Trang chủ Nghi thức Nghi thức tụng kinh chùa linh xứng và sám hối sáu căn

Nghi thức tụng kinh chùa linh xứng và sám hối sáu căn

Đã đọc: 1083           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

NGHI THỨC TỤNG KINH     

                       BỒ-TÁT QUÁN THẾ ÂM 

                            NGUYỆN HƯƠNG

Nam mô thập phương thường trụ Tam bảo tác đại chứng minh.O

Nam mô Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni tác đại chứng minh.O

Nam mô Bồ-tát Quán Thế Âm tác đại chứng minh.O

Nam mô Phật hoàng Trần Nhân Tông tác đại chứng minh.O

Chúng con….

Đốt nén tâm hương nguyện chí thành,

Nhất tâm cung kính Phật Bồ-tát 

Nguyện cầu Tam bảo thường gia hộ,

Hạnh phúc bình an khắp muôn loài.

Nam mô Bồ-tát hương cúng dường. (3 lần)OOO

Hôm nay là ngày … tất cả đệ tử chúng con thành tâm quỳ trước Phật đài tác lễ sám hối cầu an, tụng kinh Hạnh Nguyện Bồ-tát Quán Thế Âm, cung kính bậc thầy ba cõi, chí tâm, chí thành cầu xin sám hối, tất cả tội lỗi cố ý hay vô tình đã tạo ra trong quá khứ cũng như hiện tại, hết thảy đều được tiêu trừ. 

Cúi mong Tam Bảo thường ở mười phương quang giáng đạo tràng chứng minh cho lòng thành của chúng con, khiến chúng con oan khiên dứt sạch, bệnh căn thuyên giảm, gia quyến an khang, lòng tin Tam Bảo càng sâu, tâm từ đối với chúng sinh tăng trưởng.

Nguyện cho chánh pháp được lan truyền khắp chốn, lời Phật dạy được phổ biến muôn nơi, người người từ bỏ tham, giận, si mê, tưới tẩm từ bi, hạnh phúc, thương yêu đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau, làm lành lánh dữ, thế giới dứt nghiệp binh đao, muôn loài an vui giải thoát.

Tất cả đệ tử chúng con thành tâm quỳ trước Phật đài đồng sám hối cầu siêu, hồi hướng cho các hương linh, anh linh các oan hồn uổng tử, các chiến sĩ trận vong, các anh hùng nghĩa tử được thính pháp nghe kinh, được thừa tư công đức, phát tâm tỉnh giác, lìa khổ tối tăm, khởi niệm từ bi, xa rời đường dữ, tin sâu Tam Bảo, tin cõi Phật an vui.

Khắp nguyện: Kẻ mất siêu thăng, người còn phúc lạc, chúng sinh được thấm nhuần mưa pháp, mọi người đều chứng ngộ Phật thừa.

Nam-mô Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni.OOO

                      CA NGỢI TAM BẢO

Phật là đấng giác ngộ mình,

Độ người thoát khỏi, tử sinh bao đời.

Từ bi, trí tuệ rạng ngời,

Là thầy ba cõi, trời người xưa nay.

Pháp là phương thuốc diệu thay,

Chữa lành bệnh khổ, muôn loài chúng sinh.

Như vầng trăng sáng lung linh,

Soi đường ra khỏi, u minh mê mờ.

Tăng là những bậc chân tu,

Biết đời huyễn mộng, giã từ ra đi.

Thấm nhuần trí tuệ, từ bi,

Độ đời thoát khỏi tham si…. khổ sầu.

Nam mô hoan hỷ tạng Bồ tát. (3 lần)

TÁN DƯƠNG GIÁO PHÁP

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp

Nay con nghe thấy xin trì tụng

Nguyện hiểu chân kinh nghĩa nhiệm mầu

Nam mô khai pháp tạng Bồ-tát Ma Ha Tát. (3 lần)

 

                              TÁN PHẬT

Đại từ đại bi thương chúng sinh.

Đại hỷ đại xả cứu muôn loài.

Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm.

Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

                           ĐẢNH LỄ TAM BẢO

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời thường trú trong mười phương.  (Lạy một lạy) O

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chánh pháp ba đời thường trú trong mười phương.  (Lạy một lạy) O

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời thường trú trong mười phương. (Lạy một lạy) OOO 

( Bắt đầu vô chuông mõ )

Một tiếng chuông ba tiếng mõ.

Một tiếng chuông một tiếng mõ.

Một tiếng chuông một tiếng mõ.

Một tiếng chuông năm tiếng mõ.                    

 

                  SÁM CẦU NGUYỆN QUÁN THẾ ÂM

Con quỳ, lạy Phật, chứng minh,

Với lòng thành kính, tụng kinh nguyện cầu.

Cầu cho, người vật, hiện tiền,

Muôn loài thoát khổ, bình yên an lành.O

Mười hai, nguyện lớn, Quán Âm,

Phát tâm vào đời, để độ chúng sinh.

Lòng thành, tín nữ, thiện nam,

Cùng nhau niệm Phật, ăn chay làm lành.

Quán Âm, xem xét, lắng nghe,

Cứu người chìm nỗi, lênh đênh sông dài.

Hãy mau, niệm Đức Quán Âm,

Tai qua nạn khỏi, hiểm nguy không còn.

Người người, bị lửa đốt thiêu.

Niệm danh Bồ-tát, hóa ra sen vàng.

Biển to, sóng lớn, chìm thuyền,

Niệm danh Bồ-tát, sóng to hết liền.

Yêu tinh, ma mị, điên khùng,

Niệm danh Bồ-tát, bình yên cõi lòng.

Vào rừng, thú dữ, chực chờ,

Niệm danh Bồ-tát, chúng liền tránh xa.

Bị tù, bị tội, khảo tra,

Niệm danh Bồ-tát, hết cơn nguy nàn.O

Bị trù, bị yếm, mê man.

Niệm danh Bồ-tát, tâm thần sáng trong.

Quán Âm, nguyện lớn, vào đời,

Tùy duyên cứu khổ, rải ban phước lành.

Nương theo, Bồ-tát, Quán Âm,

Thấy mình thể nhập, cũng y như Ngài.

Tay cầm, bình nước, tịnh bình,

Tay cầm nhành liễu, ung dung vào đời.

Cam lồ, chan rải, khắp nơi,

Vui tươi mát mẻ, chúng sinh muôn loài.

Quán Âm, thị hiện, vào đời,

Giúp người thoát khổ, an vui lâu dài. OOO

 

                       PHÁT NGUYỆN TRÌ KINH

Lạy đấng thầy ba cõi,

Quy mạng Phật mười phương,

Nay con phát nguyện lớn,

Thọ trì kinh Hạnh nguyện,

Bồ-tát Quán Thế Âm,

Phật dạy Người Tại Gia,

Kinh Phân Biệt Nghiệp Báo,

Kinh Lời dạy Cuối Cùng,

Trên đền bốn ơn nặng,

Dưới cứu khổ muôn loài,

Nguyện cho người thấy nghe,

Đều phát tâm Bồ đề,

Sống an vui giải thoát.

Nam mô Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni. (3 lần) OOO

 

      BÀI 6: KINH HẠNH NGUYỆN BỒ-TÁT QUÁN THẾ ÂM

Tôi nghe như vầy: Có vị Bồ-tát, hiệu Vô tận Ý, ở trong pháp hội, hoa sen chánh pháp, chấp tay bạch Phật, cung kính thưa rằng: “ Bạch đức Thế tôn, ngài Quán Thế Âm, do nhân duyên gì, được danh hiệu ấy?”

Này Vô Tận Ý, này các Bồ-tát, nếu có muôn ức, các loài chúng sinh, chịu nhiều khổ nạn, khi nghe được tên, Bồ-tát Quán Âm, một lòng xưng danh, thọ trì miên mật, đều được an vui, giác ngộ giải thoát. O

Nếu ai bất hạnh, bị lửa đốt thiêu, xưng niệm Quán Âm, nhờ sức oai thần, lửa chẳng đốt cháy. Lại nếu có người, bị nước cuốn trôi, niệm danh Bồ-tát, nhờ sức oai thần, liền đến chỗ cạn. Nếu ai đi thuyền, để tìm châu báu, vàng bạc lưu ly, trân châu mã não, hỗ phách xà cừ, san hô ngọc quý, lênh đênh biển lớn, giông gió cuốn trôi, vào nước La sát, thì nên thành tâm, trì niệm Quán Âm, nhờ sức oai thần, bình yên vô sự. O

Lại nếu có người, sắp bị hãm hại, bằng dao gậy kiếm, thì nên thành tâm, niệm danh Bồ-tát, do đó dao gậy, liền biến thành không, và được cứu thoát. Nếu bị các loài, La sát Dạ xoa, làm hại thân này, hãy niệm Quán Âm, nhờ sức oai thần, quỷ dữ bỏ đi.

Lại nếu có người, bị tù bị tội, xiềng xích gông cùm, khổ đau trói buộc, khắp cả toàn thân, nhờ niệm Quán Âm, thoát khỏi tù đày, dứt lìa oan nghiệt.

Lại nếu có người, mang nhiều châu báu, bị cướp tấn công, thì nên thành tâm, niệm danh Bồ-tát, nhờ sức oai thần, bọn cướp khiếp sợ, không dám hãm hại.

Này Vô Tận Ý, Bồ-tát Quán Âm, có sức oai thần, nhiệm mầu như thế, công đức sâu dày, không thể nghĩ bàn, rộng độ chúng sinh. Vì thế, các ông nên thường, niệm danh Bồ-tát, một lòng tinh chuyên.

Nếu có chúng sinh, tham lam ích kỷ, giận hờn ngu si, phải thường cung kính, niệm danh Bồ-tát, thì tham sân si, thảy đều tan biến.

Lại nếu có người, cầu xin con trai, thì nên thành tâm, niệm danh Bồ-tát, nhờ sức oai thần, liền sinh con trai, phước đức đầy đủ, trí tuệ hơn người.

Lại nếu có người, muốn cầu con gái, thì nên thành tâm, niệm danh Bồ-tát, nhờ sức oai thần, hạ sinh thục nữ, xinh đẹp kiều diễm, thì được nhiều người, yêu thích mến thương. 

Thần lực Quán Âm, nhiệm mầu như thế! Ta khuyên mọi người, cung kính đảnh lễ, niệm danh Bồ-tát, tán thán thọ trì, để được lợi lạc, khắp cả chúng sinh.

Sau khi nghe xong, ngài Vô Tận Ý, liền hỏi Phật rằng: “ Bồ-tát Quán Âm, phát tâm vào đời, cứu độ chúng sinh, bằng phương tiện gì, giúp cho muôn loài, thảy đều tỏ ngộ?”.

Này Vô Tận Ý: “Nếu có chúng sinh, thích dùng thân Phật, để được độ thoát, chứng nên quả giác, thì Quán Thế Âm, thị hiện thân Phật, vì họ thuyết pháp.”

Tương tự như thế, tùy theo sở thích, của các chúng sinh, Bồ-tát Quán Âm, ứng hiện nhiều thân, như thân Thanh Văn, thân Bích Chi Phật, hoặc Trời Đế thích, hoặc Trời Phạm vương, thân Tự Tại Thiên, đại Tự Tại Thiên, Trời Đại Tướng Quân, hoặc Tỳ Sa môn, tiểu vương trưởng giả, vua quan cư sĩ, hoặc Bà la môn, tín nữ thiện nam, hoặc làm Tăng Ni, hoặc thân công chúa, nữ hoàng tôn quý, đồng nam đồng nữ, hoặc ứng hiện thân: Trời, Rồng, Dạ xoa, hoặc Càn thát bà, hoặc A tu la, hoặc Câu lâu la, hoặc Khẩn na la, Ma hầu na già, thần Chấp Kim Cang, tất cả băm ba, ứng thân sai khác, giúp cho mọi người, an vui giải thoát, thì Quán Thế Âm, sẵn sàng hóa thân, không chút quản ngại. O

Này Vô Tận Ý, Bồ-tát Quán Âm, ứng hiện nhiều thân, cứu độ chúng sinh, khắp cả thế gian, không thể nghĩ bàn. Vì thế các ông, hãy nên một lòng, tán thán cúng dường, Bồ-tát Quán Âm. O

Này Vô Tận Ý, thí không sợ hãi, trong chốn trần gian, cứu khổ chúng sinh, tai qua nạn khỏi, chính là nguyện lớn, Bồ-tát Quán Âm, nên cõi Ta Bà, thảy đều gọi ngài, là Quán Tự Tại. O

Sau khi nghe xong, ngài Vô Tận Ý, xin thưa đức Phật, cho con cúng dường, Bồ-tát Quán Âm. Nói xong ngài đem, chuỗi ngọc như ý, tặng làm pháp thí, giá trị ngàn vàng, cung kính cúng dường, Bồ-tát Quán Âm. Bồ-tát Quán Âm, không dám chịu nhận, chuỗi ngọc như ý. Phật liền dạy rõ, về pháp cúng dường, khuyên Quán Thế Âm, hãy vì bốn chúng, tám bộ trời rồng, và Vô Tận Ý, nhận chuỗi pháp thí, lợi ích trời người.

Phật vừa dứt lời, Bồ-tát Quán Âm, vui vẻ đón nhận, chia làm hai phần, một phần dâng cúng, đức Phật Thích ca, còn lại phần kia, cúng tháp Đa Bảo. O

Bấy giờ trong hội, có vị Bồ tát, tên là Trì Địa, chấp tay thưa Phật : “Bạch đức Thế tôn, nếu có chúng sinh, nghe được kinh này, cũng như công đức, ứng hiện các thân, tùy duyên giáo hóa, của ngài Quán Âm, thì phước người ấy, vô lượng vô biên”. O

Khi nghe Phật nói, hạnh nguyện Quán Âm, tám mươi bốn ngàn, các loại chúng sinh, thảy đều phát tâm, Vô Thượng Chánh Giác.

Nam mô Pháp Hoa hội thượng Phật Bồ-tát. (3 lần) OOO

BÀI 7: PHẬT DẠY TRÁCH NHIỆM NGƯỜI TẠI GIA

                          KINH THIỆN SINH            

Kinh Thiện Sanh, là bản kinh căn bản dạy cho ta về đạo lý làm người, để giữ gìn các mối quan hệ có tính cách nhân bản, nhằm giúp chúng ta hoàn thiện chính mình. 

Đây là một bản kinh nguyên thủy, ngắn gọn, xúc tích ghi lại lời Phật dạy cách đối nhân xử thế, cách làm tròn bổn phận và trách nhiệm của người Phật tử đối với bản thân, gia đình và xã hội, rộng hơn là Phật dạy cách xây dựng phát triển một xã hội hài hòa, bền vững và lâu dài về mọi mặt trong cuộc sống.

Đức Thế Tôn cứ theo thông lệ mỗi ngày đi vào xóm làng khất thực, trên đường đi, Thế Tôn thấy một chàng thanh niên đang lễ bái sáu phương rất là thành tâm: Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới. 

Phật dạy tránh bốn việc ác và sáu việc làm hao tổn tài sản

Khi Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, dẫn đầu đoàn khất thực với đại chúng một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-Kheo đi vào thành, đức Thế Tôn thấy một gia chủ tên Thiện Sanh đang lễ bái sáu phương, Ngài hỏi:

“Vì cớ sao, nhà ngươi vào buổi sáng sớm mỗi ngày đến đây, để lễ lạy sáu phương như thế?”

Thiện Sanh bạch Phật: Cha con khi còn sống có dặn rằng: “Con mỗi ngày hãy cung kính lễ lạy sáu phương Đông,Tây, Nam, Bắc, trên và dưới”. Con nghe theo lời cha dạy không dám chống trái”.

Phật bảo Thiện Sanh: “Này chàng thanh niên hiếu thảo! Con lễ lạy sáu phương đó rất là tốt, nhưng trong pháp hiền Thánh của ta, lễ sáu phương như vậy chưa phải là thật sự cung kính”.

Thiện Sanh thưa: “Cúi xin đức Thế Tôn thương tưởng mà chỉ dạy cho con cách lễ lạy sáu phương theo pháp hiền Thánh”.

Phật bảo Thiện Sanh: “Nếu tất cả mọi người biết tránh bốn nghiệp xấu ác làm tổn hại người khác, và biết rõ sáu nghiệp làm hao tổn tài sản. Như thế, này Thiện Sanh, nếu ai biết tránh được bốn việc ác là chân thật lễ kính sáu phương”.

Bốn nghiệp xấu ác đó là: Sát sinh hại vật, trộm cướp lường gạt của người khác, tà dâm, nói dối hại người, đây là bốn điều xấu ác mà người Phật tử chân chính phải nên tránh xa.

Phật bảo Thiện Sanh: Có sáu nghiệp làm hao tổn tài sản:

Đam mê rượu chè.  Đam mê cờ bạc.

Phóng túng sa đọa. Đam mê ca hát múa.

Kết thân với bạn ác. Ỷ lại và lười biếng.

Phật bảo Thiện Sanh: Này Thiện Sanh, nếu ai không làm theo bốn nghiệp ác trên, lại biết tránh xa sáu điều hao tốn tài sản là chân thật cung kính sáu phương, thì hiện tại và mai sau đều an vui, hạnh phúc. Hiện đời được mọi người thương mến và khen ngợi, sau khi chết được tái sinh vào cõi lành.

Phật dạy tiếp: “Sáu phương là gì? Phương Đông là lễ lạy cha mẹ, phương Nam là lễ lạy sư trưởng, phương Tây là vợ con thê thiếp, phương Bắc là bạn bè thân thích, phương trên là các bậc trưởng thượng, Sa-môn, Bà-la-môn, phương dưới là người làm công”. Phật khéo léo chuyển hóa lễ sáu phương thông thường, bằng cách dạy chàng thanh niên trong đối nhân xử thế, phải biết phép tắc, tôn ty trật tự từ thấp đến cao.

PHẬT DẠY BỔN PHẬN CON CÁI ĐỐI VỚI CHA MẸ

Đạo Phật là đạo hiếu hay tâm hiếu là tâm Phật, vì đức Phật thường khen ngợi những người con hiếu thảo. Đức Phật thường nói rằng, sở dĩ ta tu hành thành Phật là nhờ công ơn cha mẹ, nếu không có mẹ sinh, cha nuôi dưỡng thì làm sao ngày hôm nay ta mới được thành Phật.

1- Nuôi dưỡng cha mẹ: Siêng năng làm việc để có của cải nuôi dưỡng cha mẹ: Trách nhiệm đạo đức trước tiên của một người con đối với cha mẹ, là phải biết làm tăng thêm tài sản của cải, vật chất để nuôi dưỡng cha mẹ. Hay nói cách khác người con phải lấy sự biết ơn và đền ơn, bằng cách chăm sóc cha mẹ đầy đủ về đời sống vật chất lẫn tinh thần.

Không tự làm gì khi chưa hỏi cha mẹ và không được trái ý cha mẹ: Mỗi một gia đình đều có truyền thống riêng mà các bậc ông bà tổ tiên đã dày công xây dựng. Người con hiếu thảo ngoài việc làm tròn bổn phận, phụng dưỡng vật chất cho cha mẹ đúng pháp, còn là người biết gìn giữ các giá trị văn hóa và di sản truyền thống tốt đẹp của gia đình.

Người con hiếu thảo không chỉ biết vâng lời cha mẹ, làm việc tốt cho gia đình và xã hội, mà trước tiên là phải lo phần đời sống vật chất cho cha mẹ mình. Chăm lo đời sống vật chất cho cha mẹ như cúng dường thuốc thang, tiền bạc, quà cáp mỗi khi thăm viếng và nuôi dưỡng cha mẹ khi đau ốm bệnh hoạn hay trong lúc tuổi già.

2- Thay thế cha mẹ gánh vác công việc nặng nhọc  Con cái chính là sự tiếp nối quan trọng, để duy trì nghề nghiệp, công việc của cha mẹ. Nếu trong gia đình mà không có người kế nghiệp được xem như là một bất hạnh lớn. Để tồn tại trên cuộc đời này, chúng ta cần phải có nghề nghiệp để sống, bất luận sang hèn, hay giàu nghèo.

Cáng đáng việc nhà, làm tròn bổn phận đối với cha mẹ: Ý thức trách nhiệm làm tròn bổn phận của một người con hiếu thảo của người tại gia. Có nhiều trường hợp đặc biệt, người con vì thương kính cha mẹ mà làm nhiều điều xấu xa tội lỗi, để chu cấp thức ăn uống cho cha mẹ.

3- Giữ gìn truyền thống gia phong 

Truyền thống gia phong là truyền thống đạo đức gia đình, của dòng tộc được giữ gìn và truyền thừa qua nhiều thế hệ tiếp nối. Truyền thống này có thể bao gồm cả những yếu tố tích cực và tiêu cực. Tuy nhiên, truyền thống gia phong ở đây là chúng ta phải hiểu rõ và thấm nhuần những giá trị đạo đức tốt đẹp. 

Giữ gìn truyền thống gia phong tốt đẹp còn được hiểu là mọi người chúng ta phải tự hoàn thiện tư cách đạo đức cá nhân. Phận làm con, việc giữ vững gia phong bằng cách chuyển hóa những thói xấu của bản thân, sống đúng, sống tốt theo lời Phật dạy cũng là một trong những phương cách giữ gìn truyền thống gia phong, được bền vững và lâu dài. 

4- Bảo vệ tài sản được kế thừa từ cha mẹ 

Tài sản mà cha mẹ để lại bao gồm tất cả những giá trị vật chất lẫn tinh thần. Việc giữ gìn truyền thống gia phong chính là chúng ta biết sống tốt, không làm tổn thương đến người khác và còn hay giúp đỡ sẻ chia khi có nhân duyên. Ngoài ra, việc quản lý, giữ gìn và phát triển tài sản vật chất mà cha mẹ đã để lại cũng là một nhiệm vụ quan trọng đối với con cái.

5- Khuyến khích cha mẹ hướng thiện và biết quy hướng về Tam bảo

Con cái có thể báo đáp thâm ân cao cả của cha mẹ qua hai phương diện vật chất và tinh thần. Theo Phật giáo, phương diện tinh thần tức là phần tâm linh của chúng ta rất quan trọng và cần thiết, vì tâm ý suy nghĩ rồi mới nói năng và hành động.

Sự sống của chúng ta hiện nay là đã mang ơn, thọ ơn trong nhiều đời kiếp. Nhất là thâm ân cao cả, ơn nghĩa sinh thành dưỡng dục của cha mẹ trong nhiều đời.

PHẬT DẠY TRÁCH NHIỆM CHA MẸ VỚI CON CÁI

Thương yêu con cái: Mối quan hệ của các bậc cha mẹ trong đạo Phật được đặt trên cơ sở đạo đức, do đó, sự ra đời của con cái không phải nhu cầu thỏa mãn các khoái lạc giác quan thông thường mà còn có tinh thần trách nhiệm. Các bậc cha mẹ xem việc nuôi nấng con cái là nền tảng đạo đức, là trách nhiệm thiêng liêng cao quý, mà ai làm cha mẹ cũng muốn con cái mình lớn khôn và trưởng thành.

Cung cấp cho con cái đầy đủ: Điều thứ hai mà cha mẹ có trách nhiệm với con cái là không để chúng thiếu thốn về vật chất và tinh thần. Trên phương diện vật chất, bậc làm cha mẹ phải tùy vào khả năng có được, để lo cho con cái đầy đủ như ăn uống mặc ở cho đến các phương tiện học hành phát triển tài năng, trí tuệ. Trên phương diện tinh thần, cha mẹ phải thường xuyên quan tâm chăm sóc, chia sẻ hỏi han để động viên con cái vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.

Tạo dựng nghề nghiệp chân chính cho con cái: Tạo dựng nghề nghiệp chân chính cho con cái, nhằm đảm bảo an sinh đời sống về lâu dài. Phật giáo luôn lấy nhân quả làm nền tảng để giáo dục mọi người ý thức rằng “nhân quả tốt xấu là do mình tạo ra”. Đây là phương cách giáo dục vô cùng sáng suốt vì đã loại bỏ yếu tố ỷ lại vào người khác, và phát triển năng lực làm chủ bản thân.

Tìm nơi chốn xứng đáng để dựng vợ gả chồng cho con cái: Trách nhiệm của các bậc cha mẹ ngoài việc giáo dục đạo đức tránh ác làm lành, ổn định nghề nghiệp, mà còn chăm lo đến đời sống lứa đôi cho con cái. Đạo Phật đề cao tinh thần bình đẳng trong mối quan hệ hôn nhân trong tình yêu.

Cha mẹ có của cải vừa ý đều giao hết cho con cái: Trách nhiệm thứ năm này mang ý nghĩa pháp lý và tính nhân bản cao, việc truyền trao này bao gồm di chúc và tài sản thừa tự cho con cái. Có nhiều bậc cha mẹ đã không nghĩ tới chuyện này khi còn khỏe mạnh. Do đó, khi nhắm mắt ra đi, anh chị em tranh giành tài sản do cha mẹ để lại, dẫn đến cảnh tan nhà nát cửa.

PHẬT DẠY MỐI QUAN HỆ TỐT ĐẸP VỢ CHỒNG

Bên cạnh mối dây huyết thống giữa cha mẹ và con cái, còn có mối quan hệ chồng vợ, quan hệ anh chị em. Về quan hệ chồng đối với vợ phải yêu thương, tôn trọng và chung thủy, quan tâm chăm sóc chu đáo đời sống vật chất lẫn tinh thần, thường tặng quần áo, trang sức cho vợ. Vợ đối với chồng phải thương yêu, kính trọng và trung thành, quản lý tốt nhà cửa, gìn giữ tài sản, sự nghiệp của chồng.

Trách nhiệm của chồng đối với vợ

Chồng thương yêu vợ được thể hiện qua năm phương diện sau: Yêu thương tôn trọng vợ trong bình đẳng, không khinh thường vợ, sống trung thành và chung thủy với vợ, giao quyền hạn cho vợ quán xuyến mọi công việc, mua đồ trang sức tặng vợ.

1- Người chồng phải biết thương yêu tôn trọng vợ là chất liệu làm nên hạnh phúc gia đình, do đó người chồng phải biết quan tâm nói những lời khen ngợi, về tài năng và đức hạnh của vợ mình.

2- Người chồng không nên khinh thường và hà hiếp vợ, nghĩa là biết thương yêu và không nên coi vợ như người giúp việc muốn mắng chửi đánh đập lúc nào cũng được, gây ra cảnh bạo hành trong gia đình, như hiện nay chúng ta đã thường thấy.

3- Người chồng luôn thương yêu quý mến vợ như người bạn và một lòng sống thủy chung, đó là yếu tố chính để bảo vệ hạnh phúc tình yêu lứa đôi. Một gia đình thật sự an vui hạnh phúc là biết san sẻ cho nhau bằng trái tim yêu thương và có hiểu biết.

Chồng luôn thương yêu, quý mến vợ và một lòng sống thủy chung là yếu tố chính để bảo vệ tình yêu, hạnh phúc lứa đôi. Một gia đình hạnh phúc trên thuận dưới hòa không thể có người chồng lăng nhăng, dan díu với người nữ khác.

4- Người chồng phải nên tin tưởng và giao quyền cho vợ, vì người phụ nữ thường quản lý, quán xuyến sắp xếp ổn định việc nhà giỏi hơn đàn ông, do đó chồng phải tin tưởng tuyệt đối giao quyền cho vợ.

Người phụ nữ thường quản lý, quán xuyến, sắp xếp ổn định việc nhà giỏi hơn đàn ông nên chồng phải tin tưởng tuyệt đối, giao quyền cho vợ. Nếu người chồng so đo, ích kỷ, hẹp hòi, đưa tiền cho vợ từng bữa thì chẳng khác nào xem vợ như người giúp việc.

5- Người chồng hãy nên hâm nóng lại tình yêu bằng cách mua đồ trang sức tặng cho vợ mình, nhân sinh nhật kỷ niệm ngày cưới. Thích làm đẹp và mang đồ trang sức đó là sở thích của người phụ nữ. Việc quan tâm tặng quà cho vợ để nhắc lại những kỷ niệm đẹp thời hai đứa mới yêu nhau, làm cho người nữ tăng thêm phần hạnh phúc hơn.

Bổn phận vợ đối với chồng như sau:

1- Người vợ luôn một lòng chung thủy với chồng để được sống yêu thương và hiểu biết.

2- Quán xuyến và xử lý việc nhà một cách tốt đẹp.

3- Gần gũi, đối đãi tốt với họ hàng thân thuộc, khách khứa và những người giúp việc thay chồng.

4- Biết chi tiêu mua sắm đúng mức và gìn giữ tiền bạc tài sản cho gia đình.

5- Luôn chu toàn tốt đẹp trong mọi công việc.

PHẬT DẠY MỐI QUAN HỆ GIỮA THẦY VÀ TRÒ

 

Giáo lý nhà Phật và đạo lý làm người đều tán dương mối liên hệ thầy trò qua sự biết ơn, để mỗi người chúng ta hình thành nhân cách sống. Mỗi con người hiện hữu ở đời đều do cha mẹ sinh ra, nuôi dưỡng, nhưng sự trưởng thành, lớn khôn, hòa nhập vào cộng đồng xã hội để làm thành cho nhau đều nhờ công ơn giáo dưỡng của thầy cô. Thế nên, bổn phận của người học trò luôn ý thức tôn kính thờ thầy mà mọi người thường gọi là: “Tôn Sư trọng đạo”. Trong các mối quan hệ của cuộc sống thì mối quan hệ thầy đối với trò có một vai trò quan trọng nhằm mở mang kiến thức hiểu biết, nâng cao trình độ về nhận thức, để sống có nhân cách đạo đức với mọi người. Do đó, người thầy trở thành bậc mô phạm giữa đời, là tấm gương sáng để người học trò học hỏi và ứng dụng vào trong đời sống hằng ngày. Sự thể hiện lòng tôn kính khi gặp thầy và chào thầy, chính là hình ảnh người học trò biết tôn kính thầy trong mọi lúc mọi nơi. Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” luôn nhắc nhỡ chúng ta biết báo ơn và đền ơn. Thầy phải tạo dấu ấn lớn trong tâm thức người học trò, trên mọi phương diện và ngược lại người trò phải hết sức tôn kính thầy, nhờ vậy mới tiếp thu hết những lời chỉ dạy của thầy, mà biết cách ứng dụng vào cuộc đời.

 

1- Rèn luyện cho học trò theo những đức tính tốt đẹp mà mình có được.

2- Dạy cho học trò giữ gìn và nhớ kỹ những điều cần thiết trong cuộc sống.

3- Dạy cho học trò nắm vững nghề nghiệp đến mức thuần thục.

4- Khen học trò đối với bạn bè quen biết.

5- Đảm bảo nghề nghiệp cho học trò trên mọi mặt.

Mối quan hệ giữa trò đối với thầy

1- Chào thầy khi thầy đến.

2- Hầu hạ, săn sóc thầy.

3- Hăng hái học tập lời thầy dạy bảo.

4- Tự mình giúp đỡ thầy mỗi khi cần thiết.

5- Phát huy trau dồi nghề nghiệp mà thầy trao truyền cho mình.

PHẬT DẠY ÂN NGHĨA LÀ GỐC CỦA CON NGƯỜI

Ân cha mẹ: Người con hiếu thảo là hết lòng cung kính và dưỡng nuôi cha mẹ dù bất cứ hoàn cảnh nào, cũng không nệ hà hay phiền trách. Ai luôn biết hiếu dưỡng với cha mẹ là người sống có nhân cách đạo đức, nên dễ thành công trên đường đời.

Nếu nói về hiếu gồm có 4 phương diện: hiếu dưỡng, hiếu tâm, hiếu hạnh và hiếu đạo.

Hiếu dưỡng: Nghĩa là cung kính dưỡng nuôi cha mẹ đầy đủ về phương diện vật chất từ thức ăn uống, chỗ ở cho đến thuốc thang mỗi khi bệnh hoạn hay những lúc già yếu.

Hiếu tâm: Cung cấp và dưỡng nuôi cho cha mẹ là trách nhiệm và bổn phận của con cái.

Hiếu đạo: Con người ở đời nhờ ơn cha mẹ mà lớn lên, cho nên đạo lý làm người là phải biết nhớ ơn và đền trả công đức sinh thành của bậc song thân.

Báo hiếu phương diện vật chất: Những điều cần thiết mà người con cần phải phụng dưỡng cha mẹ là thức ăn, đồ mặc, chỗ ở, thuốc men, giải trí. Đặc biệt khi cha mẹ già yếu mất sức lao động thì con cái phải có trách nhiệm dưỡng nuôi cha mẹ.

Báo hiếu phương diện tinh thần: Theo đạo Phật, báo hiếu về phương diện tinh thần không chỉ đơn thuần là làm cho cha mẹ luôn được vui vẻ, hạnh phúc, mà còn phải hướng cha mẹ tin sâu nhân quả, dứt ác làm lành, biết buông xả và sống đời bình yên, hạnh phúc.

Ân thầy bạn: giúp ta mở rộng kiến thức, thầy dạy cho ta biết đọc, biết viết, biết ăn ở hiền lành phải đạo làm người, biết những điều hay lẽ phải, cốt để làm cho mình trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Thế cho nên ngạn ngữ có câu: ”Không thầy đố mầy làm nên“.

Ân Tam bảo: Đối với Phật-Pháp-Tăng là ba ngôi quý báu, hiếm có khó được nên người Phật tử có những trọng ân như sau:

Ân Phật Bảo: Khổ đau của chúng sinh do già bệnh chết chi phối, làm cho người ta phải tái sinh luân hồi sống chết không có ngày thôi dứt, khi thì hưởng phước báu cõi trời người, khi thì bị đọa ba đường ác địa ngục, quỷ đói, súc sinh. Bồ-tát Sĩ Đạt

Ân Pháp bảo: Nhờ có kinh điển lưu truyền đến ngày nay chúng ta mới biết giáo lý của đạo Phật, do đó Pháp bảo chỉ cho chúng ta hiểu được cuộc đời là vô thường giả tạm, bởi yêu thương xa lìa khổ, oán ghét gặp nhau khổ, mong cầu không được như ý khổ và vô vàn nỗi khổ niềm đau khác.

Ân Tăng bảo: Tăng là những người đã lìa bỏ gia đình, là đoàn thể sống an vui hạnh phúc, vừa học, vừa tu, vừa dấn thân truyền bá giáo lý Phật đà nên ân này rất to lớn.

Ngoài những ân như cha mẹ, ân thầy tổ, ân Tam bảo, còn có một ân nữa là ân quốc gia xã hội và anh linh các anh hùng nghĩa tử.

Ân Quốc gia xã hội: Chúng ta sống trong một đất nước, sống yên ổn, ấm no và hạnh phúc, không bị chiến tranh là nhờ quốc gia và xã hội góp phần duy trì và gìn giữ, cho nên chúng ta đã thọ những ân nghĩa như sau:

-Làm tròn bổn phận công dân: Trước tiên là một công dân là phải đóng góp vào việc giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, sự độc lập của quốc gia, dân tộc, góp phần bảo vệ các quyền lợi chánh đáng của người dân. Phát huy sáng tạo kỹ nghệ, kinh doanh thương mại làm cho đất nước ngày càng phát triển hưng thịnh, bền vững và lâu dài.

Phát huy văn hóa và bảo vệ những truyền thống tốt đẹp dân tộc: Người Phật tử cũng là một công dân, có bổn phận gìn giữ phát huy nền văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, một đất nước có trên bốn ngàn năm lịch sử văn hiến, và lấy đạo thờ ông bà tổ tiên làm nền tảng, kết hợp với tâm linh Phật giáo để duy trì di sản văn hóa ông cha ta để lại, chúng ta cần phải gìn giữ và phát huy thêm những truyền thống tốt đẹp đó.

Những truyền thống tốt đẹp đó, như thời cực thịnh của Phật giáo đời Trần đã 3 lần đánh đuổi quân xâm lược Mông Cổ, 1000 năm không bị đồng hóa và lệ thuộc nước Tàu, cùng với 100 năm Pháp thuộc, người Việt Nam luôn nêu cao tinh thần dân tộc, giữ gìn biên cương bờ cõi, bảo toàn độc lập và giữ trọn vẹn bản sắc văn hóa tốt đẹp con Rồng cháu Tiên. 

-Giữ vẹn biên cương bờ cõi, bảo toàn độc lập: Nhờ có anh linh các anh hùng nghĩa tử đã hy sinh, bảo vệ giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ và bảo toàn sự trọn vẹn về độc lập. Một đất nước nếu bị mất chủ quyền, mất độc lập thì dân chúng sẽ bị sưu cao, thuế nặng, làm lụng vất vả mà không có quyền bình đẳng về con người. 

Nhờ sự đồng lòng tích cực của toàn dân mỗi người đều có trách nhiệm công ăn việc làm riêng, hòa hợp trở lại để cùng đảm bảo an sinh đời sống cho tất cả mọi người. Một người dù có tài giỏi đến đâu, cũng không thể nào làm đủ những nhu cầu cần thiết cho chính bản thân mình tiêu dùng trong ăn, mặc, ngủ nghỉ và làm việc.

                      BÀI 8: KINH PHÂN BIỆT NGHIỆP BÁO

LÀM CHỦ GIÁC QUAN

Tôi nghe như vầy. Có một hôm nọ, tại chùa Kỳ Viên, thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc, thái tử Kỳ-đà phát tâm hiến cúng, đức Phật cho gọi tôn giả A-nan tập họp Tăng đoàn và dạy như sau:

Này các đệ tử, phần lớn người đời bị sáu giác quan lừa gạt, gây nhiều tổn hại: Mắt bị hình thù, màu sắc lừa gạt, tai bị các loại âm thanh lừa gạt, mũi bị các mùi thơm tho lừa gạt, lưỡi bị các vị ngon ngọt lừa gạt, da bị các vật xúc chạm lừa gạt, ý bị tư tưởng tà vạy lừa gạt. Do bị đắm nhiễm, chạy theo giác quan, con người bị lừa, chìm trong đau khổ, khó mong giải thoát, chết lại tái sinh, rơi vào cõi ác. Những người có trí làm chủ giác quan, làm chủ tâm ý, làm chủ hành vi nên không bị hại.O

MƯỜI NGHIỆP XẤU

Này các đệ tử, có mười hành động từ thân, khẩu, ý, rất nhiều người đời ưa thích thực hiện: Ba nghiệp từ thân, một là sát hại, hai là trộm cắp, ba là ngoại tình. Bốn nghiệp từ miệng, một là lừa dối, hai là đâm thọc, ba là lời ác, bốn là tán gẫu. Ba nghiệp từ ý, một là tham ái, hai là giận dữ, ba là si mê. Vì mười nghiệp ác, rất nhiều chúng sanh sống trong bất hạnh, khổ đau cho mình, gây họa cho người. Đến lúc qua đời, sanh vào cõi dữ. Những người có trí thấy rõ hậu quả của các nghiệp xấu nên nỗ lực tu, tinh tấn làm phúc, chuyển hóa thân tâm.O

SÁU ĐAM MÊ XẤU

Này các đệ tử, có sáu đam mê, dẫn đến tham luyến, làm cho người đời vướng vào khổ đau, gây nhiều tổn hại, đánh mất chính mình: Mắt mê hình sắc, tai mê âm thanh, mũi mê các mùi, lưỡi mê các vị, thân mê xúc chạm, ý mê ý niệm quá khứ, tương lai.  O

TỰ GÂY BẤT HẠNH

Tôn giả A-Nan cung kính thưa Phật: “Bạch đức Thế Tôn, người tin Tam Bảo, giữ gìn giới hạnh có thể thoát được cảnh khổ hay không?”

Này các đệ tử, người có lòng tin vào ba ngôi báu Phật, Pháp và Tăng, sống giữ giới hạnh, siêng làm việc lành, thực tập thiền định, chuyển hóa tâm thức thì được phước lớn, lợi lạc vô cùng. 

...

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Được quan tâm nhất

Previous
Next

Đăng nhập