Trang chủ Phật Pháp Verse 6 – Kệ Ngôn 6 (Kinh Pháp Cú - Song Ngữ)

Verse 6 – Kệ Ngôn 6 (Kinh Pháp Cú - Song Ngữ)

Đã đọc: 1           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

The Story of Kosambi Bhikkhus Tích các Tỳ khưu ở Kosambi

 

 

pare ca na vijānanti mayametha  yamāmase,

 ye ca tattha vijānanti tato sammanti medhagā 

 

 

 

 

Và người khác không biết

      Chúng ta đây bị hại

         Chỗ ấy, ai hiểu được

 Tranh luận được lắng êm.

 And the others do not realize

 “We in this world must all die,”

 those who understand this,

 thereupon (their) quarrels cease.

                     (TK Thích Minh Châu)           

 

Story                                                        Tích truyện

While residing at the Jetavana monastery in Sāvatthi, the Buddha uttered Verse 6, with reference to the bhikkhus of Kosambi.

 

        The bhikkhus of Kosambi had formed into two groups. One group followed the master of Vinaya  and the other followed the teacher of the Dhamma and they were often quarreling among themselves. Even the Buddha could not stop them from quarrelling; so He left them and spent the vassa, residence period of the rains, all alone in Rakkhita Grove near Pālileyyaka forest. There, the elephant Pālileyya waited upon the Buddha.

 

The lay disciples of Kosambi, on learning the reason for the departure of the Buddha, refuse to make offerings to the remaining bhikkhus. This made them realize their mistakes and reconciliation took place among themselves. Still, the lay disciples would not treat them as respectfully as before, until they owned up their fault to the Buddha. But the Buddha was away and it was in the middle of the vassa; so the bhikkhus of Kosambi spent the vassa in misery and hardship.

 

At the end of the vassa, the Venerable Ānanda and five hundred bhikkhus approached the Buddha and gave the message from Anāthapiṇḍika and other lay disciples imploring him to return.

 

In due course the Buddha returned to the Jetavana monastery in Sāvatthi. The bhikkhus followed Him there, fell down at His feet and owned up their fault. The Buddha rebuked them for disobeying Him. He told them to remember that they must all die some day and therefore, they must stop their quarrels and must not act as if they would never die.

 

Then the Buddha spoke in verse as above.

Khi đang ngụ tại tịnh xá Jetavana ở thành Sāvatthi, Đức Phật đã nói lên bài Kệ Pháp Cú 6 , nội dung đề cập đến các tỳ khưu thành Kosambi.

 

      Các tỳ khưu ở Kosambi chia thành hai nhóm. Một nhóm theo vị thông suốt Tạng Luật – Luật sư , nhóm kia theo vị chuyên thuyết Pháp– Pháp sư và giữa họ thường có sự tranh cãi.  Ngay cả Đức Phật cũng không thể ngăn họ dừng tranh luận; thế nên Ngài rời bỏ họ và nhập hạ, an cư mùa mưa một mình ở khu rừng nhỏ Rakkhita, gần rừng Pālileyyaka. Nơi đó, có tượng Pālileyya hộ độ cho Ngài.

 

Những thiện tín ở Kosambi khi biết được lý do Đức Phật ra đi, họ từ chối cúng dường các tỳ khưu còn lại. Điều này khiến các tỳ khưu nhận ra lỗi lầm và tự hòa giải với nhau. Tuy vậy, những thiện tín không còn kính trọng họ như trước kia, cho đến khi họ sám hối lỗi lầm của mình với Đức Phật. Nhưng Ngài đã đi vắng và chưa mãn hạ, nên các tỳ khưu Kosambi sống mùa an cư  đầy khó khăn và khổ cực.

 

 

Cuối mùa an cư, Tôn giả Ānanda và năm trăm Tỳ khưu đến gặp Đức Phật và gởi lời thỉnh cầu Đức Phật trở về của  ngài Anāthapiṇḍika (Cấp-cô-độc) và các thiện tín khác.

 

Đến hạn Đức Phật trở về Jetavana tịnh xá ở kinh thành Sāvatthi.  Chư Tăng theo Ngài đến tịnh xá, quỳ dưới chân Ngài và xin sám hối lỗi lầm của họ. Đức Phật quở trách tội không vâng lời. Ngài dạy họ hãy nhớ rằng một ngày kia tất cả phải chết và thế nên, họ phải biết ngừng tranh cãi và không được xử sự cứ như họ sẽ không bao giờ chết.

 

 

Đức Phật nói lên bài kệ được đề cập ở trên.

 

Vocabulary

1

 

2

 

3

 

4

 

5

6

7

8

9

10

 

11

 

12

13

quarrel (v/n)

 

the master of Vinaya

 

the teacher of the 

Dhamma

vassa, the rainy

season

Dhamma

to wait upon

to make offerings

reconciliation (n)

to take place

lay disciples

 

to own up

fault (n)

Anāthapiṇḍika

in due course

[‘kwɔrəl]

 

 

 

 

 

 

 

[weit]

 

[,rekənsili‘ei∫n]

[dis’saibl]

 

 

 

[oun ʌp]

[fɔ:lt]

 

tranh cãi,

sự tranh luận

Luật sư - vị thông suốt

Tạng Luật

Pháp sư - vị chuyên

thuyết Pháp

mùa an cư, mùa mưa

 

Giáo pháp

hộ độ

cúng dường

hòa giải

happen; xảy ra

những thiện nam

tín nữ

sám hối

tội lỗi

Ngài Cấp-cô-độc

trong thời gian (mùa an cư)

(Lê Thị Kim Dung. Email: kimdungav1@gmail.com )

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

5.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Được quan tâm nhất

Đăng nhập