BẢN SẮC KHOA HỌC trong đạo Phật

Đã đọc: 315           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Theo Phật học thì từ lâu…sự phát minh của con người “rõ ràng đã là hiệu lực của sự kích thích viễn tượng (perspective) của những cái “THẤY” do tâm thức AN ĐỊNH (pleine conscience, esprit concentré), và TRẢI NGHIỆM (expérience) đối trước các phương tiện mưu sinh, của hỗn hợp thể xác và tinh thần”. Từ đó, những khối óc xuất sắc đã khám phá ra nhiều THỰC TRẠNG LÝ HÓA HỮU DỤNG, thiết lập rồi bổ túc, và hình thành toàn bộ những giai đoạn văn minh nổi bật, -đặc biệt là tiến bộ cơ khí”, thuần túy HƯỚNG ĐỘNG!

Bài 1

*Liên quan đến “Thập Nhị Nhân Duyên”.

(Paticcasamuppàda)

<>Xưa nay, ít ai ngờ rằng “tư tưởng khoa học rất có thể đã bắt nguồn từ Phật học”. Hay nói cách khác, “nội dung GIÁO LÝ của bậc GIÁC NGỘ” (Sammà Sambuddha), đã là NỀN TẢNG TỰ NHIÊN của phẩm cách THẤY ĐÚNG (chánh kiến) và SUY NGHĨ ĐÚNG (chánh tư duy), dẫn đến sự KHÁM PHÁ ra các THỰC TẠI sự sống, dựa trên LIÊN QUAN LÝ HÓA (=nhân quả) và những “BIẾN HÀNH TƯƠNG DUYÊN”, như khoa học đã và đang làm.

Nhưng khoa học chỉ chú trọng vào vật chất cụ thể, -trong khi đó thì Phật giáo lại thuyết minh đến CẢ HAI PHƯƠNG DIỆN là vật chấttinh thần. Nhất là Phật học vô tư làm nổi bật các “LIÊN QUAN TÂM VẬT” của mọi hiện tượng, HỮU HÌNH lẫn VÔ HÌNH (thấy được hay không thấy được), đang tuần tự vận hành, đồng thời biến hóa trong khung cảnh sống !

Theo Phật học thì từ lâu…sự phát minh của con người “rõ ràng đã là hiệu lực của sự kích thích viễn tượng (perspective) của những cái “THẤY” do tâm thức AN ĐỊNH (pleine conscience, esprit concentré), và TRẢI NGHIỆM (expérience) đối trước các phương tiện mưu sinh, của hỗn hợp thể xáctinh thần”. Từ đó, những khối óc xuất sắc đã khám phá ra nhiều THỰC TRẠNG LÝ HÓA HỮU DỤNG, thiết lập rồi bổ túc, và hình thành toàn bộ những giai đoạn văn minh nổi bật, -đặc biệt là tiến bộ cơ khí”, thuần túy HƯỚNG ĐỘNG!

Đáng tiếc, đa số những chuyên gia phát minh, ít ai chịu đặt câu hỏi “viễn tượng nào có thể dẫn đến sáng tạo nhu cầu nào” (-đáp ứng vật chất hay đáp ứng tinh thần ?), có năng lực đủ mạnh để “kích thích bộ óc con người” (!), để xác nhận CHỈ NAM cho những “khái niệm sơ khởi về khoa học” trong hỗn hợp TÂM VẬT đang sinh hoạt nặng về sự sống ?

<>Xin nói thẳng rằng, ẤY  không phải duy nhất là kích thích bỡi “viễn tượng nhu cầu vật chất” (vật liệu, bản năng), mà ẤY còn là kích thích của “viễn tượng nhu cầu tinh thần” (tạm đặt tên là “đáp ứng giòng điện tâm sinh”), vừa thuận lẫn vừa nghịch, vận hành một cách tương dung lẫn tương phản, cần thiết cho mọi “mạch sống” trong thân thể sinh động vật, đặc biệt là con người.

Và hiển nhiên, “sự sống THANH TỊNH, TỈNH GIÁC”, là vận hành quân bình lành mạnh sẽ biến hóa tốt nhất cho“giòng điện tâm”. Phẩm cách ấy đối với đạo Phật là “PHƯƠNG TIỆN CHỦ LỰC” để xác định các “nguồn gốc” của trí tuệ, của phát minh và của tiến hóa, vẫn chưa được nhiều khoa học gia nhìn nhận, và phổ biến đến nhân loại, như một NỀN TẢNG bình an hạnh phúc, để khuyến khích nhân loại thường xuyên sống thanh tịnh.

<>Cho đến nay, hai chữ “GIÁC NGỘ” vẫn chưa được “tìm hiểu” một cách chính xác, là “biết đúng MẶT THẬT của sự vật”. -Hoặc Đức “PHẬT” chưa được xác nhận là một “NHÂN VẬT TOÀN TỊNH” có năng lực thấy biết tận cùng CHIỀU SÂU của mọi vấn đề, chứ NGÀI không phải là một “thần linh” để “ban phước xá tội”. “Phật là một Con Người Thuần Khiết”, không có tâm xung đột với bất kỳ ai. Ngài sống bằng trọn vẹn tâm TỈNH THỨC, đầy nội lực NHẬN DIỆN ĐÚNG mọi tiến trình đổi thay và biến thiên trong thực tại.

Hay Phật là HIỆN THÂN của “năng lực tuyệt sáng”, với “mắt tâm thấy rõ” vạn vật một cách vô ngăn ngại. Từ đó, Phật có thể minh sát (vipassati), biết tất cả những vận hành cực tiểu (micro) lẫn cực đại (nano) của mọi hiện hữu, giữa vũ trụ mênh mông. -Ví như trong khoa học ngày nay, người ta dùng “siêu kính hiển vi” hay “siêu viễn vọng kính” là để “THẤY RÕ” đối tượng (trong mọi hoàn cảnh) vậy !

Từ đó, “các pháp” Phật nói ra, vốn không phải là những diễn tả thường tình, chỉ căn cứ trên hình thức (tạm thời), mà ấy là “NHỮNG THÔNG ĐIỆP” của “siêu khoa học” và của “khám phá tuyệt vời” trong vũ trụ, cực đại cũng như cực tiểu.

Dĩ nhiên, dùng đôi mắt thịttư duy phàm phu, con người không thể thấu đáo được SỰ THẬT. Lý do, là khả năng con người tục lụy luôn luôn bị tham dục khống chế.  Cái biết của họ chỉ là những “QUI NẠP trễ thời”, dựa trên bề mặt của vật chất hóa học, phối hợp với cảm giác tâm lý chật hẹp trong mỗi cá nhân.

<>Tuy nhiên, kể từ khi khoa học ĐIỆN TỬ (électronique) và LƯỢNG TỬ (quantique) ra đời đến nay, nhiều nhà khoa học đã ngẫu nhiên tìm thấy những tương đồng rất xứng đáng trong kinh điển nhà Phật, liên quan đến các khám phá khoa học. Tiêu biểu nhất là nguyên tắc “PHẢN ĐỘNG VÌ CÓ ĐỘNG” (action-réaction = kamma vipàka paccaya) trong khoa học, đối chiếu với qui trình “NHÂN DUYÊN QUẢ TƯƠNG QUAN” (causes et effets interdépendants = paticca samuppàda) trong Phật giáo. SỰ THẬT tương quan ấy đã thay đổi tư duy của con người, dù cho “thuần túy duy vật”, kể cả các nhà khoa học.

Và “hiện tượng” đó cũng làm cho hầu hết “trí thức” trên thế giới nói chung, và trí thức theo đạo Phật nói riêng, không thể không nhìn thấy “bản sắc khoa học” trong ĐẠO PHẬT, để không những củng cố niềm tin, mà còn xác chứng là mình tin đạo Phật chẳng phải là mê tín.

<>Khi cống hiến loạt bài nầy, chúng tôi hoàn toàn không muốn rơi vào “vết xe chủ quan”, mắc dính thiên kiến, để bồng bột dựa vào những “trích dẫn” vô căn cứ. Chúng tôi chỉ sưu tập những ĐIỀU TƯƠNG XỨNG, được kiểm chứng một cách vô tư, liên quan đến giáo lý nhà Phật, mà các nhà khoa học đã đề cập.

Có lẽ trước khi trình bày, các khoa học gia đã “nghiên cứu” qua Kinh Điển Phật giáo, và thẳng thắn qui nạp những “Phật ngôn căn bản”, dựa trên “THỰC HÀNH” của đức Phật. Rồi họ so sánh với các diễn tiến khoa học, để thấy rằng, Phật luôn luôn khuyên các đệ tử áp dụng đúng giáo PHÁP giác ngộ, mới có thể đạt được mục đích. Đó chẳng khác nào CÔNG PHU THỰC NGHIỆM trong khoa học.

Nghĩa là cách thức mà Phật cải thiện hành động con người, khá giống như “KỸ THUÂT SÁNG TẠO, RÈN LUYỆN, và BỔ KHUYẾT” (creation, entrainement et perfection), đưa đến kết quả mỹ mãn trong khoa học.

<>Sau đây là một vài sưu tập khiêm nhượng, liên quan đến “bản sắc khoa học” của đạo Phật, mà chúng tôi đã thu lượm được, từ những tài liệu khám phá, trong văn minh nhân loại. Nhiều khoa học gia đã vô tư phát biểu (về Phật ngôn) rằng bản sắc khoa học ấy, chẳng những có mặt trong lãnh vực phát triển TINH THẦN, mà còn đủ khả năng cải tạo vật chất nữa, nhằm bổ khuyết cho sự sống không tránh được hai khuynh hướng “duy vật” và “duy tâm” trong xã hội hiện tại.

-Không như “KHOA HỌC” ngày nay, luôn luôn hướng về cung cầu đời sống, chỉ chú trọng đến “tối tân hóa vật dụng”, tuân theo tiếng gọi của đòi hỏi năm cảm quan. “NÓ” đã trở thành đầy “quyền lực”, mỗi ngày một trở nên “ƯU TIÊN” đào sâu vào sự “sáng tạo” và “chế biến vì lợi nhuận”, (nhiều khi còn “MÉO MÓ” cả công thức gốc, nhằm mục đích thương mại, thõa mãn sự đầu tư, hơn là “khoa học phục vụ con người”! -Một tình trạng rất đáng buồn, hay biến “khoa học trở thành kỹ thuật giả mạo”, bất chấp lương tri, làm bạc nhược ánh sáng của giòng ĐIỆN TÂM, hay TRÍ TUỆ (Nàna) !

Nhưng thành quả (=cứu cánh) của đạo Phật thì hoàn toàn khác. “Khả năng chính” của  GIÁC NGỘ (Sammà Sambuddha) là tâm linh cường tráng, sáng suốt, tinh khiết, vô cực, hóa giải hết VÔ MINH (avijja), dẹp bỏ ngu si vìhưởng thụ. “Hoa trái đầu tiên” của HIỆU LỰC đó là CHÁNH KIẾN (sammà ditthi), một “tuyệt phẩm” (Agga parami) trong Bát Chánh Đạo (Atthangika magga) thuộc Phật học.

Với “Bản Sắc Khoa Học”, Phật giáo nêu vấn đề và thuyết minh rằng :

-MọiHIỆN HỮUđều đếntừ tình trạng “AVIJJÀ” = “VÔ-MINH (Pali).

Chữ “Avijjà” ở đây có nghĩa triết học đặc biệt, là “không rõ”, “chưa biết”. Danh từ Phạn ngữ “Avijjà” này, xưa nay cũng còn được dịch thông thường là “vô minh”. Nếu viết ra “dạng gốc”, thì chúng ta có VIJJAtrong sáng, ngược lại vớiAVIJJÀ, mờ đục, không rõ, hay u-minh, tranh tối tranh sáng, không giúp phân biệt được thật giả chân ngụy. Hiệu lực của VÔ MINH (Avijjà)là tạo ratoàn bộ lẫn lộn.

-Ngoài ra, vai trò của tiếp đầu ngữ “A” trong một số trường hợp chuyên chở cái nghĩa “phủ định”, còn ám chỉ “sự không thật có” hay “chẳng phải là”. Ví dụ “ANATTÀ” nên hiểu là “không thật có ngãhay “chẳng phải là ngã”.

Xin phép nói ra ngoài đề một chút :

<>Người ta LẦM TƯỞNG cho rằng, “một phần” hay “tất cả 5 uẩn” (=Panca khandhà gồm sắc, thọ, thưởng, hành và thức) là bản vị nhất định của cái tôi (=ngã). Nhưng trong chiều sâu, sắc thọ tưởng hành thức hợp thành “THÂN TÂM” con người, chỉ là “hội đủ điều kiện” và tạm thời, vô thường, phù du, chẳng bền vững. “NĂM UẨN” ấy xuôi theo chu kỳ sinh lão bệnh tử, hiện hữu rồi biến mất, sau cùng sẽ hoàn không. Cái bản vị “TÔI” hay “NGÔ trong sự hợp tan ấy, vốn KHÔNG CÓ (natthi).

<>Để nói lên sự thật rốt ráo, Phật học tiếng Phạn nêu ra chữ “ANATTA”, chúng tôi thiết nghĩ cần phải dịch“anatta=không phải ngã”. -Hay nói trọn câu “ngũ uẩn chẳng phải là ngã”, hoặc “trong ngũ uẩn, không có “ngã”, không có “cáiTÔI vĩnh viễn”. -Nhưng Phật học KHÔNG XÁC ĐỊNH một cách cứng ngắc rằng “tuyệt đối KHÔNG CÓ gìtương với “MỘT PHẨM GIÁ”! Tức là Phật học chỉ nói về “NGŨ UẨN” ! Theo Phật học, “đoạn diệt” cũng là một loại tà kiến (miccha ditthi). Cực đoan nầy hằng có thể triệt tiêu sự tiến hóa, giác ngộ ! Trong CHÁNH KIẾN không có ĐOẠN DIỆT !

-Còn việc…ngoài NGŨ UẨN ra, CÓ phẩm cách gì xứng đáng với “tính SIÊU THOÁT” của một bậc THÁNH NHÂN (Ariya Puggala) hay KHÔNG (!), thì Phật học “không khẳng định một cách tuyết đối”. Chúng ta cần minh bạch điều này, sự mâu thuẫn sẽ đưa đến “lăn lộn”, không “thông thoát” một cách toàn xả được !

<>Tóm lại, từ ngữ Pali “Avijjà”(vô minh) ám chỉ tình trạngâm u”. Vì VÔ MINH (avijjà), mà tâm thức “không thấy rõ” hay KHÔNG BIẾT RÕ. -Và nếu “thấy” thì “thấy lờ mờ”, “biết lờ mờ”, “thấy không đúng”. Từ đó, VÔ MINH luôn luôn bao phủ, kích thích, khuấy phá sự “AN TĨNH”, làm cho TÂM THỨC trở thành“vọng động”, có tật hướng đến cái gì không bao giờ chính xác, hằng biến…thúc đẩy phát sinh “tình trạng” gọi là VỌNG TƯỞNG, mơ ước các “hiện hữu chỉ một thời, để về sau nó hoàn KHÔNG thì hụt hẩng, thất vọng”.

Quay lại phẩm cách “NGUYÊN TĨNH” chưa hướng động, thì hoàn toàn VẮNG LẶNG (tịch không). “Phẩm cách” nầy, trí óc thường xuyên chao đảo của người còn dục vọng, thì không thể biết được, kể cả các cá nhân “rất thông minh” được xếp và hàng“thượng hạng”.

Theo nhà Phật, “khả năng siêu việt” (abhinnà) khám phá được thực trạng “NGUYÊN TĨNH” (=nirvana=nibbàna) nầy vốn không có tên gọi, vì ngôn ngữ của loài người vốn hoàn toàn bị giới hạn bỡi THAM, SÂN, SI. Ngôn ngữ ấy chỉ thích hợp để diễn tả tính hiếu động lẫn biến hóa vụ lợi không ngừng, bất định mà thôi. “Ngôn ngữ” ấy thiếu hẳn tính soi sáng, nên trong mọi trường hợp, nó không thể đúng đắn khi ám chỉ “sự thật”. Người ta vẫn cho rằng “ngôn ngữ là con dao 2 lưỡi » khi NÓ chỉ thuần túy là lý thuyết !

<>THÁNH NHÂN đã nói “NGUYÊN TĨNH thì vô biên, không thu hẹp, không bành trướng, bất khả thuyết, bất khả tư nghì” (=chẳng thể nói ra, chẳng thể nghĩ bàn). Nhưng HƯỚNG ĐỘNG (uddhacca) thì ngược lại, đầy tiềm lực biến đổi dây chuyền, trùng trùng duyên khởi, rất khó chấm dứt. Và chỉ có bậc TUYỆT TỊNH (hay Phật) mới minh sát được. Còn phàm nhân thì dù “học rộng đến đâu”, cũng không thể “nghĩ đúng” về  “NGUYÊN TĨNH” !

Khi đối chiếu “Phật học với Khoa học”, chúng ta lại nhận thấy rằng, “VÔ MINH” (Avijjà = âm-u hay không rõ) chính là duyên khởi của mọi tình trạng “SAU SỰ NỔ LỚN” (Post-BIG-BANG)… Từ đó lập thành VŨ TRỤ mà khoa học gọi là “từ VÔ CỰC sang LƯỠNG CỰC, rồi đến ĐA CỰC”, trong mọi HỖN HỢP TƯƠNG ĐỐI ngày nay (!).

<>Như vậy, từ ngữ Pali có nghĩa ngược lại với VÔ MINH (avijjà) là MINH (vijjà), phải chăng là “biểu thị” của cái “thông số”, để tháo gỡ được TÍNH PHỨC TẠP của cuộc “NỔ LỚN” (Big-Bang) !?. Nếu “MINH” và “VÔ MINH” hằng khắc chế nhau, thì “MINH” cũng “đối lập hẳn” với VẬT CHẤT ĐEN. Tất nhiên là “NÓ” đã không “lộ ra” trước khi “NỔ LỚN”, vì “NÓ” nằm bên trong “VẬT CHẤ ĐEN”. Người ta có thể tạm mệnh danh NÓ một cách qui ước, là “VẬT CHÂT TRẮNG” (Matière Blanc). Và vì “MINH” không “dung hòa” được với “HỖN ĐỘN” của VẬT CHẤT ĐEN, nên đã “gây ra” cuộc “NỔ LỚN”. Người ta dù không bao giờ biết “xuất xứ” của “VẬT CHẤT TRẮNG ấy, nhưng người ta có thể biết THỰC TẠI của NÓ là TINH KHIẾT...!

<>Trong bài Pháp đầu tiên, tên CHUYỂN PHÁP LUÂN (Dammacakkappavattana Sutta) của Đức Phật, chữ MINH (Vijjà) đã được nhắc đi nhắc trong nhiều đoạn, chứng tỏ rằng NÓ là “tiền đề” của GIÁC NGÔ giải thoát, hay của “Niết-bàn” (Nibbàna), xin trích một đoạn ngắn :

                                        “…Cakkhum udapàdi, Nànam uadapàdi,

                                    Pannà udapàdi, VIJJÀ udapàdi, Àloko udapàdi…”.

-Tạm dịch một cách “diễn giải” :

“Tứ DIỆU ĐẾ (gồm Khổ-Tập-Diệt-Đạo), nhất là ĐẠO ĐẾ vốn trước đây chưa từng được nghe, nhưng có khả năng làm phát sinh THẦN NHÃN, làm phát sinh THIÊN THỨC, làm phát sinh TĨNH TUỆ, làm phát sinh THÁNH MINH, và làm phát sinh sự SOI SÁNG…”

Còn nói về “nguyên nhân” của sự NỔ LỚN, thì các nhà khoa học không gian, đã tiết lộ một cách “còn phải kiểm chứng” rằng, “nổ lớn có thể đến từ sự va chạm toàn diện (do HỖN ĐỘN), -vì chỉ có “VA CHAM TOÀN DIỆN” mới “SINH RA VŨ TRỤ” (muôn hình vạn trạng) như thế ! CÁI “NGUỒN GỐC” hay “tác giả của VA CHẠM BÍ ẨN” ấy,cũng được tạm đặt tên là “HUYỀN HOẶC”(!), nói nom na là “VẬT CHẤT ĐEN” (matière noire).

Và không nhà bác học nào nói rõ “vật chất đen” là gì (?) Họ dùng bổ túc từĐEN”, chỉ vì NÓ không thể bị “khám phá hay nhận diện” bỡi bất cứ hệ thống “MẮT ĐIỆN TỬ” nào, dù cho tối tân nhất, -khoan nói đến khả năng đôi mắt thịt. Nghĩa là “VẬT CHẤT ĐEN” ấy là một “THỰC TẠI” không thể truy ra nguồn gốc !

-Quay sang Phật học, chúng ta lại nhận thấy có điểm “tương quan” rằng, “VÔ MINH (Avijjà) cũng KHÔNG CÓ xuất xứ”. Nhưng Phật ngôn còn nêu, “VÔ MINH là khởi điểm của LUÂN HỒI”. Còn khoa học thì qui nạp “Vũ TRỤ thành hình do cuộc nổ lớn của “vật chất đen, hay “VẠN VẬT tự tạo”, sau sự “VA CHẠM TÒAN DIỆN” (= “xung đột ĐA CHIỀU”).

Từ đó suy ra, “VÔ MINH chính là thực tại SAU CUỘC NỔ LỚN” (Big-Bang).

Nếu Đức Phật nhờ TUYỆT TỊNH mà biết được “nguồn gốc của vô minh”, thì khoa học nhờ qui nạp mà tiết lộ“SỰ VA CHẠM TOÀN DIỆN” của “VẬT CHÂT ĐEN” là nguồn gốc của “tạo hóa”, do đó “vũ trụ xuất hiện”.

Tóm lại, “VÔ MINH” chính là KẾT QUẢcủa“HẬU KHỞI ĐỘNG” (= vọng tưởng), và là “KHỞI ĐIỂM của luân hồi” (xoay vòng).

<>Để thoát khỏi bế tắc, Phật học đã tạm cho rằng “VẬT CHẤT ĐEN” là tình trạng “NGUYÊN HỖN ĐỘNkỳ quặchuyền bí, mà “Bậc Toàn Giác” (Sammasambuddha) (hay Đức Phật) đã biết, nhưng sự “kỳ diệu đen” ấy nằm ngoài tầm tri thức của người phàm, nên nhất thời chúng ta hoàn toàn bất lực !

<>Muốn biết “VẬT CHẤT ĐEN” (matière noir) là gì, chúng ta phải tu tậpđạt tới CỰC TỊNH (=viên tròn thanh lọc thân tâm), như khoa học vẫn ứng dụng từng công thức, đến nơi đên chốn, để trải nghiệm các kết quả một cách hợp lý và khách quan, (tương đương với CHÁNH KIẾN (Samma Ditthi), và CHÁNH TƯ DUY (Sammà Sankappo), trong Bát THÁNH ĐẠO nhà Phật. Đồng thời, các nhà khoa học cũng như “người tin Phật” còn phải vô tư (TOÀN XẢ) nghiên cứu những gì đang vận hành “làm duyên” (hay môi trường), tức là nhận diện vạn vật đang thay đổi lý hóa....hiện ra rồi biến mất, biến mất rồi hiện ra…-xuyên qua vô số những chu kỳ HỢP TAN DUYÊN HỆ (luân hồi), thì may ra chúng ta mới có thể CÓ khái niệm phần nào, CÁI gọi là vật chất ĐEN(matière noir=Avijjà).

Mặt khác, tinh thần của chúng ta còn phải luôn luôn thuần thục cởi mở, bình đẳng, hỷ xả…để thường xuyên trải nghiệm và xác chứng, một cách thanh tịnh rằng, TÍNH VÔ CHẤP vốn là “bản sắc khoa học đích thực”, hoàn toàn không còn “mắc dính” vào bất cứ sự gì kể cả văn tự, ngôn ngữ... Để có thể “thấy rõ” chữ “ĐEN” không “luôn luôn” ám chỉ cáitính thấp(bất lành, cặn bã)… thường bị người phàm (nhiều thành kiến) xem là xấu. -Ví dụ “màu đen”, “xã hội đen”, “đêm đen”...v...v....

Nhóm chữ “VẬT CHẤT ĐEN” ở đây chỉ là một cái tên tạm gọi, để nói đến một “thực trạng hỗn độn huyền bí”, mà khả năng tri kiến của con người khó có thể “nắm bắt” được !

Theo Khoa Học Vật lý, vũ trụ đối với “tâm thức” là một “hiện tượng vô biên” chứa vô số “VI THỂ” (hay vật chất cực nhỏ), mệnh danh là “phân tử” (molecule). Và mỗi “VI THỂ” hay “phân tử” (kalàpa) ấy, lại chứa nhiều vi thể nhỏ hơn nữa, là “nguyên tử” (atomes). Rồi mỗi “nguyên tử” (atome) lại gồm những “âm điện tử” (électrons) di động vòng ngoài, và có những “dương điện tử” (protons) tự vận hành liên tục bên trong. Tất cả không ngừng xáo trộn theo chu kỳ, xoay vòng một cách “tự động”. Nhờ đó có “nhiệt năng” hay sức nóng…

<>Riêng “HƠI NÓNG” nơi thân tâm con người lúc còn sống, nếu được ghi nhận từng giây từng phút, thì “tâm thức” của chúng ta, khi CỰC TỊNH (ekaggatà, ĐỊNH sinh TUỆ), cũng có thể biết rằng, đó chỉ là sự “cháy ngầm” do “TIẾP CẬN, KẾT HỢP, VA CHẠM…của những phân tử hữu cơ trong thân thể, THẢI RA NĂNG LƯỢNG”, để “tiếp nối sự sống” của những “khối vật chất kếp hợp dây chuyền” (=quả của NGHIỆP). Từ đó, hơi ấm được “duy trì” có hệ thống trong cơ thể, dưới dạng một “GIÒNG NHÂN ĐIỆN” liên tục “phát tán”… “HƠI NÓNG” ấy luôn vận hành xoay chiều và “phản chiếu tương tác”.

Còn hiệu lực của NÓ thì có hai mặt, là TỎA SÁNG vào “bên trong NỘI TÂM” gọi là TRI KIẾN, và CẢM ỨNG ra “bên ngoài” gọi là GIÁC QUAN.

Rồi hiệu lực tự nhiên trở thành “nền tảng” của hiệu lực MỚI, liên tục giúp cho các giác quan kết nạp trần cảnh”, do NGOẠI TRẦN không ngừng “dội vào 5 cửa” (=mắt, tai, mũi lưỡi và làn da)…suốt kiếp sống. -Nghĩa là xuyên qua các giác quan, những “DẤU ẤN từ XUNG QUANH” lẫn “từ BÊN TRONG”, luôn luôn được tích tụ, để gọi là “TẬP ẤM” hay “TẬP KHÍ” (kho tâm cảnh “a-lại-da liên kiếp”), làm “yếu tố linh hoạt”, nuôi dưỡng SỰ SỐNG (hiếu động) bao trùm vạn vật.

Như đã nói ở 1 đoạn trên, các khoa học gia vật lý, sau nhiều năm khảo cứu, đã tiết lộ rằng, ĐIỆN là “vật có sẵn trong vũ trụ”. MỖI “đơn vị cơ bản” (nhỏ nhất)của ĐIỆN, vốn là sự “phóng thích” từ TÍCH HỢP (fission) của 1 “âm điện tử” (électron) và 1 “dương điện tử” (proton). Chuyển vận nầy “xảy ra” trong “chiều sâu tận cùng” của “cấu kết vật chất”, phải ở dạng “nguyên tử”, không thể nhỏ hơn nữa. -ĐIỆN và THÂN NHIỆT là 2 mặt của 1 vấn đề.

Khi chúng ta hỏi “điện là gì” và “giòng điện do đâu xuất hiện”, thì 2 câu trả lời tổng quát, gồm có “ĐIỆN là năng lượng” (energie quantique); còn “GIÒNG ĐIỆN” là “CHUỖI năng lượng” (chaine d’énegie quantique). Nhưng cầncụ thể hơn”, người ta phải “dựa vào phối hợp kim loại DYNAMO” để “chỉ ra” “nguồn xuất phát”. -DYNAMOlà một tích hợp, trong đó có «chuỗi lôi kéo khứ hồi của nam-châm thuận và nghịch, bị kết lại” (chaine d’énergie générée par 2 champs magnétiques opposés).

Còn nếu chúng ta hỏi tiếp về “NGUỒN GỐC NGUYÊN THỦY” của “ĐIỆN hay năng lượng énergie quantique, thì câu trả lời lại “lơ lửng” : “Đó là sự va chạm toàn diện của vât chất đen” trong vũ trụ. Câu trả lời nầy «chạm đến» một bí ẩn năng lượng CỰC LẠ, không cho phép chúng ta đi xa hơn ! -Bỡi VŨ TRỤ là một «vấn đề» vừa CỤ THỂ vừa HUYỀN BÍ. -Mà “ĐIỆN” hay “NĂNG LƯỢNG THIÊN NHIÊN” là một hiệu lựccủa chuyển động vật chất đen hỗn độn, «tạo ra» cái «vũ trụ huyền bí», vô biên nầy.

Sự “CHUYỂN ĐỘNG HUYỀN BÍ” ấy là “tình trạng cọ xác toàn diện và tạo nhiệt”. “Vũ trụ là một môi trường cháy ngầm ở mức độ vô cực”. Nghĩa là, “Nếu tất cả không chuyển động, không cọ xác, không đốt cháy, không phát nhiệt” thì vũ trụ đã không thành, mà đã không thành hình thì làm gì có ĐIỆN, hay có NĂNG LƯỢNG TỰ NHIÊN ?!

<>Đến đây chúng ta chợt thấy rằng, vấn đề phải nêu ra…chính là “nguyên nhân” (lý do nguyên thủy) của “CHUYỂN ĐỘNG”, chứ không phải hậu quả của CHUYỂN ĐỘNG (hay ĐIỆN) ! -Dù cho chúng ta có thể thí nghiệm biết rằng, “đó là HIỆU LỰC của sự cọ xác cực vi, và xoay chiều liên tục, từ ÂM chuyển ra DƯƠNG, rồi từ DƯƠNG trở lại ÂM. Cả hai «đổi chỗ nhau», do «mệnh lệnh» của VẬT CHẤT ĐEN (huyền biến=matière noir mystique).

-Như thế, hai nguyên lý “ĐỘNG” và “TĨNH”, tức  là “hai bản thể cực vi” vốn là “mấu chốt” của CHUYỂN ĐỘNG. -Hay “mấu chốt” của hai “NGUYÊN LÝ” (âm dương đối nghịch), luôn “nằm trong sai biệt vận hành” của DUYÊN KHỞI. Nhưng DUYÊN KHỞI thì BẤT ĐỊNH…vì trong cực tịnh không có duyên khởi. Người ta chỉ tạm «khái niệm» rằng, DUYÊN KHỞI (paticca samuppada paccaya) là hậu quả của «bản thể tịnh chuyển sang bản thể động» và ngược lại…để sau đó TĨNH và ĐỘNG  tương quan vận hành kéo dài….

«Bản thể động» hay duyên khởi tiếp tục một cách DÂY CHUYỀN theo những «độ sai biệt có chu kỳ», tạo ra chiều lệch, để chuyển hướng tự quay lại, thì Phật học đã tiết lộ, và xem đó là khám phá kỳ diệu độc nhất vô nhị của Đức Phật, sau khi Ngài dắc quả «Chánh Đẳng Chánh Giác» (Samma sambuddha) dưới cành cây Bồ-đề !

Nhưng khi ta thu hẹp vũ trụ mênh mông vào một “tinh tú”, như “thái dương hệ” chẳng hạn, -hay khi thu hẹp vũ trụ vô biên kia vào một “hành tinh”, như “địa cầu với bầu khí quyển” chẳng hạn, thì khoa học lại xác nghiệm “SỰ CHUYỂN ĐỘNG” (movement) chính là HIỆU LỰC đến từ “TÍNH HÚT” (gravité) và “TÍNH ĐẨY” (repulsion), của “tất cả những gì THUẬN lẫn NGHỊCH, hợp thành cái «hệ thống liên hoàn tự nhiên xung đột ấy».

<>Chắc chắn các nhà khoa học duy vật chỉ căn cứ vào chừng nầy !

Do đó, nếu bảo “nguồn gốc” của “CHUYỂN ĐỘNG” là “nguyên hành”, và tìm hiểu tận cùng cái “nguyên hành” (sankhàrà) kia, bằng câu hỏi “do đâu có SỨC KÉO và SỨC ĐẨY”, thì vấn đề sẽ mở ra nhiều manh mối, có liên quan tới giáo lý “DUYÊN KHỞI” trong nhà Phật.

*Nói về DUYÊN KHỞI (Paticcasamuppàda)

<>Hãy bắt đầu bằng tình trạng VÔ MINH (=Hậu thân của «chuyển động vật chất ĐEN).

-VÔ MINH (avijjà) là “không biết rõ thực trạng”. Đây phải chăng là NGUỒN GỐC (hetu paccaya) của tất cả VỌNG ĐỘNG (sabbuddhacca), thúc đẩy TÌM KIẾM “một cái gì đó” hoàn toàn chẳng xác định ?! -Phật học gọi ấy là «Vô minh duyên hành»(Avijjà paccaya sankhàrà).

-Rồi “HÀNH” (sankhara) tức là “khuynh đảo chiều hướng”, -tự NÓ vốn chứa hai chiều bất kỳtrái nghịch nhau, -như ĐẾN” (hút) và «ĐI» (đẩy), hay “KHỨ” (atìta) và “LAI” (paccuppanna), giao thoa không tránh được, để tạo ra “động cơ gốc” (mùlapaccaya) của sự xoay vòng, LUÂN HỒI (samsàra).

Về phương diện VẬT LÝ, nếu hướng đếnhướng đi của «cùng một động tử» mà «bị khuynh đảo» lệch chiều nhau, trên 1 chuỗi tiếp nối, thì CẢ 2 ĐẶC TÍNH “thuận nghịch kia,sẽ tạo ra một TIẾN TRÌNH CONG, hấp dẫn lôi kéo… để «tự nhiên phải khứ hồi».

-TIẾN TRÌNH CONGấy khi tiếp tục, thì sinh ra nhiều vòng sai biệt đến bất tận. «Điểm chấm dứt vòng trước» đương nhiên là“điểm bắt đầu vòng sau”. «Đến» (đồng nghĩa với «chưa đến») và «đi» (đồng nghĩa với không ngừng tạo duyên quay lại), rồi tiến tới trong u-minh, lăn trôi mãi, LUÂN HỒI bất tận ! Trong «vận hành chu kỳ liên tục», không có «sự bắt đầu» (=sinh), cũng «không có sự chất dứt» (=tử), -chỉ có ĐI và ĐẾN luân phiên !

Và hai điểm ĐI cũng như ĐẾN ấy, phải «trùng lên nhau» một cách không thể khác, vì “ĐỘ SAI LỆCH” «vừa tách chúng ra, đã hợp chúng lại». -Nghĩa là chúng sẽ tự động «hoán vị», để cho quả biến thành nhân, SAU biến thành TRƯỚC, hai đầu gọi là «quá khứ» «tương lai» của thời gian, trở thành dịch lý.-Qui tắc của «thay đổi duyên cơ» !

Đối với THÂN XÁC con người, thuộc về hình thức cấu kết HỮU HẠN cũng vậy, chỉ khác rằng…sự “sai biệt vật vận hành nơi vật thể”, khi QUÁ NHỎ, thì bất lực cho tiến trình lý hóa trong tương lai.

-Nhưng như đối với TINH THẦN con người, thuộc về năng lượng VÔ HẠN, thì sự khởi vọng sai lệch ngay từ đầu, đã định hướng sẵn cho tương lai suy đồi, phiêu lưu. Rằng :

Tâm KHỞI tốt» (kusala citta), thì tâm QUẢ tốt” (kusala cetasika), sẽ đi vào «vùng sáng». *Khi «tâm KHỞI XẤU» thì «tâm QUẢ XẤU», tất nhiên đi vào «vùng tối», và dây chuyền.. .

Chưa kể HIỆU LỰC của NHÂN (hetu) và của QUẢ (vipaka) trong ĐIỆN TÂM (citta-cetasika), còn có “khả năng” TƯƠNG DUNG lẫn TƯƠNG PHẢN, thành lập ra bản sắc trongnăng lượng sống dây chuyền saunầy”, trong bản sắc Ý THỨC lẫn trong bản sắc HÀNH VI (bao gồm ngôn ngữ) mỗi người.

Rồi xuôi theo tiến trình HIẾU ĐỘNG và TÌM KIẾM “đối tượng”, hễ thuận duyên thì TÂM CƠ hay “động tử” ấy, dù ở tình trạng «cực vi», cũng vẫn đủ năng lượng để bám lấy, rồi sát nhập “đối tượng”, tạo thành SƠ UẨN (khởi tập khí mới = nava khanhdha) với những gì xung quanh, một cách ôm ấp.

Ngược lại, nếu nghịch duyên thì TÂM dù ở tình trạng «cực vi», cũng vẫn đủ năng lượng để “ĐỐ KỴ” (patigha), rồi tự động vừa hútđối tượng vào, vừa đẩy đối tượng ra, một cách xung đột vướng mắc (tanhà), trong suốt tiến trình đi tới, xuyên qua vô số chu kỳ, bất anmất thăng bằng. Phật học gọi ẤY là THỦ (upàdàna), một «khoen tích cực» trong «12 khoen» thiết lập luân hồi (samsara).

<>Kết quả, 2 tình trạng THUẬN DUYÊN và NGHỊCH DUYÊN đã luôn luôn tùy tiện cấu kết rồi tương tác, tạo thành “động cơ” SINH TỬ, lôi kéo từ vô thỉ đến vô chung, không có điểm khởi đầu cũng không có điểm chấm dứt. -Vì NHÂN (hetu) cũng là QUẢ (vipaka), mà QUẢ cũng là NHÂN. Cả hai không ngừng biến hóa (Rùpantaraparivattana) thay phiên nhau đóng vai «động cơ» trong «bản thể» thăng đọa của tất cả sinh động vật ! 

“BẢN THỂ” ở đây là thường xuyên qui nạp, hay “dựng nghiệp” (kamma sankhara). Theo Phật giáo “DỰNG NGHIỆP” là “NHÂN DUYÊN SINH KHỞI”. Rồi sau cái thời gian “SƠ KẾT”, những “TÂM CỰC VI” tự vận hành vô số lần, chồng chất «BẢN TÍNH hút vào cùng đẩy ra» hay tích tụ giòng điện 2 chiều. Từ đó thành lập TIỂU lẫn ĐẠI cho «vũ trụ vô biên», chứa đầy “TỪ TRƯỜNG” (magnitudes).

<>Còn “VŨ TRỤ thu hẹp”, là con người (hay các động vật khác trên quả đất) thì đó là kết quả của HỆ LUẬN, xuất hiện rất lâu về sau, trước khi sự sống chứa đầy “XUNG ĐỘT” đã thành hình. Và “hiệu lực điện năng kia trong mỗi con người, chính là “nguồn gốc” của sáu hệ thống giác quan. Trong đó, giác quan THỨ SÁU là LINH ĐỘNG, và “kỳ diệu” nhất.

Để phân biệt, ta tạm đặt tên cho nó là “TINH THẦN” hay “TÂM THỨC”. -Trên thực nghiệm,“giác quan thứ sáu” của các loài động vật, thì “sức phản chiếu” sự “khôn ngoan” nói chung kém hơn của con người !

(Mời quí vị xem thêm cuốn “KHOA HỌC VÀ SỰ TÁI SINH theo nhà Phật”, Tuệ Lạc biên soạn, trong đó có đoạn nói về “tiểu vũ trụ” là con người).

<>Rồi mỗi người, với NGHIỆP (karma) có SÁU GIÁC QUAN (5 cụ thể và 1 trừu tượng), được “vận hành” bằng máu thịt, gồm các chất dinh dưỡng hữu cơ (biến hóa) do TÁNH và TƯỚNG của “BỐN ĐẠI HỢP HÀNH” (đất-nước-lửa-khí), “giao thoa” với ĐIỆN TỪ trong vũ trụ mênh mông, đồng thời “liên kết” với GIÁC QUAN THỨ SÁU (manindriya) trong mỗi “tổng hợp” (kalapa), tạo ra 3 nghiệp THÂN-KHẨU-Ý.

Tất nhiên, con người nói riêng, và động vật nói chung…phải xem “giác quan thứ sáu” là TINH THẦN (mana) của SỰ SỐNG. Và “năm giác quan kia” là “cửa ngõ” (dvàras) để “TINH THẦN” biểu lộ…vận động.

Từ đó, CÁI gọi là “BẢN NĂNG” (hay “tự tánh”=ahetuka kamma ) đưọc thành lập và củng cố, trong toàn thể sáu giác quan (salayatana). Đồng thời “BẢN NĂNG THÚ VẬT” (trong mỗi con người) sẽ luôn luôn “phản ứng” một cách bạo động, khi đối diện với những nguy hiểm đe dọa đến “mạng sống”.

Đây là lý do đầu tiên, làm xuất phát tính ngã mạn (màna) hay ích kỷ (issà- macchariyà), cho rằng “sinh mệnh của TA (atta) là ưu tiên, TA là trên hết”. Chính tình trạng “ưu tiên tuyệt đối cho mạng sống” ấy, đã “ươm mầm” cho sự thiên lệch SI MÊ, vướng mắc vào cái giả tạm (còn gọi là VÔ MINH LẬU=Avijjàsava).

Từ đây, MẠNG SỐNG và VÔ MINH LẬU có thể xem là “hai mặt đồng sinh” chẳng bao giờ tách rời trong một “BẢN THỂ” phàm tục (puthujjanajìva). -Nghĩa là, lòng THAM sống mãi, tự nó chính là SI MÊ (moha) trong TÁC Ý, trước một kiếp sống hữu hạn, nhiều khi rất ngắn ngủi. -Hay “VÔ MINH LẬU” nêu trên, chính là mầm móng ôm chặc sự sống bấp bênh, tưởng là “vững chắc”, và mù quáng xây dựng một mộng tưởng TRƯỜNG CỬU. Đây chính là nguồn gốc xung đột sâu xa của những phiền não bất tận !

-Nói cách khác, VÔ MINH LẬU là “tạo hóa” của tất cả các pháp hành, gây ra cai gọi là “hạnh phúc” (sukha) lẫn “đau khổ” (dukkha), tạm thời trong ba cõi, dục giới (kàmaloka, cảnh trí có trọng lượng), sắc giới(rùpaloka, cảnh trí vô trọng lượng), và vô sắc giới(arùpaloka, cảnh trí trống không).

-Còn “VÔ MINH CĂN” (moha) thì ĐÃ biến mất hoàn toàn khi cái “vọng tưởng thứ nhất” phát sinh, đưa tâm thức rơi vào tình trạng hiếu động, phân tán, VÔ ĐỊNH, mất thăng bằng, tách rời TÍNH NGUYÊN TỊNH. Và tình trạng mất thăng bằng (hay “vọng tưởng” = uddhacca) ấy, chính là “tiền thân” của “VÔ MINH LẬU” vậy !

<>Sau cùng, xin nhắc lại theo PHẬT HỌC* rằng, VÔ MINH là tên chung của “2 mặt TÂM THỨC vọng động”, là vô minh căn vô minh lậu. VÔ MINH(Avijjà) nầy, hằng “thay thế” cho cả “hai mặt động cơ” (CĂN và LẬU),tự nó đóng vai “bước khởi hành” trong chuỗi 12 khoen của vòng THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN**.

*CẦN MINH BẠCH RẰNG :

-PHẬT HỌC là những hướng dẫn đạo đức, tìm thấy trongkinh điển Phật giáo, và cũng tìm thấy ngoài kinh điển Phật giáo, nhưng nó không nghịch với những gì Phật dạy.

-PHẬT GIÁO là những hướng dẫn đạo đức, chỉ tìm thấy trong kinh điển nhà Phật, còn gọi là Phật ngôn, đã được các Thánh nhân đệ tử Phật thuật lại, gọi là TAM TẠM (Tipitaka).

-ĐẠO PHẬT là sự thực hành Phật ngôn, sống đúng theo Bát Chánh Đạo, hay thực hành Phật học, và có an lạc.

**Kê khai Thập Nhị Nhân Duyên (luân hồi) :

1/Vô minh (avijjà), 2/Hành (sankhàrà), 3/Thức (vinnàna), 4/Danh sắc (nàmarùpa), 5/Lục nhập (salàyatana), 6/Xúc (phassa), 7/Thọ (vedanà), 8/Ái (tanhà), 9/Thủ (upàdàna), 10/Hữu (bhava), 11/Sinh (jàti) và 12/Tử (marana).

-Tất nhiên, SAU “khoen TỬ”….sẽ là “khoen VÔ MINH lậu” nối tiếp theo không rời. Vòng 12 khoen nhân duyên cứ thế, lập lại triền miên…không bao giờ chấm dứt !

Cs. Tuệ Lạc. (NĐ) -Pháp quốc.

(Ghi lại tri kiến…phát sinh nhờ tu tập CHỈ-QUÁN)

------------------------------------------------------------------------------

PHỤ LỤC :

I.-*Chú thích ý nghĩa tổng quát.

1/VÔ MINH : “Không thấy” hay «chưa thấy», không biết hay chưa biết, những gì gần nhất và những gì xa nhất, những gì nhỏ nhất và những gì lớn nhất…v…v…

2/HÀNH : Hiếu động, ly tĩnh, tìm kiếm, nắm bắt, hướng thuận, chống nghịch, khao khát, phản ứng, mâu thuẫn, ẩn hiện, di chuyển…v…v…

3/THỨC : “Biết đối tượng”, phân biệt cảnh, thẩm xét hành, “phối hợp tánh”, nhìn nhận tật, “hướng tự ý”, quen với nghiệp, thích ứng pháp…v…v…

4/DANH SẮC : Tên và vật, tâm và thân, “hồn và xác”, hình thức và nội dung, hữu hình và vô hình, thô và tế, thực và giả…v…v…

5/LỤC NHẬP : «Sáu lối ra vào», sáu giác quan, sáu môi giới, “sáu lưu thông”…

6/XÚC : Chạm đên, tiếp cận, cọ xác, “dung nạp”, “kết giới”…v…v…

7/THỌ : Cảm giác, nhận ảnh hưởng, gánh vác, “thưởng thức”, trải qua…v…v…

8/ÁI : Hút lấy, ưa thích, vướng mắc, ôm ấp, vấn ương…v…v…

9/THỦ : Bám chặc, đeo mãi, nắm giữ, bất ly…v…v…

10/HỮU : Làm chủ “biến thành”, “đồng hóa”, “tương thuộc”…v…v…

11/SINH : Tái xuất, hiện thântìm lại”, “hòa vào”, “nhập một”…v…v….

12/TỬ : Tận năng lượng, trả hết nghiệp, xong chu kỳ, chấm dứt kiếp…v…v…

II.-*Chú thích bằng kiến giải theo “dây chuyền” Thập Nhị Nhân Duyên.

1/Do VÔ MINH khuynh đảo mà khởi hiếu động = Vô minh duyên HÀNH.

2/Do HÀNH ĐỘNG mà khởi biết thời gian, không gian = Hành duyên THỨC.

3/Do THỨC mà khởi tâm vật = Thức duyên DANH SẮC. (tâm=danh, sắc=vật).

4/Do DANH SẮC mà khởi sáu liên hệ (ra vô tương giao) = Danh sắc duyên LỤC NHẬP.

5/Do LỤC NHẬP mà khởi tiếp xúc = Lục nhập duyên XÚC (qua 6 giác quan).

6/Do XÚC mà khởi thọ = Xúc duyên THỌ (thu nhận cảm giác thuận nghịch, trung tính).

7/Do THỌ mà khởi ÁI DỤC = Thọ duyên ÁI dục (vướng mắc cảm giác).

8/Do ÁI dục mà khởi THỦ = ÁI dục duyên THỦ (bám kết quả).

9/Do THỦ mà khởi CÓ quả = Thủ duyên HỮU (làm chủ hậu quả báo).

10/Do HỮU mà khởi SINH = Hữu duyên SINH (hiện thân theo quả báo, kết thành của nghiệp).

11/Do SINH mà khởi già bệnh để CHẾT  = Sinh duyên TỬ (qua 4 giai đoạn).

12/Do TỬ trong tối tăm mà khởi lậu VÔ MINH = Bắt đầu lại vòng Thập Nhị Nhân Duyên cũ, luân hồi bất tận.

***

<>Xem ra, đời người chỉ là một giai đoạnnằm giữa 2 khoen SINH và TỬ. Còn 10 khoen kia là VẬN HÀNH một cách vô thủy vô chung, “nhào nặn” ra tất cả chúng sinh, với thời giankhông gian là DUYÊN (môi trường).

<> Thập Nhị Nhân Duyên có thể xem là “VĂN HÓA QUAN” của Đạo Phật vậy !

 

------------------

 

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập