánh đạo thì  nơi đó  sẽ có các bậc thánh nhân " . Vì vậy đạo Phật hoàn toàn khác hẳn với  nhiều tôn giáo ,  cùng thờ phụng một vị giáo chủ nhưng lại chống đối nhau kịch liệt, thậm chí còn hận thù giết hại lẫn nhau.

       Đức Phật thường dạy nương tựa nơi giáo pháp để vững buớc trên đôi chân của mình là điều chắc chắc bình yên vì  mỗi  chúng sanh  phải chịu trách nhiệm cho mọi  hành động của  mình  thì  cũng  phải tự  soi đèn, đốt đuốc cho con đường của riêng  mình bởi  cô đơn luôn là điều tuyệt đối cho thân phận con người. Sự phân ly chia cách là  hiển nhiên cuối cùng mà  con đường sanh tử luân hồi thì vô biên vô tận.

             Cuộc đời nào khác chim chung ngủ

             Sáng sáng đàn nào, nấy bay đi 

    Nhìn lại lịch sử truyền thừa  mà đạo Phật như dòng suối ngọt vẫn luôn tuôn chảy  càng cảm niệm công ơn  sâu dầy của Đức Phật khi nghe Ngài khuyên các đệ tử " Này các con, vì lợi ích, vì hạnh phúc của cả  Chư thiên và nhân loại các con hãy ra đi  đem pháp lành gieo rải khắp nơi và không nên  dẫm hai buớc chân trên cùng một con đường. Bây giờ Như lai cũng đi về hướng U ru ve la." Sứ mạng truyền bá đạo mầu mà Đức Phật đã ban bố cho các hàng đệ tử có Ngài Phú Lâu Na đệ nhất về thuyết giáo  là nguời có công hàng đầu trong công cuộc hoằng dương chánh pháp. Không  ngại khó ngại khổ Ngài Phú Lâu Na đã vượt biết bao nhiêu chướng ngại, dốc một  lòng khai ngộ cho chúng sanh. Tinh thần của Ngài Phú lâu Na luôn  được Đức Phật tán duơng ,  nhắc nhở đến các vị Tỳ kheo còn  dải đải buông lung, hoặc chọn cho mình  cách  sống theo hạnh tiểu thừa mà  có lần Ngài Phú Lâu Na đã   thẳng thắn nói với các vị ấy rằng " Hoằng pháp là việc nhà, lợi sanh là sự nghiệp, chúng ta xuất gia làm đệ tử Phật không nên xem tăng đoàn là nơi chốn tỵ nạn hay là viện duỡng lão, đã là Tỳ kheo phải nên làm phận sự cho tròn...... "

     Nhờ vào tình thương của Đức Phật, tinh thần truyền thừa chánh pháp của các vị  Thánh tăng, các bậc Thầy tổ cùng với, những cư sĩ âm thầm là Tổ tiên ông bà trong mỗi giòng tộc đã góp phần cho việc lưu truyền, giữ gìn mối đạo, đem hạnh phúc an lành từ những lời giáo huấn của Đức Phật  mà trao truyền  cho thế hệ mai sau  là những gì vô cùng quý báu bởi các Ngài đã  thấu hiểu rõ ràng  những điều   lợi lạc nơi  đạo Phật cùng với bao nhiêu  oai lực, phuớc báu mà  Đức Phật  để lại. Vì vậy dù hơn hai ngàn năm trăm  trôi qua   sự tôn kính đối với Đức Phật cũng không hề mai một. Khi khoa học  phát triển đạo Phật càng được chứng minh rõ nét và con nguời càng cần đến đạo Phật nhiều hơn  Ngày nay  hầu như  trên toàn thế giới   hình ảnh của  Đức Phật ở khắp mọi nơi,như một thể loại trang trí   tôn vinh, làm đẹp cuộc đời  để mỗi   khi nhìn thấy hình ảnh của Ngài là nhìn thấy sự bình yên an lạc.

               Vừa thấy dung nhan Điều Ngự

              Trăm nghìn phiền não sạch không

                                         ( Thiền sư Nhất Hạnh )

    Ngoài những hình ảnh đẹp Đức Phật còn để lại một di sản phước báu lớn lao mà khi còn tại thế  Ngài đã giảng cho vua A Xà Thế nghe về hạnh  Sa môn quả  trong kinh Truờng bộ. Những ai  tu theo Phật hiểu biết thấu đáo, thực hành giáo pháp một cách nghiêm túc sẽ có hạnh phúc,an lạc tức thời . Những ai biết  xả bỏ mọi thứ  xuất gia làm thầy Sa môn theo Phật lại càng có nhiều phước báu hơn. Về  tinh thần   luôn đuợc  thanh tịnh, an ổn về  đời sống thân mạng cũng không còn phải lo âu ,điều mà ai cũng biết việc nuôi thân mạng  cũng là  một trong những  nỗi lo lớn nhất đời nguời.

   Ngày truớc  trong mỗi làng thôn VN đều có những ngôi chùa, mà cho dù  cuộc sống dân sinh  bên ngoài  có  khó khăn thiếu thốn thế nào  thì ở trong chùa cũng vẫn có cơm rau dưa muối là  nhờ nơi lòng tôn kính  đối với Đức Phật mà các vị Sư Thầy thường được cấp dưỡng đủ đầy tứ vât dụng , ngoài ra nhiều nơi chùa còn có đất cúng dường hoặc  được nhà nuớc  cấp cho để  canh tác vì vậy nhiều gia đình đông con hay nghèo khó trong làng  thường đem con cháu gởi vào chùa để  con cháu đỡ khổ cực lại còn có cơ hội được  học hành tử tế và đây cũng là cơ may cho đạo pháp vì nhờ vậy mà  nhiều  vị Tăng tài giỏi đã được đào tạo trong những hoàn cảnh này.Ngày nay thì  mọi thứ đã  thay đổi  nhiều khi  xã hội phát triển , cuộc sống vật chất thăng hoa, con nguời giàu có hơn lên. các Chùa  các  Tự viện cũng theo đó được xây dựng nhiều hơn.Nhìn  về hình thức thì dường  như đạo pháp  đang thời kỳ hưng thịnh mà thực chất cũng đang  đánh mất dần những  hình ảnh đẹp của các vị  bần tăng chân tu đạo hạnh mà nay thật   hiếm khi còn bắt gặp. Tuy vậy  dù  phát triển theo hình thái nào đi nữa  thì  đạo Phật nguyên thủy  vẫn là đạo của sự tự do, không  hề có chủ trương nắm giữ linh hồn , không làm cho con nguời phải bị nô lệ tinh thần  hay sợ hãi bởi Đức Phật luôn xem mình là người thầy chỉ đường còn nguời  Phật tử chân chính thì không  nhìn về Ngài  như vị thần linh, đầy quyền năng huyền bí  mà   trong  những giây phút sau cùng truớc khi từ giã  các hàng tứ chúng đệ tử  của Đức Phật  Ngài A Nan có hỏi

     _  Bạch Đức Thế Tôn, khi Ngài Niết bàn rồi chúng con biết nuơng tựa vào đâu?.

    Đức Phật dạy

     _ Này A nan hãy lấy giáo pháp và giới luật làm thầy, hãy nương tựa nơi chính  mình, không ngoài ai khác

     Những lời  di huấn tối hậu chỉ giản đơn như thế  đã thể hiện trọn vẹn tất cả  những gì  Đức Phật muốn nhắn nhủ  chúng sanh, mỗi người  có con đường riêng  mà  cuộc đời  thì vô cùng ngắn ngủi rồi sẽ qua đi. Biết  nương theo con  đường Phật chỉ dẫn sẽ  không còn lo âu sợ hãi vì  vô thường là định luật tự nhiên. Khổ đau, mất mát là những điều không sao tránh khỏi khi đã làm  người  trong  bài kinh tuyệt diệu Tứ diệu đế  mà Đức Phật đã giảng. Vậy nên hạnh phúc thay khi  hình ảnh  Đức Phật vẫn  còn đây, giáo pháp, giới luật vẫn  còn đây là vẫn còn đây  người thầy chỉ đường sáng suốt .Không chạy theo đám đông hay xu hướng  phong trào bởi tìm kiếm  bên ngoài hay nương tựa nơi kẻ khác, chắc hẳn con đường an lạc sẽ còn rất xa.

                                                                             Xuân Ất Mùi  2015

                                                                                    Nam Phương.

                         

 

 

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập