Đạo Phật có thể làm gì cho Hoà Bình thế giới

Đã đọc: 1828           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Nhân loại đang lo âu, nhưng sợ cũng không làm gì được vì cơn bệnh đã đến hồi phải bột phát bởi những virus “tham”, “sân”, “si” đã phát triển quá nhiều trong tâm thức của những phe phái liên hệ.

Chỉ còn vài ngày nữa là trăng tròn tháng tư, kỷ niệm ngày vị Phật thứ 7 đã giáng sinh trên quả đất này, tại Nepal, gần Hy mã Lạp Sơn, cách đây khoảng 2600 năm.  Năm nay kỷ niệm đản sinh của ngài lại vào lúc thế giới đang trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng. Tình hình Trung đông ngày càng sôi sục, nếu Do thái không có khả năng tự chế, thế giới Ả rập và Hoa kỳ có thể sẽ bị lôi cuốn vào cuộc chiến, rồi Trung hoa, Parkistan, và Ấn độ cũng có thể có lý do để nhảy vào.  Tất cả đều có khả năng Nguyên tử có thể huỷ diệt hoàn toàn đời sống và nền văn minh trên quả đất này.  Nhân loại đang lo âu, nhưng sợ cũng không làm gì được vì cơn bệnh đã đến hồi phải bột phát bởi những virus “tham”, “sân”, “si” đã phát triển quá nhiều trong tâm thức của những phe phái liên hệ.

Vì sự dính líu rộng lớn đến thế giới Hồi giáo, người ta không thể làm ngơ ảnh hưởng tôn giáo đằng sau những xung đột hôm nay.  Nguy hiểm thay, những phe phái liên hệ (kể cả chính quyền Bush) đều là những người có đức tin tôn giáo mãnh liệt, những đức tin này càng làm cho họ kỳ thị, ngăn cách, và khó hoà giải với nhau.  Mặc dầu tất cả các tôn giáo đều ca ngợi tình thương, nhưng cho đến nay, ngoại trừ Phật giáo, tất cả các tôn giáo khác đã từng có những cuộc thánh chiến đẫm máu.  Riêng về Phật giáo, khoảng thế kỷ 12, đạo Hồi cũng đã tàn sát Chư tăng và triệt phá các cơ sở giáo dục của Phật giáo trong các nước nam Á, trong đó có Ấn độ và Afganistan.  Tuy nhiên người ta không hề thấy có sự trả thù của Phật giáo trong vụ này.  Phải chăng giáo lý đạo Phật đã có gì hay, giúp cho tín đồ của họ sống hoà bình với người khác? Cũng có thể sẽ giúp cho nhân loại được hoà thuận hơn? 

Đạo Phật cho rằng, thế gian này khổ vì ba thứ Tham, Sân, và Si, trong đó Si (thiếu trí tuệ) là gốc cội của tất cả.  Vì không đầy đủ trí tuệ để thấy rõ tất cả những sự thật của thế gian nên con người có những suy nghĩ và hành động lầm lẫn gây đau khổ cho mình, cho người.  Có ba sự thật đức Phật thường nhắc nhở mà chúng ta có thể áp dụng để kiến tạo nền hoà bình thế giới:

1.        Sự thật đầu tiên, cũng là nền tảng để suy diễn ra các sự thật kế tiếp, đó là “Luật Nhân Quả” có tính cách “Luân Hồi” (nhân -> quả -> nhân).  Sự thật này là nguyên tắc biến đổi của vạn sự vật trong vũ trụ. 

“Các Pháp do duyên sinh

Duyên diệt các Pháp diệt.”

      Đây là một sự thật mà không một quyền năng thần thánh nào có thể vượt qua được.  Cũng vì luật nhân quả này mà khi ta bị bệnh, ta phải đi bác sĩ hay nhà thương để họ tìm nguyên nhân chửa trị, chứ không thể ngồi cầu nguyện mà khỏi bệnh (nếu có được chăng thì cũng không phải là một giải pháp có thể chấp nhận được vì kết quả chưa chắc đến 1%).  Cũng vì luật nhân quả này mà con người đã thiết lập nên những hệ thống công lý cho xã hội, chứ không thể căn cứ trên đức tin tôn giáo mà xét tội. Luật nhân quả khẳng định rằng chính tư tưởng và hành động của mình định liệu hạnh phúc hay đau khổ cho mình, chứ không phải do sự ban ơn giáng hoạ của một đấng cứu rỗi nào cả.  Nếu ta làm sai thì ta phải chịu hậu quả sai.  Nếu ta làm đúng thì ta được phần thưởng đúng.  Nhờ hiểu được những điều căn bản này nên người Phật tử không bao giờ dám nhân danh Phật hay một đấng thần linh nào để gây tang thương cho kẻ khác.

Người Phật tử còn được giáo dục rất kỷ về luật nhân quả của Tình thương.  Trong những trường hợp giản dị, nếu ta tạo được hạnh phúc cho người thì người cũng sẽ tạo lại hạnh phúc cho ta.  Nếu ta gây đau khổ cho người thì người cũng sẽ gây lại đau khổ cho ta (hoặc gia đình ta, quốc gia ta).  Trong tương quan này Đức Phật còn dạy thêm:

“Lấy oán báo oán, oán oán chồng chất

Lấy ân báo oán, oán sẽ tiêu diệt.”

“Ân” có khả năng dập tắt “Oán” cũng như nước có khả năng dập tắt lửa, đó cũng là một luật nhân quả.  Thấu hiểu những lời dạy này mà người Phật tử chân chính không nghĩ đến chuyện trả thù, vì nó chỉ gây thêm đau khổ triền miên, không phải là hành động của một người trí tuệ.

Giáo lý Đạo Phật còn đưa ra vô số những gương hy sinh chịu đựng của các vị Bồ tát để nhắc nhở cho các Phật tử về sự quí giá của tình thương.  Vì nó có khả năng tạo hạnh phúc, cho ta cho người, trong mọi hoàn cảnh, hơn bất cứ một thứ châu báu nào trên thế gian, cho nên các vị Bồ tát (những chúng sanh có trí tuệ, những người sẽ thành Phật trong tương lai)  luôn luôn gìn giữ tâm từ của mình không khác gì người giàu bảo vệ tài sản của họ.  Dầu trong những trường hợp bị cắt da xẻ thịt, họ vẫn có thể cầu nguyện sự an vui cho kẻ thù, không để lòng thù hận dấy lên làm sứt mẻ tình thương của mình.  Phát triển tình thương đến độ như thế thì không còn ai có thể gây đau khổ cho ta, và sẽ an vui trong mọi hoàn cảnh (cũng như người dân quê, do có tình thương mà thấy quê hương nghèo khổ của mình vẫn là chốn êm đềm hạnh phúc hơn đâu hết).  Cho nên người trí tuệ phải hiểu rằng, thương yêu kẻ thù không những có thể cải đổi được kẻ thù mà còn tạo hạnh phúc tức khắc cho chính mình.

2.        Cuộc sống bấp bênh, thế gian “Vô thường”.   Đó là sự thật thứ hai mà đa số người phật tử thấu hiểu.  Nhờ ý thức sự vô thường là không thể tránh, nên người Phật tử dễ dàng chấp nhận, ít đau khổ và ít tức giận mỗi khi bị mất mát.  Cũng chính vì sự thật vô thường này nên Đức Phật dạy không nên quá ràng buộc vào bất cứ thứ gì, kể cả những lời dạy gọi là “chân lý” của ngài: “giáo lý ta chỉ như thuyền qua sông, đến bờ rồi phải bỏ”.  Giáo lý của ngài là giáo lý để “giải thoát” chứ không phải để cột buộc.  Ngài chưa bao giờ tuyên bố “ta là con đường, ta là độc nhất”.  Trái lại, ngài khuyên nhủ: “Các con tự thắp đuốc lên mà đi”. Đó là lý do người Phật tử ít có sự cố chấp, biết các pháp không có “tự tánh”, coi mọi giá trị, đúng, sai, tốt, xấu, chỉ có tính cách tương đối, tuỳ duyên và tạm thời, nên dễ dàng “tuỳ thuận chúng sanh” sống hoà bình với các tư tưởng khác.

Chiến tranh và độc tài thường xảy ra do con người lạm dụng sức mạnh để bắt người khác phải theo những ham muốn của mình.  Nếu sự ham muốn bị cản trở, người ta rất dễ tức giận và có khi trở thành độc ác, không ngần ngại trừ diệt kẻ yếu thế. Người Phật tử thấu triệt luật vô thường, biết không có một sức mạnh nào có thể tồn tại maĩ mãi, lạm dụng sức mạnh để gây khổ đau cho kẻ khác cũng chính là tự sửa soạn cho mình một tương lai đau khổ. Đó không phải là hành động của kẻ có trí tuệ.   Phương chi, dầu đạt được những gì mình muốn rồi một ngày kia nó cũng sẽ mất, rồi cũng sẽ thương tiếc khổ đau.  Do đó nếu thấy điều mình ham muốn làm khổ đau cho người khác thì người Phật tử cũng dễ dàng từ bỏ. Điều khôn ngoan hơn là: khi ta đang có khả năng, hãy dùng khả năng đó để giúp đỡ kẻ khác. Đó là sửa soạn cho mình một hạnh phúc lâu dài hơn, bảo vệ sức mạnh của mình lâu dài hơn, vì đã không gieo những “nhân” muốn phá hoại nó. Đây cũng là lý do tại sao các tôn giáo (đặt nặng về tình thương) đã tồn tại lâu hơn bất cứ một “đế quốc” nào từ xưa tới nay.

3.        Sự thật thứ ba mà cũng là sự thật quan trọng nhất để chấm dứt hoàn toàn khổ đau của mỗi cá nhân và sự xung đột giữa các phe nhóm (quốc gia, tôn giáo). Đó là tính “Vô Ngã” của vạn pháp.  Có nghĩa rằng cái gọi là “Ngã” (ta) chỉ là một ảo tưởng (illusion) không thực có.   Đây là một sự thật rất khó tin, khó lãnh hội, vì nó trái ngược lại với những hiện tượng “Ngã” mà ta thấy hằng ngày.  Cũng khó tin như ngày xưa khi Galileo tuyên bố với đức Giáo Hoàng rằng “quả đất xoay quanh mặt trời”, vì hằng ngày ai cũng thấy “mặt trời đi quanh quả đất”, mọc phương đông lặn phương tây.

Tuy nhiên, đối với trí tuệ đã giác ngộ của một người Phật tử thì có hai cách để thấy cái gọi là ta không phải thực là ta:  a) Nó được tạo thành và không thể phân ly với những cái “không ta”. Sự sống của ta sẽ không có, nếu không có sự hiện hữu của những cái “không ta” (như nước, mặt trời).  b) nó chỉ là một tập hợp ngắn hạn của 5 thứ: Sắc (phần vật chất), Thọ (cảm giác), Tưởng (tư tưởng), Hành (hành động), Thức (kiến thức, tiềm thức).   Mà cả năm pháp này đều không phải do ta tạo nên, hoặc chỉ riêng cho ta.   Không hề có biên giới ngăn cách giữa Sắc của ta và Sắc của vũ trụ.  Các thứ khác cũng như thế.  Chúng cũng vô thường biến đổi theo nhân duyên như các phần khác của vũ trụ.  Đó là lý do tại sao ta không muốn già, mà thân vẫn cứ già, ta không muốn bệnh mà nó cũng cứ bệnh, ta không muốn bị mất trí nhớ, mà trí nhớ vẫn phai mờ theo năm tháng.

Trong ý nghĩa tuyệt đối để giải thoát khổ đau cho mỗi cá nhân, điều này có nghĩa rằng ta không phải là bất cứ một cái “Có” nào cả.  Ta ở ngoài tất cả nên mới có khả năng thấy được tất cả. Đúng ra phải nói rằng   “Ta thấy đau chứ không phải ta đau, ta thấy khổ chứ không phải ta khổ”, ta chưa bao giờ sinh ra nên cũng không có gì để chết (vô sinh, bất diệt). Đó là sự giải thoát hoàn toàn bằng năng lực của Trí tuệ, ở ngay trong cuộc sống này chứ không phải đợi qua khỏi cái chết như các tôn giáo khác.  Tuy nhiên, sự gở bỏ dính mắc để đạt trí tuệ “Vô Ngã” rất khó.  Người ta thường sẽ thắc mắc “vậy ta ở đâu?” vì bản chất luôn luôn tìm một chỗ để “bám víu” đã ăn sâu từ nghìn đời trong tiềm thức của cái “pháp giới” (một phần của vũ trụ) gọi là ta.  Cũng như một người đã ở quá lâu trên quê hương của mình, mắt đã quen nhìn cảnh của quê hương (nhãn thức), tai đã quen nghe tiếng nói của quê hương (nhĩ thức), lưỡi quen ăn đồ ăn của quê hương (thiệt thức),…, ý đã quen suy tư theo tôn giáo tập quán của quê hương (ý thức), người đó khó đi xa khỏi quê hương của mình, và nếu có đi xa được thì cũng có khuynh hướng trở về lại (luân hồi), để rồi càng gắn bó hơn.

Trong một áp dụng thực tế và dễ hơn cho nền hoà bình của nhân loại thì sự thật Vô Ngã có ý nghĩa rằng sự phân biệt giữa các quốc gia là “Si mê”! (không hợp với sự thật) nên gây đau khổ.  Chỉ do tâm thức “ích kỷ” của con người mà có sự phân chia đó, chứ quả đất chưa hề có lằn ranh ngăn cách giữa các lãnh thổ. Đúng ra, mọi con người đều phải là “công dân của cả thế giới” (world citizen).  Nếu ta không phải là kẻ tội phạm ta phải có quyền đi lại bất cứ nơi đâu trên quả địa cầu này.  Ít lắm Liên Hiệp Quốc, với sự công nhận của các quốc gia hội viên, phải cấp “quyền công dân thế giới” này cho các khoa học gia, các đại thương kỷ nghệ gia, các cựu nguyên thủ quốc gia danh tiếng, không có tinh thần kỳ thị chủng tộc, vì họ đã làm lợi ích cho toàn thể nhân loại.  Nếu Liên hiệp Quốc có được một “Hội Đồng Cố Vấn Tối Cao” gồm các vị có khả năng và uy tín như thế thì Liên Hiệp Quốc sẽ có nhiều uy quyền hơn.

Nếu lãnh tụ các quốc gia có trí tuệ “Vô Ngã” thì tinh thần ích kỷ quốc gia sẽ giảm bớt, sẽ không lạm dụng sức mạnh của mình để lấn lướt các quốc gia khác.   Họ có thể thương yêu và mong muốn hoà bình an vui cho các dân tộc láng giềng như cho chính dân tộc của mình.   Họ có thể dễ dàng đồng ý thành lập một chính phủ chung cho toàn thể nhân loại có đủ sức mạnh và khả năng để kềm chế các nước mạnh, các nước đông dân, muốn ức hiếp các nước yếu. Khi Các quốc gia lớn hết “tham” thì các quốc gia nhỏ cũng sẽ hết “sân”.  Những phí tổn cho chiến tranh, cho quân đội có thể dùng cho nhiều mục đích lợi ích hơn.   Các dân tộc sẽ cùng cọng tác để Trí tuệ của nhân loại được bảo tồn và phát triển (bớt Si).  Tham, Sân, Si giảm bớt, Chiến tranh, đói nghèo và bệnh hoạn sẽ chấm dứt để quả đất này thành chốn “địa đàng” cho tất cả mọi chủng tộc. Đó là nguồn hạnh phúc mà các vị lãnh đạo có thể tạo dựng cho con cháu sau này, lớn lao, bền bĩ, và có ý nghĩa hơn bất cứ thứ “bá chủ” nào xây dựng trên đau thương và hận thù với các quốc gia khác.

Trong cấp bách của tình hình nóng bỏng ở Trung Đông, mặc dầu các phe phái đều là những tín đồ ngoan đạo của các tôn giáo đầy đủ tình thương, nhưng tình thương sẽ không thật nếu ta còn quá yêu chuộng cái ngã của mình (trong tình yêu vợ chồng cũng thế). Đức Phật dạy rất rõ trong kinh Kim Cang rằng: “Bồ tát (người có nhiều trí tuệ và tình thương) chưa có vô ngã thì chưa phải Bồ tát”.  Đúng vậy, vì ngã còn, thì còn phân biệt, còn kỳ thị, còn tham, còn tranh chấp, còn độc tài, còn khó chấp nhận cái hay của người khác.  Nếu Israel và Palestine thấu hiểu được tinh thần Vô Ngã này họ sẽ dễ dàng bỏ đi những cái ngã nhỏ bé của mình để cùng nhau thành lập một quốc gia chung, hùng mạnh hơn, hãnh diện hơn cho con cháu về sau. Đó cũng là xây lại tổ ấm gia đình thuở xa xưa khi cả hai bên còn là anh em, cùng chung huyết thống. Đó cũng là sửa soạn cho một tương lai thật sáng lạn và hạnh phúc cho con cháu muôn đời về sau.  Nếu điều này xảy ra được, tất cả thế giới sẽ sung sướng cảm động, sẽ hổ trợ tối đa cho sự phồn thịnh của quốc gia “thiêng liêng” (sacred) này.

Trong ngày kỷ niệm sự giáng thế của đức Phật Thích ca Mâu Ni, cầu mong nhân loại có thể nhớ được những lời dạy vô giá của bậc giác ngộ.  Cầu mong Israel và Palestine sẽ yêu thương nhau.  Cầu mong Thế giới sẽ “đại đồng” trong thế kỷ này. 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Nguyên Hải, Cao văn Chung

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (1 đã gửi)

avatar
Long Phạm Kim 14/10/2011 09:38:01
Nam mo Bon Su Thich Ca Mau Ni Phat
Con phap danh Tanh Giac
Thanh tam cau mong tat ca chung sanh deu doc duoc , hieu duoc va hanh duoc nhung loi phap nay de moi nguoi tu nhin lai minh de sua doi de thuong nhau hon.Qua do se co duyen de den chua nghe phap va quy y Tam bao .Tu do se bat dau mot cuoc song moi, mot nguoi phung su cho nhan loai va cho phat phap .Cang tu hanh vat va ,cang gap nhiu thu thach chung ta phai co gang vuot qua va chung ta se cang thay thuong va ton kinh Phat vo bien .Vi khong co Phat chung ta se ra sao? The gioi se nhu the nao? ...
Nam mo Bon Su Thich Ca Mau Ni Phat
Nam mo A Di Da Phat
tổng số: 1 | đang hiển thị: 1 - 1

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập