Trang chủ Phật Pháp Từ Bi Là Suối Nguồn Yêu Thương Vô Hạn Trong Cuộc Đời Đầy Phong Sương Và Gió Bụi Này

Từ Bi Là Suối Nguồn Yêu Thương Vô Hạn Trong Cuộc Đời Đầy Phong Sương Và Gió Bụi Này

Đã đọc: 1297           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

                                                                           

Tất cả những lời dạy của đức Phật được biểu hiện trong các truyền thống khác nhau như nguyên thủy và đại thừa, tất cả phân chia đều dựa trên một đặc tính duy nhất là nền tảng cơ bản của từ bi. Tuy nhiên, có sự khác biệt nhỏ trong việc nhấn mạnh. Ví dụ, theo Phật giáo đại thừa, từ bi mà chúng ta nói đến không chỉ là nguyện vọng thấy những chúng sanh khác thoát khỏi khổ đau, mà còn thực sự phải có trách nhiệm cao cả. Hành giả phải nhiệt tâm gánh vác trách nhiệm với chính họ khiến hạnh nguyện trở nên có tính chất xác thực. Đây là dặc điểm duy nhất trong từ bi của Phật giáo đại thừa, tình thương cao cả vô bờ.

          Khi nói về từ bi, tôi nghĩ rằng điều quan trọng là chúng ta không nên nhầm lẫn từ bi với lòng thương hại. Trong kinh nghiệm chính xác về từ bi, không có cảm giác cao hơn hoặc thấp hơn với đối tượng của từ bi. Điều này thường xảy ra trong tình trạng có lòng thương hại hướng về một ai đó rơi vào hoàn cảnh bất hạnh. Từ bi đích thực là một trạng thái của tâm, nơi chúng ta thực sự nhìn đối tượng của từ bi là quan trọng nhất giống như trong tác phẩm Tám Thi Kệ Luyện Tâm đã chỉ rõ “nguyện cho con thấy được tất cả chúng sanh đều trở nên quan trọng nhất từ trong chính đáy sâu của tâm hồn mình”.

          Để nuôi dưỡng cảm giác từ bi mãnh liệt như vậy, cần có một cảm giác thâm tình hoặc thân mật. Cảm giác đồng điệu hướng về người khác không bị nhầm lẫn với chấp thủ. Cảm giác thân thiết này không nên thiên vị,  mà, trên cơ bản, cần phải phổ biến lan rộng đến tất cả chúng sanh. Một cảm giác mạch lạc như vậy, tính khắng khít xác thực đối với những chúng sanh khác, có thể khởi lên trong tạng thái thông thường của tâm mình, nơi chúng ta có thái độ phân biệt hướng đến kẻ thù, bạn bè và những bình thường xung quanh mình. Chìa khóa để nuôi dưỡng cảm giác khắng khít chân thực và mạch lạc này với những chúng sanh khác là phải phát triển ý thức thương mến đói với tất cả chúng sanh khác.

          Ở đây, có hai phương pháp khác nhau được đề cập tới. Phương pháp thứ nhất là việc tiếp cận trao đổi và hòa mình với người khác giống như trong nguyên văn của tác phẩm Nhập Bồ Tát Hạnh đã trình bày. Phương pháp thứ hai là phải nuôi dương cách nhìn về tất cả chúng sanh giống như người yêu quý nhất với chúng ta được biểu tượng người mẹ của mình hoặc như một ai đó mà chúng ta xem là suối nguồn yêu thương cao cả nhất. Bằng cách này, chúng ta nuôi dưỡng cảm giác thân mật hướng về đối tượng từ bi của chính mình.

          Bây giờ, tôi sẽ giải thích vắn tắt về sự tiếp cận trao đổi và dung hòa giữa chính mình và người khác. Giai đoạn thứ nhất trong sự tiếp cận này là phải nuôi dưỡng tính bình thản đối với tất cả chúng sanh. Ở đây, bản chất của tính bình thản đối với tất cả chúng sanh trong phạm vi này là phải nuôi dưỡng hiểu biết đến mức hạnh nguyện chỉ tìm thấy hạnh phúc và tránh xa khổ đau, chứ không có sự khác biệt nào giữa bản thân mình với người khác. Trong phạm vi này, những gì chúng ta đang cố gắng thực hiện là phải nuôi dưỡng quán chiếu như chính bản thân mình, tất cả những chúng sanh khác đều vô biên như hư không, về cơ bản, tất cả chúng ta đều có bản năng mong muốn tìm kiếm hạnh phúc và tránh xa khổ đau. Tuy nhiên, trên thực tế, chúng ta thường xuyên đối mặt với khổ đau và luôn luôn thiếu vắng hạnh phúc mà mình tìm kiếm.

          Tương tự, đúng như chính bản thân tôi có bản chất, tiềm năng, để loại bỏ khổ đau, tất cả chúng sanh cũng có tiềm năng này. Như tôi có Phật tánh, nền tảng của giác ngộ, tương tự, tất cả chúng sanh cũng có Phật tánh. Hơn nữa, như tôi có tiềm năng để phát triển hiểu biết đích thực về tánh không, bất luận khó khăn thế nào xảy ra đới với tôi, tương tự, tất cả chúng sanh khác cũng có tiến trình khó khăn to lớn giống như chính bản thân tôi.

          Một trong những phương pháp thực tập tâm bồ đề mà các hành giả đang nổ lực đạt được là phải nuôn dưỡng và phát huy lòng vị tha trong chính bản thân họ. Trên thực tế, lòng vị tha đối với hành giả thực hiện tâm bồ đề theo Phật giáo là nguồn gốc của tất cả các điều lành. Nó là suối nguồn của tất cả các thiện pháp. Lòng vị tha không thể được đề cao hoặc hoàn toàn phát triển nếu không có một số phương pháp thực tập hoặc rèn luyện. Trở ngại lớn nhất đối với điều này là những cảm giác tiêu cực của chúng ta chẳng hạn như tức giận và sân hận. Do đó, nó trở nên mối họa cho hành giả thực tập tâm bồ đề khi tìm kiếm cách giải quyết và vượt qua sân hận. Mặt khác, điều này chỉ có thể đạt được qua việc rèn luyện và thực tập. Ở đây, phương pháp thực tập chủ yếu là nuôi dưỡng, phát huy lòng khoan dung và tính kiên nhẫn. Hơn nữa, điều này chỉ xuất hiện thông qua việc thực tập và rèn luyện. Ở đây, nếu không có ai khiêu khích hoặc sự có mặt của kẻ thù mang lại những phản ứng tiêu cực cho mình, thì chúng ta không có cơ hội để phát huy việc thực tập lòng khoan dung và tính kiên nhẫn. Vì vậy, nếu nhìn từ quan điểm này, thì sự có mặt của kẻ thù sẽ trở nên ngồn cảm hứng to lớn và chỉ dạy nhiều đến mức thay vì thức giận họ, chúng ta nên cảm thấy biết ơn vì họ đã tạo cơ hội cho mình thực tập kiên nhẫn. Đây là thái độ mà chúng ta cần phải phát huy.

          Trong phạm vi này, tôi thực sự cảm thấy vô cùng khâm phục các thái độ tâm linh của dòng truyền thừa Kadampa[1]. Một số vị thầy thuộc dòng truyền thừa Kadampa nói: “tôi xem trọng những chỉ trích của con người chứ không phải những lời ca tụng của họ. Lời khen ngợi chỉ làm tăng thêm tính tự hào và kiêu ngạo của tôi trong khi sự chỉ trích sẽ cho tôi cái nhìn sâu sắc vào những khuyết điểm và sai lầm của tôi”. Tương tự, các vị thầy thuộc dòng truyền thừa Kadampa cũng cho rằng: “tôi xem trọng những thử thách và khó khăn bởi vì nhờ vậy mà tôi sẽ kinh qua kết quả của những hành động tiêu cực của mình trong khi nếu chỉ trãi nghiệm cuộc sống vui sướng, thì tôi sẽ làm suy yếu đi những kết quả tích cực của nghiệp”. Các thái độ này mang lại một trí lực chắc chắn, một sức mạnh của ý chí thực sự kỳ diệu đối với hành giả thực tập giáo pháp. Những phương thức thực tập như vậy được xem là chuyển hóa nghịch cảnh thành các điều kiện thuận lợi.

          Trên thực tế, chúng ta vốn có thể chứng tỏ rằng: cho đến nay, những kẻ thù của mình quan tâm tới, thay vì họ trở nên đối tượng của tức giận hoặc bực bội, sự phản ứng thích hợp nên cần phải có từ bi đối với họ. Như ngài Thánh Thiên đã tuyên bố trong tác phẩm Bốn Trăm Kệ Trung Đạo: đức Phật không nhận thấy kẻ thù là kẻ thù mà ngài thấy các vọng tưởng trong chính họ là kẻ thù thực sự. Nếu hiểu biết về cách thực tập giáo pháp của mình là đúng đắn, thì chúng ta sẽ có cảm giác tin tưởng sâu sắc rằng kẻ thù đích thực của chính mình là các vọng tưởng nằm trong bản thân chúng ta. Do đó, khi đối mặt với tình huống bị tổn thương do người khác gây nên cho mình, thay vì cảm thấy tức giận, chúng ta nên tỏ ý thương cảm hướng về họ. Họ đang rơi vào một tình trạng bất hạnh vì bị quyền lực hoặc sự điều khiển của các vọng tưởng chi phối.

          Khi suy nghỉ theo các phương châm này, chúng ta bắt đầu thấu hiểu những ngụ ý được nhấn mạnh trong lời cầu nguyện của Lama Tông Khách Ba, “con nguyện nuôi dưõng dũng khí và thái độ thân thiện đối với những người tiếp tục gây tổn thương cho con”. Chúng ta bắt đầu cảm kích những ý tưởng này. Tất nhiên, tôi không cho rằng những cách thực tập ấy là một điều gì đó đơn giản hoặc dễ dàng đạt được; tuy vậy, trên thực tế, qua luyện tập, chúng ta có thể trở nên quen thuộc với trí lực này và có một số kinh nghiệm thân thiết với loại ý tưởng đó. Giống như ngài Tịch Thiên đã nói “không có điều gì không thể được thực hiện dễ dàng qua sự hiểu biết và rèn luyện”.

          Tôi có thể cho bạn biết từ kinh nghiệm của chính bản thân tôi, mặc dù không cho rằng mình có những nhận thức tối cao về tâm bồ đề và quan điểm tánh không, nhưng tôi bảo đảm với bạn rằng trong một ít kinh nghiệm của mình, qua rèn luyện và hiểu biết kiên định, chúng ta có thể bắt đầu thấy rõ biến đổi thực sự trong tâm mình. Tôi sẽ cho bạn biết về kinh nghiệm của riêng tôi, có lẽ nó mang lại lợi ích cho bạn như là một ví dụ điển hình. Thực chất, tôi cố bắt đầu thực tập lam-rim từ lúc 15 hoặc 16 tuổi. Khoảng chừng 25 tuổi, các sự kiện xảy ra khiến tôi rời khỏi Tây Tạng và đến tị nạn ở Ấn Độ. Khoảng 30 tuổi, tôi bắt đầu nghiêm túc thực tập về tánh không. Như một kết quả trong sự thực tập bền vững về tánh không, tôi bắt đầu cảm thấy giải thoát hoặc niết bàn vốn là khả năng thực sự. Vì thế, tôi đã phát huy hạnh nguyện mãnh liệt để tìm kiếm giải thoát hoặc niết bàn.

          Tuy nhiên, điều thú vị tại thời điểm đó, ước nguyện của tôi là nếu đạt được giải thoát, thì tôi có thể thực sự nghỉ ngơi lâu dài. Mặc dù vô cùng ngưỡng mộ tâm bồ đề, tôi vẫn chưa bao giờ thực sự nắm bắt nó làm năng lực cho chính mình như một điều gì đó tôi có thể nhận thức trong tự thân. Nguyện vọng của tôi về giải thoát vốn hơi ích kỉ. Khoảng chừng 35 tuổi, tôi bắt đầu nghiêm túc thực tập tâm bồ đề, tâm giác ngộ. Tôi cảm thấy xúc động và có ảnh hưởng sâu sắc bởi sự thực tập này. Bây giờ, ngay khi nói về tâm bồ đề, tôi nhận thấy có một cảm giác thân mật hoặc quen thuộc kỳ lạ. Xin đừng hiểu lầm, tôi không cho rằng mình trở thành Bồ-tát. Tôi cũng không nói mình đã nhận thức rõ tánh không.

Vấn đề tôi đang đề cập tới ở đây bằng cách nêu ví dụ này cho bạn là chứng tỏ rằng mọi thứ có thể thay đổi, chúng ta thực sự có những kinh nghiệm và nhận thức. Ngoài ra, vấn đề khác trong câu chuyện này là cho thấy yếu tố thời gian. Cách thực tập, sự thay đổi đích xác, đều dựa vào thời gian. Chúng ta cũng nên hiểu rằng việc phát huy quan điểm trí năng là một phương diện, nhưng việc có được kinh nghiệm là một phương diện khác. Có lẽ nhiều người trong các bạn nhầm lẫn giữa quan điểm trí năng với kinh nghiệm.

          Trước hết, chúng ta phải phát huy hiểu biết thông qua việc học hỏi và lắng nghe. Quy suy nghiệm, chúng ta có một sự hiểu biết sâu sắc hơn. Thông qua thiền và thực tập, chúng ta đạt được cảm giác tin tưởng rằng nó có thể đưa đến kết quả và cảm giác tin tưởng sanh khởi. Qua thực tập, chúng ta có được một điểm nơi mà khi bạn thực sự nghĩ về nó, có một kết quả đích xác và thay đổi biểu hiện ngay lúc chúng ta ngừng biến chuyển hoặc không có mặt. Giai đoạn này được xem là có nhận thức hoặc kinh nghiệm mô phỏng. Qua sự thực tập sâu hơn, kinh nghiệp mô phỏng đòi hỏi nổ lực về phía chúng ta có thể lên đến cực điểm trong những gì được gọi là nhận thức tự phát nơi mà ý nghĩ đơn thuần về một điều gì đó lập tức sanh khởi kinh nghiệm. Không có bất cứ như cầu nào lâu hơn đối với sự nỗ lực có ý thức dựa trên phương diện của chúng ta. Khi một hành giả đã đạt được hạnh nguyện chân thật, rất tự nhiên, để nắm bắt giải thoát, thì tại thời điểm này, hành giả đã thâm nhập vào con đường thứ nhất của năm đạo lộ Giải thoát[2], con đường tích lũy (tư lương đạo).

          Tương tự, khi các hành giả đạt đến nhận thức tự nhiên, chân thực, chính xác về tâm bồ đề, thì họ đã thâm nhập vào con đường Đại thừa và thấy rõ tư lương đạo (con đường tích lũy). Như vậy, sau đó, hành giả Đại thừa sẽ tiến tới giai đoạn thứ hai của tư lương đạo, rồi đạt đến giai đoạn thứ ba và giai đoạn cuối cùng trong kiến đạo. Điều này khi đạt đến cực điểm trong nhận thức về tánh không tức là kiến đạo. Tới đây cũng chính là khi mười cấp độ của Bô-tát[3] bắt đầu hình thành.

          Như vậy, chúng ta có một con đường rất dài để đi tới. Đừng để bị lợi ích che mất theo cách nói của Mật tông về việc chứng đạt giải thoát, giác ngộ chỉ trong đời này. Khi còn trẻ, tôi nhớ đã trình bày quan điểm của mình với Lama Tathang Rinpoche, một trong những vị thầy giám hộ rằng con đường kinh luật dường như quá dài và gian khó, có lẽ tôi phải hy vọng theo con đường mật tông. Tôi nhớ mình bị Tathang Rinpoche la rầy vì việc che dấu ý tưởng như vậy. Ngài chỉ cho tôi biết người phù hợp thực tập theo Mật tông là người phải có lòng can đảm phi thường. Ngay cả khi người đó chờ đợi nhiều kiếp để chứng đạt giác ngộ hoàn toàn, có một cảm giác đắm mình và tự nguyện sâu sắc. Đối với người như vậy, nếu con đường Mật tông được ứng dụng, thì có thể có hiệu quả. Nếu một người trở nên nhàm chán trong thời gian bị yêu cầu đi theo con đường kinh điển và rồi muốn thực hành theo mật tông bởi vì nó nhanh hơn, thì đây là một động lực sai lầm.

          Do đó, tôi nhận thấy có một đoạn trong tác phấm Nhập Bồ Tát Hạnh nói “miễn là hư không còn tồn tại, miễn là chúng sanh vẫn hiện hữu, con nguyện sống mãi trong đời này để xua tan những khổ đau của thế giới”, thật quá linh cảm và hùng mạnh. Đây là cách chúng ta nên rèn luyện tâm hồn của chính mình. Khi hành giả có khả năng nuôi dưỡng lòng từ bi chân thật đối với ngay cả kẻ thù của mình, thì sự chướng ngại lớn trên con đường thực tập đã được loại trừ. Đây là một bước đột phá rất quan trọng. Như vậy, ó thông qua một quá trình mà chúng ta nuôi dưỡng cảm giác quen thuộc và thân mật chính xác đối với tất cả chúng sanh.

          Hơn nữa, nó rất quan trọng để chinh phục hai thái độ:  tự yêu thương mình và ý tưởng yêu thương những chúng sanh khác, nhằm phân tích rõ sự tán thành và phản đối. Có phước đức gì trong những ý tưởng chỉ nuôn dưỡng yêu thương lợi ích của chính mình? Cho tới bây giờ, có thể nói rằng kể từ vô thủy, chúng ta đã ấp ủ trong mình những cái ác, ý nghĩ yêu thương bản thân và ý nghỉ bám chấp vào sự tồn tại đích thực của chính mình. Trong một ý nghĩa nào đó, có thể nói rằng chúng ta, cho tới bây giờ, đã tìm thấy sự bảo hộ từ hai thái độ này. Tuy nhiên, nếu thực sự chúng có khả năng khiến chúng ta trải qua và đạt được hạnh phúc giác ngộ, thì chúng có thể đã làm như vậy ngay bây giờ, bởi vì chúng có đủ thời gian mà!

          Khi suy nghĩ cẩn thận về cuộc sống của mình, thì dường như chúng ta đang mò mẫm trong bóng tối không có mục đích. Nếu đảo ngược cách suy nghĩ thông thường của mình, thì chúng ta tìm thấy tình bằng hữu trong hạnh nguyện vị tha để hun đúc hạnh phúc của người khác và trí tuệ nhận thức tánh không thay vì chỉ có tình bằng hữu trên phương diện bám chấp và yêu thương vị kỉ. Mặc dù thực sự không có bất cứ kinh nghiệm nào trong lãnh vực này, nhưng chúng ta có thể lấy ví dụ điển hình từ các bậc vĩ nhân như Long Thọ và những vị đạo sư với lòng từ nổi tiếng ở Ấn Độ trong quá khứ. Nếu nhìn vào những câu chuyện về cuộc sống của họ, chúng ta có thể cảm thấy đủ để tin rằng đời họ biểu hiện sức mạnh của lòng vị tha, năng lực của cách sống khoan dung và hướng đến người khác nhiều hơn, cách sống độ lượng.

          Trong trường hợp cá nhân tôi, khi nghĩ về cách sống của chính mình, tôi cảm thấy một chút sức mạnh của tâm mà mình có, không xuất phát từ danh xưng Dalai Lama, cũng không xuất phát từ sự có mặt của tôi như một vị tỳ kheo hoàn toàn được phong danh tước. Đúng ơn, tôi nghĩ nguồn gốc sức mạnh đích thực nằm trong sự tán dương và miên mật của tôi đối với việc thực tập lòng khoan dung như tâm bồ đề và niềm tin của tôi trong giá trị đích xác về tánh không. Tôi cảm thấy rằng có những nguồn xác thực trong bất cứ sức mạnh nào mà mình sở hữu là thuộc về cá nhân.

          Năng lực vượt trội hơn của chúng ta đới với tính cao thượng hơn của lòng vị tha là chúng ta phải phát huy tâm hồn và sự nhiệt huyết tốt đẹp của mình. Đây là cách mà hạnh nguyện vị tha đích thực tìm kiếm hạnh phúc cho tất cả chúng sanh khởi lên trong chúng ta. Sau đó, điều này sẽ có thể tạo nên ý nghĩ chứng đạt Phật tánh vì lợi ích của tất cả chúng sanh. Hơn nữa, trên thực tế, cho đến khi dạt được giác ngộ hoàn toàn, chúng ta mới có thể mang lại hạnh phúc cho tất cả chúng sanh khác một cách trọn vẹn, nếu không, chúng ta sẽ bị các giới hạn của bản thân mình cản trở. Do vậy, để hoàn toàn mang lại hạnh phúc cho những chúng sanh khác, trước hết, chúng ta phải giải thoát chính mình ra khỏi tất cả những trở lực và chướng ngại. Sau đó, chúng ta có thể dùng tiềm năng của chính mình để trợ giúp tất cả chúng sanh. 

 



[1] Dòng truyền thừa Kadampa của Phật giáo Tây Tạng xuất hiện trong thế kỷ mười một vô cùng tích cực và sáng tạo. Trường phái này do Đạo sư Ấn Độ Atisha (982-1054) sáng lập. Ngài đến Tây Tạng năm 1042. Mặc dù trường phái này không tồn tại thật bền vững như một truyền thống độc lập, nó đã thâm nhập vào các trường phái khác và vì thế để lại một ảnh hưởng lâu dài.

 

[2] Năm đạo lộ giải thoát:

  1. Tư lương đạo (zh. 資糧道, sa. sabhāra-mārga), tức là tích trữ lương Phật đạo, trì Giới, Nhiếp căn, tu tập Chỉ, Quán;
  2. Gia hạnh đạo (zh. 加行道, sa. prayoga-mārga), ở đây có nghĩa là chuẩn bị, tu tập như trên để những thiện căn vững chắc, trở thành thiện căn bản (sa. kuśalamūla);
  3. Kiến đạo (zh. 見道, sa. darśana-mārga), cũng được gọi là Thông đạt đạo;
  4. Tu tập đạo (zh. 修習道, sa. bhāvanā-mārga), thực hành 37 Bồ-đề phần;
  5. Vô học đạo (zh. 無學道, sa. aśaika-mārga), có nghĩa là đến bờ bên kia, không còn gì để học, cũng được gọi là Cứu cánh đạo (zh. 究竟道, sa. niṣṭhāmārga), tức là đạo tột cùng, đạo tuyệt đối đoạn hoặc, chứng ngộ chân lí.

 

12. Mười cấp độ của Bồ-tát cũng được gọi là Mười địa của Bồ-tát, được hệ thống như sau:

Hoan Hỉ địa (zh. 歡喜地, sa. pramuditā-bhūmi): Đắc quả này Bồ Tát rất hoan hỉ trên đường Giác ngộ (sa. bodhi). Bồ Tát đã phát Bồ-đề tâm và thệ nguyện cứu độ tất cả các chúng sinh thoát khỏi Luân hồi (sa. sasāra), không còn nghĩ tới mình, Bố thí (sa. dāna) không cầu phúc và chứng được tính Vô ngã (sa. anātman) của tất cả các Pháp (sa.dharma).

Li Cấu địa (zh. 離垢地, sa. vimalā bhūmi): Bồ Tát giữ Giới (sa. śīla) và thực hiện thiền định (sa. dhyāna, samādhi).

Phát Quang địa (zh. 發光地, sa. prabhākārī bhūmi): Bồ Tát chứng được quy luật Vô thường (sa. anitya), tu trì tâm Nhẫn nhục (sa. kṣānti) khi gặp chướng ngại trong việc cứu độ tất cả chúng sinh. Để đạt đến cấp này, Bồ Tát phải diệt trừ ba độc là tham, sân, si, thực hiện được bốn cấp định an chỉ (sa. dhyānaTứ thiền) của bốn xứ và chứng đạt năm thành phần trong Lục thông (sa. abhijñā).

Diệm Huệ địa (zh. 燄慧地, sa. arcimatī bhūmi): Bồ Tát đốt hết tất cả những quan niệm sai lầm, tu tập trí huệ, Bát-nhã (sa. prajñā) và 37 Bồ-đề phần (sa. bodhipākika-dharma).

Nan Thắng địa (zh. 極難勝地, sa. sudurjayā bhūmi): Bồ Tát nhập định, đạt trí huệ, nhờ đó liễu ngộ Tứ diệu đế vàChân như, tiêu diệt nghi ngờ và biết phân biệt. Bồ Tát tiếp tục hành trì 37 giác chi.

Hiện tiền địa (zh. 現前地, sa. abhimukhī bhūmi): Bồ Tát liễu ngộ mọi pháp là vô ngã, ngộ lí Duyên khởi với mười hai nhân duyên và chuyển hoá trí phân biệt thành trí bát-nhã, nhận thức tính Không Trong xứ này, Bồ Tát đã đạt đến trí tuệ Bồ-đề (sa. bodhi) và có thể nhập Niết-bàn thường trụ (sa. pratiṣṭhita-nirvāṇa). Vì lòng từ bi đối với chúng sinh, Bồ Tát lưu lại trong thế gian, nhưng không bị sinh tử ràng buộc, đó là Niết-bàn vô trụ (sa. apratiṣṭhita-nirvāa).

Viễn Hành địa (zh. 遠行地, sa. dūragamā bhūmi): đạt tới cảnh giới này, Bồ Tát đầy đủ khả năng, có mọi phương tiện (sa. upāya) để giáo hoá chúng sinh. Đây là giai đoạn mà Bồ Tát tuỳ ý xuất hiện trong một dạng bất kì.

Bất Động địa (zh. 不動地, sa. acalā bhūmi): trong giai đoạn này, không còn bất kì cảnh ngộ gì làm Bồ Tát dao động. Công phu tu tập được thực hiện một cách vô ngại. Theo kinh Giải thâm mật thì những phiền não vi tế nhất cũng bị diệt trừ ở đây.

Thiện Huệ địa (zh. 善慧地, sa. sādhumatī bhūmi): Trí huệ Bồ Tát viên mãn, đạt Thập lực (sa. daśabala), Lục thông(sa. ṣaḍabhijñā), Tứ vô sở uýBát giải thoát. Biết rõ cơ sở mọi giáo pháp và giảng dạy giáo pháp.

 

Pháp Vân địa (zh. 法雲地, sa. dharmameghā bhūmi) (hay Pháp Vũ địa): Bồ Tát đạt Nhất thiết trí (sa. sarvajñatā), đại hạnh. Pháp thân của Bồ tát đã đạt tới mức viên mãn. Bồ Tát ngự trên toà sen với vô số Bồ Tát chung quanh trong cung trời Đâu-suất. Phật quả của Bồ Tát đã được chư Phật ấn chứng. Những Bồ Tát đạt cấp này là Di-lặc (sa.maitreya), Quán Thế Âm (sa. avalokiteśvara) và Văn-thù-sư-lợi (sa. mañjuśrī).

 

                


Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

5.00

Đăng nhập