Trang chủ PG & các ngành Xã hội học Phật giáo & Thời đại Phụ nữ và Phật giáo (Femmes et Bouddhisme)

Phụ nữ và Phật giáo (Femmes et Bouddhisme)

Đã đọc: 952           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Nếu Đức Phật từng chống lại sự phân chia giai cấp trong thời đại của Ngài, thì những người Phật giáo hôm nay phải chống lại tất cả mọi hình thức kỳ thị, hung bạo và bất công đã trở thành các cơ chế tự nhiên trong xã hội. Người Phật tử phải có bổn phận làm sống lại quyết tâm của Đức Phật chống lại hệ thống giai cấp vào thời đại Ngài, với sự hỗ trợ mạnh mẽ của chủ thuyết Nhân Quyền ngày nay

           Các vị thầy của tôi dạy tôi ba điều: mỗi chúng sinh đều hàm chứa tiềm năng đạt được giác ngộ; không được gây ra tai hại cho bất cứ ai; nên khơi động tình thương và lòng từ bi đối với tất cả mọi người, không được phân biệt bất cứ một ai.

            Nếu Đức Phật từng chống lại sự phân chia giai cấp trong thời đại của Ngài, thì những người Phật giáo hôm nay phải chống lại tất cả mọi hình thức kỳ thị, hung bạo và bất công đã trở thành các cơ chế tự nhiên trong xã hội. Người Phật tử phải có bổn phận làm sống lại quyết tâm của Đức Phật chống lại hệ thống giai cấp vào thời đại Ngài, với sự hỗ trợ mạnh mẽ của chủ thuyết Nhân Quyền ngày nay .
            Tất cả mọi hình thức kỳ thị, chẳng hạn như phân biệt chủng tộc (apartheid), các đạo luật duy trì sự bất công giữa nam và nữ, hoặc cách đánh giá con người dựa vào giới tính, phải được xem là các hình thức tân tiến nói lên một hệ thống phân chia giai cấp (caste system) trong xã hội ngày nay.
            Bất cứ ai nghĩ rằng mình đã góp phần quá đủ vào việc bảo vệ sự công bằng nam nữ, và cho rằng việc tranh đấu cho công bằng giới tính đã lỗi thời, thì hãy cứ nhìn vào sự thật trước mặt mình xem sao. Hoàn cảnh của nhiều người phụ nữ khiến chúng ta không sao chịu đựng nổi. Nguyên nhân chính yếu nhất đưa đến cái chết của người phụ nữ là sự hung bạo trong cuộc sống lứa đôi. Tỷ lệ thất nghiệp của họ cao hơn nam giới, được học cao là cả một sự may mắn và gian nan cho họ, được thụ phong trọn vẹn vẫn còn là một sự bế tắc..., danh sách còn dài. 
            Tại sao việc loại bỏ các thói quen sai lầm và các khuôn phép bất di dịch trong xã hội chúng ta (trong thế giới Tây Phương) và cả trong các nước Phật giáo (Á Châu) lại gặp quá nhiều khó khăn như vậy? Theo ý tôi, nguyên nhân là "yếu tố con người". Đức Phật dạy rằng chúng ta là kết quả tạo ra từ những gì mà chúng ta suy nghĩ, tất cả những gì đang là chúng ta và các kinh nghiệm cảm nhận của chúng ta, thật ra cũng chỉ là kết quả phát sinh từ tư duy của mình, và đồng thời thì chúng ta cũng tạo dựng ra cả thế giới bằng tư duy của chính mình (đây là ý nghĩa của bốn câu đầu tiên trong kinh Dhammapada/Pháp Cú: tư duy làm phát sinh ra tất cả mọi hiện tượng)
            Theo tôi, tư duy của Đức Phật vượt lên trên tất cả các quan điểm kỳ thị. Nếu những người Phật giáo trong thời đại chúng ta quên đi quyết tâm của Đức Phật và cứ tiếp tục kỳ thị người phụ nữ, thì chúng ta cũng nên tự hỏi xem tại sao lại xảy ra chuyện đó.
            Tôi vẫn tự hỏi vì lý do nào sự bất bình đẳng và kỳ thị người phụ nữ và cả những người nữ tu sĩ lại vẫn cứ tiếp tục xảy ra trong các xã hội chúng ta ngày nay?
            Chẳng qua vì chúng ta quá bám víu vào vào các thói quen và xu hướng của mình. Chúng ta rất sợ sự đổi thay. Thế nhưng bối cảnh của sự sống thì lại biến đổi không sao tránh khỏi được, bởi vì tất cả đều là vô thường.
            Chúng ta phải giữ việc tu tập cũng như cung cách hành xử của mình luôn phù hợp với những lởi giáo huấn của Đức Phật, của Chúa Giê-xu hay bất cứ một vị thầy tâm linh nào. Nếu nhận thấy chúng không còn thích nghi nữa thì bổn phận của thế hệ chúng ta là phải sửa đổi như thế nào để có thể mang lại lợi ích cho các thế hệ mai sau (quả là một câu phát biểu thật ý nhị, tiếc thay nhiều sự kiện - thuộc lãnh vực tâm linh cũng như  sự hợp lý trong xã hội - cho thấy hoàn toàn đi ngược lại với lương tâm và lý trí con người, thế nhưng chúng ta vẫn bám víu vào những thứ sai lầm, ngu xuẩn và cứng nhắc đó để mang lại khổ đau cho mình và kẻ khác, hết thế hệ nảy sang thế hệ khác).  
            Qua kinh nghiệm của riêng tôi, thì quả hết sức khó khăn và đau buồn khi phải từ bỏ các thói quen và các xu hướng vô minh và bám víu của mình. Luôn phải cần đến thật nhiều can đảm và quyết tâm mới có thể giúp mình vượt lên trên những sự từ bỏ ấy. Thế nhưng cũng nhờ vào kinh nghiệm của riêng tôi, mà tôi có thể cam kết với quý vị rằng ngay từ lúc mà quý vị bắt đầu biết hướng vào sự từ bỏ, thì cũng ngay từ lúc đó, một sự nhẹ nhõm vô biên và sự giải thoát cũng sẽ bắt đầu hiện ra với quý vị. Chẳng phải tất cả chúng ta (dù là người Phật giáo hay không Phật giáo cũng thế) đều mong cầu đạt được sự giải thoát tối thượng hay sao?
            Thế nhưng nếu muốn từ bỏ thì phải làm thế nào bây giờ? Chúng ta hãy mượn một tiết thơ trong Therighata (Trưởng lão ni kệ) của ni sư Abhirupa-Nada hầu vạch ra một hướng đi cho mình: "Hãy loại bỏ thói quen xem mình cao hơn, thấp hơn hay ngang hàng với kẻ khác ..." (tất cả chúng ta cũng chỉ là con người như nhau, cũng  vô minh, thiển cận và bám víu như nhau. Tất cả những sự phân biệt, kỳ thị, các quy luật, thói tục, truyền thống đều là sản phẩm của vô minh phát sinh từ tâm thức con người. Cởi bỏ được những thứ ấy sẽ giúp chúng ta dù vẫn còn là con người, nhưng là một con người khác hơn, nhẹ nhõm và tự do hơn, giải thoát hơn).
            Tiết thơ thật ngắn trên đây khuyên chúng ta trước hết hãy nhìn vào thái độ của mình đối với chính mình và không nên tự đánh giá mình để phân biệt mình với kẻ khác. Sau đó nếu áp dụng được cách hành xử đó trong xã hội thì nhất định chúng ta sẽ thực hiện được nhiều tiến bộ hơn.
            Phật giáo là một tín ngưỡng chống lại các hình thức giáo điều (antidogmatic) và quan niệm rằng duy trì chủ nghĩa bảo thủ về văn hóa và tín ngưỡng là một chủ trương gây tai hại (préjudiciable/detrimental) cho sự phát triển của con người và xã hội.
            Đức Phật luôn khuyên các đệ tử của Ngài hãy tự tìm kiếm người thầy hướng dẫn mình từ bên trong của chính mình ("Tự đốt đuốc soi đường cho mình, tự biến mình trở thành một hòn đảo làm nơi an trú cho chính mình", Maha-parinibbana sutta/Đại bát Niết bàn kinh).
            Trước khi chấm dứt tôi xin trích dẫn một đoạn dưới đây trong bài diễn văn của Đức Đạt-lai Lạt-ma đọc trước Hội Đồng Liên Hiệp Quốc: 
            "Tất cả chúng ta đều mong cầu hạnh phúc và tránh không mang lại khổ đau cho kẻ khác, thái độ đó vượt lên trên chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quy chế xã hội. Duy trì sự đa dạng không phải là một lý do chính đáng nhằm bào chữa bất cứ một sự vi phạm nào về nền tảng nhân quyền (chủ trương sự độc đoán lại còn là một sự vi phạm nặng nề hơn nữa). Vì thế, mọi sự kỳ thị trên phương diện con người và sự khác biệt chủng tộc, chống lại người phụ nữ và chống lại những kẻ nghèo khó trong xã hội, dù là mang tính cách truyền thống của một số tín ngưỡng nào đó đi nữa, cũng không thể xem là có giá trị trên phương diện toàn cầu, và nhất định là phải được loại bỏ. Tóm lại là phải đặt nguyên tắc bình đẳng toàn cầu lên trên tất cả".

Bà Gabriela Frey và các ni sư Tây Tạng vùng Bắc Ấn


Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập