Phong cách thiền nhập thế siêu việt của Tuệ Trung Thượng Sĩ

Đã đọc: 428           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Nói tới tư tưởng thiền của Tuệ Trung Thượng Sĩ, Thiền sư Thanh Từ cho rằng: “Phong cách thiền của Thượng Sĩ quá siêu việt, không kẹt mắc trong hình thức đối đãi sai biệt. Với tinh thần siêu phóng qua lối đối cơ ứng đáp và thơ tụng của ngài ta thấy sự hiện lộ không thiếu vắng chỗ nào”. Còn với HT Thích Minh Tuệ thì nhận định: “Tất cả thi tụng của Thượng Sĩ hầu như bài nào cũng toát lên tư tưởng thiền. Qua 49 bài tụng được thể hiện trong (Ngữ Lục) đều ôm chứa tinh thần thiền nhập thế kỳ lạ vượt qua mọi kiến chấp để đạt tới bến bờ giải thoát rốt ráo”.

Tìm hiểu về tư tưởng thiền đời Trần, từ xưa đến nay các tổ thầy và học giả khi nghiên cứu về thiền Phật giáo nói chung và phái thiền nhập thế Trúc lâm Yên Tử đều không ai bỏ qua một gương mặt (cư sĩ) Phật giáo cự phách đó là Tuệ Trung Thượng Sĩ.

Không xuất gia đầu Phật, sồng cùng thế tục, nhưng tinh thần thiền học khai phóng của Tuệ Trung Thượng Sĩ đã làm thay đổi (phá chấp) nhiều dòng thiền trước đó với nhiều hệ lụy, khiến cho không ít thiền sư, tăng sĩ đương thời khí ấy phải nể phục. Trong đó, có cả Trúc lâm Tam tổ đều có thơ tán thán. Với vua Trần Thái Tông vì cảm nghĩa cốt cách thiền nhập thế siêu việt của Tuệ Trung mà Thái Tông đã phong tước Thượng Sĩ Hưng Ninh Vương (1)

Nói tới tư tưởng thiền của Tuệ Trung Thượng Sĩ, Thiền sư Thanh Từ cho rằng: “Phong cách thiền của Thượng Sĩ quá siêu việt, không kẹt mắc trong hình thức đối đãi sai biệt. Với tinh thần siêu phóng qua lối đối cơ ứng đáp và thơ tụng của ngài ta thấy sự hiện lộ không thiếu vắng chỗ nào”. Còn với HT Thích Minh Tuệ thì nhận định: “Tất cả thi tụng của Thượng Sĩ hầu như bài nào cũng toát lên tư tưởng thiền. Qua 49 bài tụng được thể hiện trong (Ngữ Lục) đều ôm chứa tinh thần thiền nhập thế kỳ lạ vượt qua mọi kiến chấp để đạt tới bến bờ giải thoát rốt ráo”.

Để nhận diện phong cách thiền siêu việt của Thượng Sĩ, dưới đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu những tác phẩm trong Ngữ Lục và đôi nét sử liệu đã ghi nhận về Thiền gia cự phách này.

VÀI NÉT VỀ THÂN THẾ

Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) tên là Trần Quốc Tung, con đầu của Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương, tước hiệu của An Sinh Vương Trần Liễu do vua Trần Thái Tông ban, anh cả của Hoàng Thái Hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm vợ vua Trần Thánh Tông. Khi đại vương mất (1251), Trần Thái Tông cảm nghĩa phong Thượng Sĩ.

Thủa nhỏ, Thượng Sĩ đã có bản chất hùng hậu, cao sáng và kính mến đạo Phật. Khi lớn lên Thượng Sĩ được cử trấn đất Hồng La, tức Hải Dương bây giờ. Ông đã có công hai lần ngăn giặc Bắc (Nguyên) xâm lăng Đại Việt; sau được thăng chuyển chức Tiết Độ Sứ trấn hải đảo Thái Bình. Sau ông lại về ấp Tịnh Bang (nay thuộc huyện Vĩnh Lại làng Yên Quảng) đổi tên là làng Vạn Niên tức thuộc ấp của vua ban tự hiệu Tuệ Trung, vua Thánh Tông tặng là Thượng Sĩ và gọi bằng sư huynh. Ở đây ông có lập Dưỡng Chân Trang là nơi tu Thiền nói Đạo.

MỘT PHONG CÁCH THIỀN “PHÁ CHẤP” KHOÁNG ĐẠT

Về con người của Tuệ Trung Thượng Sĩ, đương thời thiền sư Pháp Loa Đệ nhị tổ Trúc lâm đã có lời tán thán: “Thượng Sĩ vốn khí lượng thâm trầm, phong thần hòa nhã. Thượng Sĩ yêu chuộng cửa không từ lúc còn để chỏm”. Qua tìm hiểu nghiên cứu về Thượng Sĩ, thiến sư Thanh Từ cũng cho rằng “Phong cách Thượng Sĩ quá siêu việt, không kẹt mắc trong hình thức đối đãi”. Nhờ sớm ngộ lý thiền, không câu nệ khái niệm thiên chấp, đây là thứ trở ngại cho con đường thể nhập lý sắc, thế nên Thượng Sĩ đã tự tại trong mọi tình huống. Để chứng minh cho tinh thần này, theo sử liệu được biết: “…Một hôm Thái Hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm mở tiệc mời Thượng Sĩ vào cung dự, thức ăn trên bàn có cả chay và mặn. Thượng Sĩ đã ăn thịt. Hoàng Hậu hỏi “Anh tu thiền mà ăn thịt, làm sao thành Phật được? Thượng Sĩ trả lời: “Phật là Phật, anh là anh, anh không cần thành Phật, Phật không cần thành anh”. Em chẳng nghe cổ đức nói: “Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát đó sao?”. Nhân chuyện này, vua Trần Nhân Tông cho là lạ, có dịp đã hỏi Thượng Sĩ:

-Chúng sinh quen cái nghiệp ăn thịt uống rượu làm thế nào thoát khỏi tội báo?

Thượng Sĩ đáp:

“-Nếu có người đứng xây mặt lại, thình lình có vua đi qua sau lưng, người kia không biết hoặc cầm vật gì ném vào vua, người ấy sợ không? Ông vua có giận không? Như thế biết rằng hai việc không dính dấp gì nhau.

Nói xong Thượng Sĩ đọc hai bài kệ như sau:

“Vạn pháp vô thường cả

Tâm ngờ tội liền sanh

Xưa nay không một vật

Chẳng hạt, chẳng mầm xanh.

Hằng ngày khi đối cảnh

Cảnh đều do tâm sanh

Tâm, cảnh đều không tịch

Khắp chốn tự viên thành”.

                      (Nguyễn Lang dịch)

Tháng hai năm 1287, Thái Hậu qua đời, vua Thánh Tông cúng dường trai tăng ở trong cung, thỉnh nhiều vị tôn túc Trưởng lão đến dự, có mời Thượng Sĩ đồng dự. Vua Trần Thánh Tông thỉnh các vị tôn túc làm một bài kệ trình kiến giải, kết quả bài kệ nào cũng “lúng sình ủng nước”. Vua trao giấy mực cho Thượng Sĩ. Thượng Sĩ viết liền một bài kệ dịch như sau:

“Kiến giải trình kiến giải

Tợ dụi mắt thấy quái

Dụi mắt thấy quái rồi

Rõ ràng thường tự tại”

                     (Nguyễn Lang dịch)

Đọc xong, đắc ý vua Thánh Tông họa kệ:

“Rõ ràng thường tự tại

Cũng dụi mắt thấy quái,

Thấy quái chẳng thấy quái

Quái ấy ắt tự hoại”.

                    (Nguyễn Lang dịch)

Với những đối cơ trên ta thấy, con người Thượng Sĩ đã tỏa sáng chất thiền, tự tại trước mọi hoàn cảnh, xứng đáng với hiệu Thượng Sĩ vua ban. Về sau, Pháp Loa cũng làm kệ ca ngợi khí chất con người Tuệ Trung Thượng Sĩ như thế này:

“Á!

Gang ròng nhồi lại

Sắt sống đúc thành

Thước trời, tấc đất

Gió mát trăng thanh

Ôi!

                        (Nguyễn Lang dịch)

Về mặt tư tưởng, vì con người đã tràn đầy khí phách khoáng đạt như thế, nên trong mỗi ngữ ngôn, cử chỉ, tư duy của Thượng Sĩ ta đều thấy toát lên khí thiền và phong cách nhập thế của Phái thiền Trúc lâm qua chân dung của Thượng Sĩ.

Quyển Thượng Sĩ Ngữ Lục do Pháp Loa chép và Trần Nhân Tông hiệu đính gồm có 4 phần, hai phần đầu ghi lại phương pháp khai thị của Thượng Sĩ theo truyền thống thiền tông. Đó là truyền thống vấn đáp dồn dập, khiến hành giả sinh nhiều nghi nạn, càng nghi thì càng giác thấy. Phần đầu của sách Ngữ Lục, Pháp Loa đặt tựa đề là “Đối ứng với cơ duyên”. Với tri thức thông thường, chúng ta không sao hiểu được ngôn ngữ đối đáp của các thiền sư qua các vấn đề đặt ra về thiền như đối nghịch nhau, không ăn nhập gì với nhau. Thế nhưng với thiền sư đặt vấn đề và thiền sinh (trả lời) đáp án, họ thông hiểu tâm tông của nhau một cách trọn vẹn, cuối cùng người được khai thị bừng ngộ.

Một phương pháp khai thị trong truyền thống thiền tông mà người ta hay nói tới nữa là: Tham cứu công án thoại đầu. Suốt cả cuộc đời hoằng hóa, Thượng Sĩ đã nhiều lần trao cho các đệ tử công án thoại đầu. Pháp Loa ghi lại trong Ngữ Lục có 13 công án. Hành giả vận dụng tất cả tư duy vào công án đã được đặt ra cho đến lúc thấu rõ vấn đề, tức thì hoát nhiên đại ngộ. Phương pháp này giống như người học trò nghiên cứu tìm phương pháp giải bài toán khó mà người thầy đã cho đề bài. Sau giấc ngủ hoặc đang đi trong vườn hoa, nhờ tiềm thức tích cực làm việc, người học trò bỗng tìm ra cách giải đáp bài toán đúng đáp số. Qua công án số 6 được ghi trong sách Ngữ Lục với tự đề “Tánh Phật ở khúc nào?” đây là một pháp dụ chúng ta cùng tìm hiểu:

“Cử”

Một ông tăng hỏi ngài Trường Sa Sầm:

“Con trùn chặt đứt làm hai khúc. Vậy tính Phật ở khúc nào? Ngài đáp:

“Động cũng chẳng động là cảnh giới nào?”

Sư nói:

“Hai phía chẳng phải động

Động ở phía nhà ngươi”.

Tụng rằng:

“Con trùn chặt đứt làm hai

Bên nào cũng động, mấy ai tỏ mà.

Hỏi chi tánh Phật đâu là

Uổng công mổ ruột lói ra sáu rùa”.

Đây là một phương pháp khai thị. Ngoài ra, một phương pháp khai thị khác thường dùng trong thiền tông là la hét, đánh đuổi v.v…Tuy không thấy Thượng Sĩ dùng phép này để khai thị, nhưng chắc chắn Thượng Sĩ vẫn biết đó là một truyền thống khai thị của thiền Phật giáo nói chung ở thời kỳ đầu. Và đây không phải là “nhất tự” thiền của (thiền Thượng thừa). Nhưng trong Ngữ Lục Thượng Sĩ vẫn nhắc lại trường hợp Hòa thượng Đàm Không đánh một bà Ni, qua công án 13 có tựa đề “Sư đánh Ni”.

Theo các tổ thầy và học giả đánh giá, cũng như người viết bài này nhận định: Về tư tưởng thiền, tất cả thi tụng của Tuệ Trung Thượng Sĩ hầu như bài nào cũng toát lên tinh thần thiền nhập thế khoáng đạt siêu phóng. Qua 49 bài tụng trong Ngữ Lục, ngay bài “Khúc ca tâm Phật” được ghi là số 1 ta đã thấy viết như sau:

“…Đi cũng thiền

Ngồi cũng thiền

Giữa lò lửa rực một cành sen

Ý khí mất đi thêm ý khí

Được an tiện đây cứ tiện an…”.

                          (Trúc Thiên dịch)

Bài số 2, có ghi tựa đề:

Khúc hát ngao

“…Quy Sơn láng giềng hề chăn con trâu nước

Tạ Tam tâm ý hề trổi khúc thương lang

Thăm Tào Khê hề ra mắt Lữ Thị

Viếng Thạch Đầu hề sánh vế Lão Bàng

Vui ta vui hề Bố Đại vui sướng

Điên ta điên hề Phổ Hóa điên gàn…”.

                                           (Trúc Thiên dịch)

Bài số 3 tựa đề: “Sống chết nhàn thôi vậy”. Đây là bài thi tụng được coi là chứa đựng tinh thần thiền nhập thế khai phóng khá sâu sắc, bởi nó phản ánh rõ nét tư tưởng Thiền tông hay còn có tên khác là Như Lai Thanh tịnh thiền của Thượng Sĩ: “Thanh văn ngồi thiền ta không ngồi / Bồ-tát nói pháp ta nói thực”. Bài tụng này có 20 câu. Nội dung đề cập một vấn đề lớn, đó là chuyện sinh tử của con người. Bài tụng này chúng ta sẽ đọc và bàn ở phần cuối bài viết này. Còn bây giờ chúng ta đến với các bài tiếp theo trong Ngữ Lục của Thượng Sĩ.

Với trí tuệ cao vút của Thượng Sĩ, thấy phàm thánh không hai, Niết bàn sinh tử không hai, mê ngộ cũng không hai. Mọi sự đối đãi đều không có thực thể. Song vì lòng từ bi, Thượng Sĩ khuyên người chuyển phàm thành thánh, nhắc nhở người lìa sinh tử nhập Niết-bàn, vẫn nỗ lực tiến tu để đền đáp “tứ trọng ân”. Đây là tình thương đối với những người bạn đang còn lăn lộn trong trường đời, bị lợi danh tình ái thế gian trói buộc, bởi tư tưởng nho gia cố chấp theo kiểu “một con một của ai từ”. Chính vì điều này mà họ không thấy đạo vi tế, nên Thượng Sĩ muốn khuyến khích họ tiến vào đạo để chuyển xấu ác thành mục đích dài hạn của kiếp nhân sinh. Dưới đây là bài thi tụng phản ánh rõ điều này:

“Thời tiết xoay vần xuân đến thu

Cái già xồng xộc đã lên đầu

Giầu sang ngó lại trơ tràng mộng

Năm tháng mang theo chất hộc sầu

Nẻo khổ: vành xe lăn lóc khắp

Sông yêu: bọt nước mất còn đâu.

Trường đời ví chẳng rờ lên mũi

Ngàn thủa nhân duyên chỉ bóng mầu”.

                                       (Trúc Thiên dịch)

Và với bạn đạo, Thượng Sĩ thiết tha kêu gọi họ phải (phản quan) xem lại mình. Đạo không phải cái gì trên trời xa thẳm, mà hiện hữu ngay nơi chúng ta.. Càng trông cậy tìm cầu càng xa với đạo. Một thực tế, người học đạo cứ đôn đáo chạy đông tìm tây, cốt mong thấy Phật để được đạo, nhưng càng tìm càng mù mịt, bởi đạo không phải ở trên núi trong rừng mà ngay gót chân ta. Lấy chuyện xưa, Mã Tổ ngồi thiền trên đảng đá ở ngọn núi Nam Nhạc, Thượng Sĩ có bài tụng với tựa đề:

Bảo cho học giả

“Mịt mù học giả hướng nào dong?

Gạch ngói mài chi uổng phí công

Thôi chớ cửa người nương tựa nữa

Ánh xuân một điểm khắp trời bông”.

                                         (Trúc Thiên dịch)

Cũng dùng hình ảnh và sự kiện, bài thi tụng mà chúng ta tìm hiểu dưới đây có tựa đề “Họa thơ Hưng Trí Thượng Vi Hầu”. Bài này Thượng Sĩ gắn với hai sự kiện về Thiền tông được đề cập 2 câu ở giữa bài đó là “Thiền thất chín năm không tiếng nói / Hoàng Mai một tối giả truyền trao”. Dưới đây là toàn văn bài thi tụng này của Thượng Sĩ:

Họa thơ Hưng Trí Vị Hầu

“Gió thiền không trước cũng không sau

Bổn thể như nhiên lọ phải cầu.

Thiếu thất chín năm không tiếng nói

Hoàng Mai một tối giả truyền trao.

Cơ tâm đã chẳng tơ hào niệm,

Nghiệp miệng sao còn chọn lựa câu.

Đáp lại nguyên quân Trần xử sĩ,

Nhạn buông tiếng lạnh giữa trời thâu”.

                                          (Trúc Thiên dịch)

Nhân đây, cũng xin được nói thêm về dòng Thiền tông này: xuất phát từ Ấn Độ, đến đời tổ Bồ Đề Đạt Ma là tổ thứ 28. Tiếp nối Bồ Đề Đạt Ma truyền dòng thiền này sang Trung Hoa có thêm 5 đời tổ và Việt Nam có 3 đời tổ. Như vậy, đến Sơ tổ Trúc lâm Trần Nhân Tông là tổ thứ 34, Pháp Loa và Huyền Quang là đời tổ kế tiếp; sau đó dòng thiền này lại ẩn…

Trở lại vấn đề vừa nêu, bài thi tụng trên Thượng Sĩ đề cập đến hai sự kiện xảy ra nổi bật trong quá trình tiếp nối dòng thiền này ở đất Trung Hoa. Do thời lượng bài viết, ở đây chỉ xin nêu vắn tắt nội dung hai sự kiện đó là: Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa vào thời vua Lương Võ Đế. Căn cứ sử liệu được biết, vị vua này rất có công trong việc (xây chùa, đúc tượng, độ tăng) có đem chuyện này ra hỏi tổ là việc mình làm như vậy có công đức chăng? Với tinh thần của pháp môn Thiền tông, tổ Bồ Đề Đạt Ma trả lời “Việc làm của vua không có công đức!”. Bởi việc xây chùa, đức tượng, độ tăng của vua chỉ là tạo phước đức dương để hưởng, nên vãng sinh thuộc về các cõi Thiên, chứ không thể giải thoát giới. Với tinh thần “bất biến” như thế, nên buổi đầu dòng thiền này đến Trung Hoa đã bị phản ứng dữ dội. Chính vì lẽ đó, mà tổ Bồ Đề Đạt Ma phải xây mặt vào vách 9 năm không nói. Sự kiện tiếp theo là Lục Tổ Huệ Năng chỉ là một (cư sĩ) đốn củi không học hành gì, công việc chỉ chuyên giã gạo tại (thiền viện Hoàng Mai) nhưng lại có trí (Vô sư) chỉ nghe một câu kinh trong kinh Kim Cang mà ngộ đạo - được Ngũ tổ Hoàng Nhẫn truyền y bát. Bối cảnh truyền y bát cho Lục tổ Huệ Năng thật gian nan, bởi khi trao truyền y bát rồi mà dòng thiền phải (ẩn nhẩn) sau nhiều năm pháp mới hiện…(nếu muốn biết thêm chi tiết xin tìm hiểu lịch sử dòng thiền này).

 

Qua bài thi tụng mà chúng ta vừa tìm hiểu cho thấy, dòng thiền này đã đến Đại Việt từ thế kỷ XII, mà người nhận lãnh Pháp thiền sâu mầu này chính là Tuệ Trung Thượng Sĩ - một cư sĩ cự phách đời Trần.

Tóm lại, qua các bài thi tụng của Thượng Sĩ, có những bài như: Phóng cuồng ca (khúc hát ngao), Nhàn nhi dĩ (sống chết nhàn thôi), Thế thái hư huyễn (thói đời hư dối), Giang hồ tự thích (vui thích giang hồ). Theo HT. Thích Minh Tuệ “thoạt xem, chúng ta tưởng Thượng Sĩ chịu ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang. Nhưng không, tư tưởng của các bài thi tụng đó vẫn toát lên tư tưởng Phật học nói chung, thiền học nói riêng, và nói cho đúng hơn tư tưởng Phật học và tư tưởng Lão Trang có nhiều điểm gặp nhau. Quan điểm tương đồng này đã được nêu lên trong tác phẩm Thiền và Lão Trang của Ngô Di”.

Về phương diện tọa thiền, Thượng Sĩ không gò bó theo phép tĩnh tọa mà đi đứng nằm ngồi cũng đều thiền. “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền (bài Phật tâm ca) “Thanh văn ngồi thiền ta không ngồi” (Sinh tử nhàn nhi dĩ).

Từ thực tế nêu trên cho thấy, từ con người đến tư tưởng của Tuệ Trung Thượng Sĩ tràn đầy chất thiền. Bởi thế, đương thời Thượng Sĩ đã được các tổ thầy cũng như nhiều thiền sư ở nước ta nể trọng, trong đó Trúc Lâm Đại Đầu Đà đã có kệ tán thán. Bởi Thượng Sĩ có một phong cách thiền “phá chấp” khoáng đạt đến kỳ đặc và kinh ngạc.

TUỆ TRUNG MỘT CƯ SĨ SIÊU XUẤT ĐỘC ĐÁO KHÓ LƯỜNG

Theo sử liệu, Tuệ Trung Thượng Sĩ học Đạo với Thiền sư Tiêu Dao ở tịnh xá Phước Đường là đồ đệ của cư sĩ Ứng Thuận, thiền phái Vô ngôn thông. Vì ngộ đạo rất sớm, Thượng Sĩ lấy thiền duyệt làm vui không thích công danh, lui về chốn thôn dã để tu tỉnh. Với Tuệ Trung, tuy yêu cửa “không” nhưng không quên “tứ trọng ân” trong lẽ sống ở đời. Với Thiền sư Tiêu Dao, tình thầy trò luôn hiện rõ. Như thế đủ biết, dù Thượng Sĩ đạo mầu là bậc cao tột, nhưng không quên tình thầy trò một thủa. Dưới đây là bài thi tụng “Lễ thiền sư Tiêu Dao ở Tịnh xá Phước Đường” của Thượng Sĩ (bài tụng này gồm 20 câu xin được trích):

“Hèn lâu xa ánh sáng

Ở gửi chốn hoang thôn

Thân tuy ngoài cõi xâm với thương

Ý vẫn trong gương loan và phượng

Nhàn nhã ngâm khúc vô sanh

Hầu đáp ơn thầy mớm sữa

Trộm có lời thơ tụng

Cúi dâng lên pháp tòa:

Tuy thân cục mịch ngụ quê này

Vốn trọng ân nào dám lãng khuaay

Ý vụng sớm nhờ thêm ý khí

Lòng tàn riêng giữ chút lòng ngay

Xuân về ngắm lững hoa đào nở

Gió động nghe hờ khóm trúc lay.

Vẫn hay Phật sáng trong đời có

Đừng lạ sen bừng giữa lửa lên

Trân trọng dâng theo lời tụng viếng

Có gì lễ mọn chút quà riêng”.

                                   (Trúc Thiên dịch)

Hai phen dẹp giăc Nguyên cứu nước. Đến khi đất nước bình an Thượng Sĩ trở về thôn dã lập Dưỡng Chân Trang là nơi tu Thiền nói Đạo. Theo sử liệu, không thấy nói Thượng Sĩ đăng đàn thuyết pháp, có lẽ là vì giới luật của hàng cư sĩ? Nhưng thực tế, Thượng Sĩ với bạn đạo (kể cả xuất gia và tại gia) đâu đâu cũng tìm đến tham vấn (hỏi) đạo pháp Thượng Sĩ. Phải chăng đây là trường hợp đặc biệt và ngoại lệ? Trả lời câu hỏi này, trong bài viết “Con người Tuệ Trung Thượng Sĩ” tại cuốn Thiền học đời Trần (Nxb.Tôn giáo-2003) tác giả Minh Chi cho rằng, đây không phải là ngoại lệ, bởi Ấn độ đã từng có Trưởng lão Duy Ma Cật là (cư sĩ) nhưng với đạo pháp ông đã triệt ngộ được lý sinh tử và giải thoát theo pháp môn thiền tông nên được Thế Tôn ấn chứng! Và tại (Đại hội kiến giải pháp môn thiền tông) này, Duy Ma Cật đã được đức Thế Tôn suy cử (đăng đàn) thay lời Như Lai trình bày trước hội chúng về sự ngộ đạt giải thoát giới của mình và trả lời các câu hỏi của hội chúng đặt ra tại núi Linh Sơn. Trong buổi đăng đàn diễn ra hôm ấy, có cả các tăng sĩ tên tuổi như A Nan Đà, Ca Chiên Diên, Xá Lợi Phật…và đông đảo cư sĩ nam nữ và hội chúng đều có lời tán thán. Và ở Trung Quốc có Huệ Năng, được tổ thứ 5 là Hoằng Nhẫn (thiền tông Trung Hoa) truyền y bát nối dòng thiền tông này khi (Huệ Năng) chưa xuất gia. Còn ở nước ta, trong dòng thiền Vô Ngôn Thông, như cuốn “Thiền uyển tập anh” đã ghi rõ, thế hệ thứ 7 của dòng thiền này có một người là Lý Thái Tông, học trò đắc pháp của thiền lão là ông vua chưa từng xuất gia. Thế hệ thư 13 có cư sĩ Thông Thiền, thế hệ 15 có cư sĩ Ứng Vương. Ngoài ra, các vua Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, cư sĩ Ngô Ích đều được xem như là người đắc pháp. Và đến đời Trần, ta thấy (ông nội của Trần Nhân Tông) là Trần Thái Tông tuy không xuất gia nhưng được mọi người công nhận là một thiền sư xuất sắc của Phật giáo đời Trần. Cuốn “Khóa Hư Lục” nổi tiếng của Trần Thái Tông có câu: “Mạc vấn đại ấn, tiểu ấn, hưu biệt xuất gia, tại gia, bất câu tăng tục, chỉ yếu biện tâm. Bản vô nam nữ hà tu trước tướng?”. Có nghĩa là: chẳng kể là sống giữa thành thị hay lánh trên rừng núi, chẳng kể là tại gia hay xuất gia, tăng hay là tục, điều cốt yếu là biện tâm, vốn không có nam, nữ sao còn chấp tướng? Với Trần Thái Tông chủ yếu là “biện tâm”, tức là hiểu rõ tâm mình, làm sáng tỏ tâm minh, gạt bỏ khỏi tâm mọi phiền não, mê lầm, chuyển vọng tâm, vọng tưởng thành Bát nhã trí tuệ.

Với giáo lý đạo Phật, hay nói khác là thiền “biện tâm” nhập thế như vậy, nên quân dân Đại Việt thủa ấy chống giặc xâm lăng thì cang cường dũng mãnh không phiền não lo sợ; khi giặc tan (giáo gươm buông bỏ) lòng người lại sống trong Bi trí theo giáo lý nhà Phật. Chính vì điều này mà thời Trần kinh tế-xã hội hương vượng, Phật giáo phát triển rực rỡ.

Trở về với Dưỡng Chân Trang, mặc dù với vai trò là cư sĩ Phật giáo, nhưng Tuệ Trung Thượng Sĩ vẫn thực hiện Giáo hóa và coi việc phổ đạo tới mọi người là Hạnh nguyện Bồ-tát giữa thế gian. Trong Ngữ Lục ta thấy có ghi nhiều cuộc tham vấn giữa Thượng Sĩ với các chúng Phật tử và môn đệ. Ở đây chỉ xin nêu một trường hợp qua câu chuyện thưa hỏi của một vị tăng với Thượng Sĩ. Dưới đây là nội dung cuộc thưa hỏi này:

Tăng thưa: Bạch Thượng Sĩ, tôi vì việc lớn sinh tử vô thường nhanh chóng, song chưa biết rõ thân này từ đâu ra? Chết rồi sẽ đi về đâu?

Thượng Sĩ đáp:

Giữa trời phỏng có đôi vành chuyển

Biển cả ngại gì hòn bọt con.

Tăng lại hỏi: Cổ đức nói: “Không tâm là đạo” có đúng chăng?

Thượng Sĩ đáp:

“Không tâm chẳng phải đạo

Không đạo cũng không tâm”.

Hỏi tiếp: Nếu nói “không tâm là đạo” thì tất cả cây cỏ đều là đạo cả sao? Bằng ngược lại nói: “không tâm cũng chẳng là đạo, thì nói có không làm gì? Nghe tôi nói kệ đây (tức Thượng Sĩ nói kệ).

“Vốn không tâm không đạo

Có đạo chẳng không tâm

Tâm đạo vốn hư tịch

Chỗ nào mà đuổi tâm”.

Vị tăng chợi nhận ra ý chỉ, lễ bái rồi lui.

Qua đây chúng ta thấy, không hạn cuộc trong hàng cư sĩ hay tăng sĩ mà tất cả đều hỏi đạo Thượng Sĩ.

Vai trò nổi bật của Tuệ Trung mặc dù chỉ là cư sĩ trong giới Phật giáo đời Trần, nhưng với tinh thần đạo nhập thế (dấn thân) siêu phóng trác tuyệt như thế, khiến nhiều người nể trọng và kinh ngạc về đạo pháp của Thượng Sĩ. Với Trần Nhân Tông cương vực là vậy, nhưng cũng có lời nhận định tán thán Thượng Sĩ như thế này:

“Tôi (tức Trần Nhân Tông) biết môn phong của Thượng Sĩ cao ngất. Ngày kia tôi thỉnh hỏi ngài về phần gốc của Tông chỉ thiền. Thượng sĩ dạy:

“Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” nghĩa là (xem lại chính mình là việc bổn phận, chẳng từ nơi khác mà được). Tôi bỗng nhiên được con đường vào, bèn kính thờ ngài làm thầy.

Ôi! Tinh thần và sắc vận của Thượng Sĩ thật trang nghiêm và cung kính làm sao! Hình dung cử chỉ thẳng ngay làm sao! Những lời nói huyền bàn diệu của ngài, cũng những câu chuyện gió mát trăng thanh, đương thời hàng Thạc đức đâu cũng đều tôn trọng, cho Thượng Sĩ là người tin sâu biết rõ, ngược xuôi khó mà lường được”.

Phải chăng, vì Thượng Sĩ dạy thiền cho Trần Nhân Tông từ nhỏ mà Trần Nhân Tông gọi Thượng Sĩ là thầy. Không phải, chúng ta chỉ cần nghiên tầm và suy nghĩ kỹ bài thơ mà Trần Nhân Tông tán thán, cũng như bài “Thượng Sĩ hành trạng” của  Nhân Tông viết về Thượng Sĩ thì ta hiểu rõ được lòng tôn kính của Sơ tổ Trúc lâm đối với Tuệ Trung. Dưới đây là bài thơ:

“Càng nhìn càng cao,

Càng khoan càng bền.

Chợt phía sau đó,

Ngắm nghía trước liền.

Cái này tên gọi,

Là Thượng Sĩ thiền”.

Ý tứ của bài thơ là: Thiền học tức đạo học của Thượng Sĩ cao vời vợi và rắn chắc khôn lường.

“Bỗng nhiên ở đằng sau

Lại thấy ở đằng trước.

Ở đây có thể hiểu theo hai nghĩa: một là Tuệ Trung có tài biến hóa khôn lường (thần túc thông), hai là hành trạng của Thượng Sĩ là siêu việt, mà người bình thường, không thể nào lường xét được. Đây thật sự là một lời ca ngợi chân xác.

Đọc bài thơ tán thán Tuệ Trung và bài “Thượng Sĩ hành trạng” của Trần Nhân Tông nêu trên, không chỉ người viết bài này, mà hầu hết các tăng ni, học giả đều cho rằng: Mặc dù Trần Nhân Tông là vua, còn Tuệ Trung là tôi, và Trần Nhân Tông là Tăng sĩ, đứng đầu phái thiền và giáo hội Trúc lâm, còn Tuệ Trung chỉ là cư sĩ, nhưng Trần Nhân Tông suy tôn Tuệ Trung là thầy của mình, đây không phải ông thầy thế học, mà là bậc thầy trong đạo. Một đạo sư đích thực. Đó là vì Trần Nhân Tông đã nhận Chân rõ Tuệ Trung là bậc chân tu.

Ngang đây, bỗng chúng ta thấy một điều căn bản đó là, dòng thiền tông này khi truyền pháp (tức truyền đời tổ nối tiếp nhau) không câu lệ là người xuất gia hay cư sĩ tại gia. Tổ Huệ Năng là trường hợp dễ thấy giúp chúng ta nhận rõ về dòng thiền này, và ngoài trường hợp trên, với 28 đời tổ thiền tông ở Ấn Độ cũng cho chúng ta thấy một số đời tổ truyền pháp cho nhau cũng là (cư sĩ) và sau khi nhận pháp mới xuất gia. Với Chân đạo cao tột siêu xuất như chúng ta đã thấy ở Thượng Sĩ, thì việc tôn xưng ông là thầy không phải là điều khó hiểu đối với dòng thiền thanh tịnh này.

Để chúng ta hiểu rõ thêm về dòng thiền nhập thế Trúc lâm, trong bài viết “Tính nhập thế của Phật giáo Việt Nam qua thiền phái Trúc lâm Yên Tử” của HT-Tiến sĩ Thích Gia Quang trên (Nội san nghiên cứu Phật học số 6-1992) khi đề cập về tính nhập thế của phái thiền này tác giả cho viết: “Chắc có nhiều người cho rằng đạo Phật là đạo xuất thế, tại sao tôi (tức tác giả) lại nói rằng Phật giáo Việt Nam là đạo nhập thế? Xin thưa rằng xuất thế có nghĩa là siêu xuất, siêu việt hơn đời chứ không phải là ra ngoài đời như nhiều người đã tưởng. Tổ Huệ Năng vị tổ thứ 6 phái Thiền tông Trung Hoa đã nói: “Phật pháp tại thế gian / Bất ly thế gian giác / Ly thế mịch Bồ-đề / Kháp như cầu thố giác”. Có nghĩa là, Phật pháp trên thế gian này không thể tách khỏi thế gian mà tìm cầu giác ngộ thì không khác gì đi tìm lông rùa sừng thỏ”.

Cũng trên nền tảng tư duy này, theo quan điểm của Trần Nhân Tông: “Sống mà không giúp gì cho đời là điều đáng hổ thẹn của kẻ trượng phu” (thơ văn Lý Trần).

Trần Nhân Tông có lẽ đã chịu ảnh hưởng không ít tư tưởng thiền của Tuệ Trung vì theo như lời Trần Nhân Tông: “Thượng Sĩ đã trộn lẫn với thế tục, hòa cùng ánh sáng chứ không trái với người đời, Thượng Sĩ luôn nhập trần-khoát lộ nhập trần lai tức (rộng bước đi vào chốn cát bụi). Đối với ông (tức Thượng Sĩ) dưỡng chân tính chính ở nơi cuộc đời trần tục, nơi góc bể chân trời, ông cho rằng phiền não, bồ đề nguyên bất dị, nếu bỏ phiền não mà lấy Niết bàn thực chẳng khác trốn hình trong nắng chói” (thơ văn Lý Trần)

Chính vì thế mà Trần Nhân Tông luôn cảnh tỉnh mọi người đừng bỏ phí thời gian, phải làm việc gì có lợi cho Đạo cho Đời. Trong buổi đại tham ở Kỳ Lâm, Ngài đã kêu gọi “Hỡi các người, quang ân qua mau quá, đời người trôi không dừng! Làm sao các người ăn cháo, ăn cơm mà không tìm hiểu chuyện cái bát, cái thìa?”. Cũng chính vì vậy mà chúng ta hiểu được vì sao trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời Ngài đã dặn hai đệ tử Từ Doanh và Hoàn Trung những người đã dìu Ngài lên đỉnh Ngọa Vân “Các ngươi hãy xuống núi lo tu hành, đừng coi sinh tử là việc nhàn”. Đó là Sơ tổ Trúc lâm nói với những người còn rải đãi tu hành và những ai còn tham đắm ái dục, vọng tưởng chưa thấy đạo tế vi sâu mầu. Còn với Thượng Sĩ đã triệt ngộ sinh tử, tự tại thì ngài lại nói trong bài thi tụng của mình là “Sống chết nhàn thôi vậy”. Tiếp phần cuối bài viết này, chúng ta đọc và suy ngẫm bài thi tụng trọng yếu dưới đây của Thượng Sĩ mà người viết lấy làm đề mục:

“SỐNG CHẾT NHÀN THÔI VẬY”

 “Tâm mà sanh chừ sanh tử sanh

Tâm mà diệt chừ sanh tử diệt

Sanh tử xưa nay vốn tánh không

Thân hư rối này rồi cũng diệt

Phiền não Bồ-đề bỗng mất tiêu

Địa ngục thiên đường đều khô kiệt

Lửa bỏng nước sôi thoát mát liền

Núi kiếm rừng dao chốc gãy hết

Thanh văn ngồi thiền ta không ngồi

Bồ-tát nói pháp ta nói thật.

 

Chết là dối chết sanh dối sanh

Bốn đại vốn không nương đâu dậy

Chớ như hươu khát đuổi bóng nước

Nắm đông bắt tây không ngớt chạy

Phán phân không lại cũng không qua

Chân tánh chẳng phải cũng chẳng quấy

Đến nhà thôi chớ hỏi đường chi

Thấy nguyệt tìm gì ngón tay ấy

Kẻ ngu sống chết mãi lo âu

Người trí rõ thông nhàn thôi vậy.”

                                            (Trúc Thiên dịch)

Như chúng ta thấy, việc sống chết là điều trọng đại của người đời. Vì thế khi sinh ra thì vui vẻ hớn hở ăn mừng, khi tử biệt sinh ly thì lo âu sợ hãi. Chẳng những hàng phàm tình lo sợ sinh tử, cho đến bậc tu hành như Thanh văn vẫn thấy sinh tử là việc lớn (sinh tử sự đại) phải cần kíp thoát ra. Vì các ngài dẫu ở hàng Thanh văn  còn thấy sinh tử là bể khổ. Nhưng với Thượng Sĩ thấy “sống chết nhàn thôi vậy”, quả thật tinh thần siêu phóng cao vút không ai sánh kịp. Chỗ mà người đời sợ hãi kinh hoàng, người tu vội vàng chạy thoát, Thượng Sĩ thì tiêu dao tự tại nhìn nó tức (cái chết) như chờ đón cơn gió mát lúc trưa hè. Để thấy rõ thái độ thong dong nhàn nhã ấy, chúng ta nhìn sâu từng câu thơ của Thượng Sĩ dưới đây:

“Tâm mà sanh chừ sanh tử sanh

Tâm mà diệt chừ sanh tử diệt”

Hai câu này nói rõ sanh tử gắn liền với tâm người (nhất thiết duy tâm tạo). Bởi tâm ta ái luyến bám chặt thân này (ái ngã) nên mất thân này chụp thân khác liên miên không dứt. Tâm ái luyến này là ái, thủ trong 12 nhân duyên, nó là cội gốc của phiền não hiện tại, tạo dựng nên đời sau (kiếp sau). Nếu tâm ái luyến này diệt thì vòng sinh tử ngang đây cắt đứt. Bởi nhân không thì quả cũng không.

“Sinh tử xưa nay tánh vốn không

Thân hư dối này rồi cũng diệt”.

Bởi từ lũy kiếp, chúng ta quen nhìn theo con mắt phàm phu coi sinh tử là trọng đại, rồi khổ đau với nó. Nếu dùng trí Bát nhã quán sát lý nhân duyên thì ta sẽ thấy sinh tử là không có thực thể cố định chỉ là sự hợp tan của nhân duyên mà thôi; bởi không có thực thể cố định nên thân này là tạm có (vài chục năm) không có gì bảo đảm lâu dài. Đây là một quy luật không thể khác, bởi “có hợp thì phải có tan” kể cả thân Phật, Bồ-tát đều chụi sự chi phối của tam giới theo chiều cuốn hút của vật lý âm dương nên thân nào rồi cũng diệt.

“Phiền não Bồ-đề bỗng mất tiêu

Địa ngục thiên đường tự khô kiệt

Lửa bỏng nước sôi thoát mát liền

Núi kiếm rừng dao chốc gãy hết”.

Người tu sợ phiền não thích Bồ-đề. Vì phiền não là cội nguồn sinh tử, là gốc rễ của mọi khổ đau; Bồ đề là giác ngộ giải thoát là mát mẻ an lạc. Đây là lối nhìn theo đối đãi (nhị biên) nên mắc kẹt hai bên. Còn mắc kẹt trong vòng đối đãi, là còn sanh tử luân hồi khổ đau. Theo giáo lý nhà Phật chấp giả làm thật là mê lầm (vô minh). Một khi tỉnh giác, thấy mọi cái đối đãi đều không thật thì “Phiền não Bồ-đề bỗng mất tiêu, Địa ngục thiên đường tự khô kiệt”.

Thế nên, với cái nhìn thiền tông lấy (kiến tánh) làm chủ đạo Thượng Sĩ phá chấp:

“Thanh văn ngồi thiền ta không ngồi

Bồ-tát nói pháp ta nói thật”.

Theo cách nhìn “nhất tự “ của Thiền tông, Thanh văn là hàng nhị thừa, còn thấy sinh tử, Niết bàn là hai thực trạng đáng sợ và đáng yêu tức còn (yêu ghét). Cho nên các ngài cấp thiết xa lìa khổ sanh tử, mong cầu an vui Niết bàn. Muốn được Niết bàn thì tọa thiền nhập định là chánh nhân chủ yếu. Nhưng Thượng Sĩ thực hành theo Bồ-tát hạnh, nguyện đem ánh sáng giác ngộ chúng sinh. Sự giáo hóa này dù trải qua bao nhiêu kiếp cũng không chán ngán mỏi mệt, nên ngài thuyết pháp thật. Ngài linh động trong cuộc sống (nhập thế) để giáo hóa mọi người, chứ không chịu chết chìm trong diệt tận định như Thanh văn.

“Chết dối chết sanh dối sanh

Bốn đại vốn không nương đây dậy

Chớ như hươu khát duổi bóng nước

Ngắm đông bắt tây không ngớt chạy”.

Sinh tử là duyên hợp- duyên tan làm sao thật? Đủ duyên hợp lại gọi là sinh, thiếu duyên tan rã gọi là tử (chết). Bốn đại là nhân hợp làm thành cái thân này. Bốn đại giả hợp không thực, vậy thân do bốn đại hợp thành có thực không?

Theo các tổ thầy dạy, cái không thật ấy mà chúng ta cứ tưởng là thật, rồi ôm ghì bám chặt vào nó giống như con nai khát nước, nhìn ngoài sa mạc thấy ánh nắng phản chiếu chập chờn tưởng là sóng nước cắm đầu chạy tìm, khi đến nơi, nào thấy chi đâu. Nó xoay nhìn hướng khác cũng thấy như thế, lại một phen bỏ chạy, rốt cuộc cũng ôm nỗi thất vọng. Nên Thượng Sĩ nói, chạy Đông, chạy Tây khổ công nhọc sức cuối cùng chỉ mang về nỗi tuyệt vọng chán chường. Sự đau khổ của con nai (hình ảnh dụ) bởi cái tưởng sai lầm và khát ái gây nên mà thôi. Con người cũng như thế, sanh tử không thật mà vì tâm ái ngã sâu đậm, bám chặt thân sanh tử tưởng là thật; tìm mọi cách giữ gìn nó, nhưng cuối cùng không thể giữ được, nên khổ đau tuyệt vọng.

“Pháp thân không lại cũng không qua

Chân tánh chẳng phải cũng chẳng quấy

Đến nhà thôi chớ hỏi đường chi

Thấy nguyệt tìm gì ngón tay ấy”.

Theo các tổ thầy dạy: Pháp thân là một trong ba thân Phật-Pháp. Pháp thân là thể, Báo thân là tướng, Hóa thân là dụng. Tuy nói ba mà không cách biệt không rời nhau, như nước sóng trôi chảy. Báo thân và hóa thân có hình tướng có sinh hoạt nên thuộc sinh tử. Pháp thân không hình tướng, không sinh diệt, nên không giới hạn, không biến đổi làm gì có qua lại phải quấy. Chân tánh là cái thể chân thật không sanh diệt không bỏ dời là pháp thân vậy.

Khi người tu ngộ đạo thể nhập pháp thân, giống như kẻ phiêu bồng lang bạt hồi tỉnh biết tìm về quê cũ, đã về đến nơi đến chốn rồi còn hỏi đường sá chi nữa. Chỉ có kẻ lang thang chưa tìm được lối về, mới tìm người này người kia hỏi.

Cũng vậy, người tu muốn thấy tánh ngộ đạo, nhưng mình còn mịt mùng ngơ ngác không biết tìm nơi nào, bỗng gặp được kinh điển của Phật, tận tâm nỗ lực tìm hiểu rồi đến một ngày nào đó bỗng dưng thấy tánh ngộ đạo. Ngộ đạo rồi, kinh điển chỉ là phương tiện như ngón tay chỉ trăng. Khi thấy mặt trăng rồi, mới biết ngón tay không phải trăng.

Người tu khi nhận được pháp thân thì đâu còn lầm chấp hai bên là thật. Khi thể nhập pháp thân thì mọi nghi ngờ đều dứt bặt. Vậy, Thượng Sĩ mới viết:

“Kẻ ngu sống chết mãi lo âu

Người trí rõ thông nhàn thôi vậy”.

Hai câu kết thúc này cho thấy, hàng phàm phu chúng ta cho sống chết là hết, là “trắng tay”, nên kinh hãi khiếp sợ. Người trí như (Tuệ Trung) thấu suốt sống chết không thật, nên chỉ cười nụ, nhìn sự hợp tan của nó mà bình thản, bởi người trí nhận được nơi mình vốn sẵn có pháp thân chẳng sanh chẳng diệt trùm khắp hiện hữu. Chính vì điều này mà thượng Sĩ nhìn sự sống chết thảnh thơi nhàn hạ; mặc dù là (cư sĩ) ngay giữa lòng đời lăng xăng bận rộn (thê thiếp) nhiều vướng mắc; nhưng Thượng Sĩ vẫn ung dung tự tại. Đây quả thực là tinh thần siêu phóng phi thường. Để minh định sự - lý viên dung, chúng ta cùng cảm niệm phút giây viên tịch của Thượng Sĩ sẽ thấu hiểu tinh thần triệt ngộ sinh tử và giải thoát giới nơi ngài được sử liệu ghi lại dưới đây:

“Thượng Sĩ bệnh sơ sài, không nằm ở phòng riêng, nằm ở Dưỡng Chân Trang. Tại đây giữa nhà trống, ngài kê một giường gỗ và nằm theo hướng kiết tường, nhắm mắt liệm, Các người hầu hạ và thê thiếp khóc rống lên, Thượng Sĩ mở mắt ngồi dậy, sai lấy nước rửa tay súc miệng, đoạn cuối nhẹ - nói rằng: “Sống chết là lẽ thường nhiên, sao buồn thảm luyến tiếc làm náo chân tánh Ta”. Dứt lời, Thượng Sĩ nằm êm ả mà tịch. Bấy giờ nhằm niên hiệu Trùng Hưng thứ 7 năm Tân Mão (1291) ngày mùng 1 tháng 4, Thượng Sĩ thọ 62 tuổi”.

Để kết thúc bài viết này, xin mượn lời của sư ông Trúc lâm Thanh Từ nói về Thượng Sĩ - thay lời tri ân hồi hướng: “Qua cuộc đời Tuệ Trung Thượng Sĩ, chúng ta thấy ngài ngộ đạo rất sớm, song bổn phận một công dân thời chiến, vẫn phải hai lần cầm quân đánh giặc Nguyên để cứu nước. Đến khi đất nước thanh bính, ngài mới về nơi thôn dã tu hành. Thế là đời đạo vuông tròn. Ở trong hoàn cảnh một cư sĩ giao duyên bận rộn, Thượng Sĩ vẫn tu đạt đến triệt ngộ sanh tử tự tại, thật là ít có. Chứng tỏ dù ở hoàn cảnh nào, người quyết chí tu hành đều đạt được đạo quả. Thượng Sĩ là người sú cơm mớm sữa cho Sơ tổ Trúc lâm (Trần Nhân Tông) của một phái thiền Việt Nam. Một phái thiền đời đạo hài hòa, từ bi và hùng dũng trác việt.

Chúng ta là người Việt Nam, lại là người tu theo Phật giáo Việt Nam, thì phải không thể nào quên được những bước đi rạng rỡ sáng ngời của người xưa còn lưu lại, cần phải chân thành noi theo”.

 

Cư sĩ: Nguyễn Đức Sinh

Số: 18.tổ 29c. khu 8. Phường Quang Trung

(Tp. Uông Bí – Quảng Ninh)

Chú thích:

(1)  Theo Việt Nam Phật giáo sử luận của (Nguyễn Lang - Quyển I trang 279)

Tài liệu tham khảo:

-Thơ văn Lý-Trần (Nxb. KHXH-1972)

-Thiền học đời Trần - Nhiều tác giả - NxbTôn giáo- 2003)

-Thiền uyển tập anh và một số tài liệu liên quan khác.

 

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập