Trang chủ | Phật Pháp | Giáo Pháp | Giác ngộ - Giải thoát | Ánh sáng giác ngộ qua cái nhìn của Bồ Tát Tất Đạt Đa

Ánh sáng giác ngộ qua cái nhìn của Bồ Tát Tất Đạt Đa

image

ánh sáng giác ngộ này không chế tác bằng tham, sân, si, vô minh, tà kiến, hận thù, và chiến tranh, mà nó được chế tác bằng chánh kham nhẫn, tinh tấn, nỗ lực, tinh thần tự tu, tự độ, tự ngộ và tự giải thoát qua việc thực tập và ứng dụng các chất liệu từ bi, trí tuệ, hòa bình, thiền định, và tuệ giác cho số đông ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại.

Chúng ta đều biết trong lịch sử nhân loại xưa và nay, các nhà đạo học cũng như thế học phải có nhiều nỗ lực, thì họ mới có thể thành tựu trong cuộc sống, và lưu danh muôn thuở. Muốn thành tựu nhiều trong cuộc sống, trước hết họ phải thực hiện quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân. Nhờ nhiếp phục các quá trình kham nhẫn, tu, học, và giúp đỡ tự thân và tha nhân như vậy, thì họ mới có thể trở thành những nhà khoa học, toán học, văn học, triết học, đạo học, v. v… Bồ Tát Tất Đạt Đa (Bodhisattva Siddhārtha Gautama),[1] một vị đạo Sư tâm linh siêu việt, một Nhà đạo học hoàn hảo có đầy đủ đức hạnh, từ bi, và trí tuệ, trải qua 6 năm tu khổ hạnh rừng già với năm anh em Ông A Nhã Kiều Trần Như (Aññā Kondañña), tìm cầu chân lý, và thiền định dưới cội cây Bồ đề suốt 49 ngày đêm. Cuối cùng, Bồ Tát thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni được chư thiên và loài người tôn kính, có khả năng đem ánh sáng giác ngộ, tình thương, và hòa bình cho pháp giới chúng sanh trên khắp hành tinh này.   

The Light of Enlightenment through Bodhisattva Siddhārtha’s vision

We know in the history of humankind, both in ancient times and now, religious leaders as well as secular leaders, who have to make their much effort, can achieve in their lives, and leave their renown for posterity. Wanting to achieve much in their lives, they who must first undertake the process of endurance, effort, cultivation, learning train themselves, help, and bring the benefits to other people. Thanks to overcoming the processes of patience, cultivation, learning, and helping themselves and others like this, they have been able to become scientists, mathematicians, writers, philosophers, religious leaders, etc. Bodhisattva Siddhārtha Gautama,[2] a transcendental spiritual Master, a perfect religious Leader, who was full of the qualities of virtue, loving-kindness, compassion, and wisdom, spent 6 years practicing asceticism in a deep forest with five brothers of Elder Aññā Kondañña, searched out the truths, and meditated under the Bodhi tree throughout 49 days and nights. Finally, the Bodhisattva became the Buddha who was called Sakyamuni respected and honored by gods and human beings, and who had the ability to bring the light of enlightenment, love, and peace to all living things and living beings all over this planet.

Qua những ý nghĩa tổng quát được đề cập ở trên, người viết mạnh dạn đặt tựa đề cho bài viết này là “Ánh sáng giác ngộ qua cái nhìn tuệ giác của Bồ tát Tất Đạ Đa.” Cái nhìn ở đây được hiểu là cái nhìn kết quả của việc thực tập thiền quán và cái nhìn tuệ giác, có khả năng thấy rõ tiến trình kham nhẫn, tinh tấn, tu tập thiền định, thành đạo, hoằng pháp, và giáo hóa chúng sanh của Bồ tát Tất Đạ Đa (Bodhisattva Siddhārtha). Trong chủ đề của bài viết này, chúng ta bắt gặp các cụm từ như “ánh sáng, giác ngộ, Bồ tát, Tất Đạt Đa.” Sau đây, người viết lần lượt giải thích từng thuật ngữ một và tìm hiểu ý nghĩa và nội dung của các thuật ngữ trên.

Through the above–mentioned general meanings, the writer boldly titles this writing The Light of Enlightenment through Bodhisattva Siddhārtha’s vision.This vision, which is here understood as the resultant vision of practicing contemplation meditation and that of insight, carries the ability to clearly see the process of endurance, diligence, to cultivate meditation and concentration, to gain enlightenment, to preach the Dharma, and to teach human beings about Bodhisattva Siddhārtha. In the title of this writing, we encounter such terms as “light, enlightenment, Bodhisattva, Siddhārtha.” Hereafter, the writer explains each in turn so that we may learn about the meanings and contents of these terms.       

Thông thường, khi đề cập tới ánh sáng, người ta nghĩ tới ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, ánh sáng sao hôm, sao mai; áng sáng đèn điện, đèn xe, đèn ne-on, v. v … Các loại ánh sáng này là ánh sáng thiên nhiên, ánh sáng vật chất, hay ánh sáng nhân tạo mà thôi. Khác với các loại ánh sáng trên, ánh sáng được thảo luận ở đây chính là ánh sáng giác ngộ, xuất phát từ thân tâm tu tập thiền định, kham nhẫn, tinh tiến, thanh lọc, và chuyển hóa phiền não của hành giả, tức Bồ tát Tất Đạt Đa.

Normally, when referring to the light, people often think about sunlight, moonlight, evening star light, morning star light, electric lights, car lights, neon lights, etc. These kinds of lights are natural light, material lights, or artificial lights. Different than the above kinds of lights, the light which is discussed here mainly is the light of enlightenment, starts from his body and mind of meditation-concentration cultivation, endurance, effort, purification, and defilement transformation of practitioner, that is, Bodhisattva Siddhārtha.

Nhờ tu tập thiền định thuần tịnh và siêu nhiên, Bồ tát Tất Đạt Đa (Bodhisattva Siddhārtha) đã đoạn tận vô minh, phiền não, lậu hoặc, chấp thủ, …, và thành tựu đạo quả giác ngộ viên mãn. Đối với Bồ tát – vị hành Giả tỉnh thức, giác ngộ có nghĩa là vắng bặt vô minh, phiền não, chấp thủ, lậu hoặc, khổ đau, và chấm dứt vòng luân hồi tái sinh.

Thanks to His training in meditation-concentration very purely and supernaturally, the Bodhisattva extinguished ignorance, defilements, lapses, attachments, etc., and achieved the fruits of perfect enlightenment. Towards the Bodhisattva – the awakened One, enlightenment authentically means the absence of ignorance, afflictions, attachments, lapses, suffering, and the end of the cycle of death and rebirth.

Ánh sáng giác ngộ được đề cập ở đây tượng trưng cho đạo Phật, đức Phật, chánh pháp, và các vị đệ tử (Tăng đoàn); đạo Phật là đạo hòa bình, đức Phật là vị Vua hòa bình, chánh pháp là con đường hòa bình, và các vị đệ tử là những vị sứ giả hòa bình[3]... Thật vậy, hòa bình có mặt đích thực khi nào mỗi chúng ta học, hiểu, hành trì, và ứng dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày một cách thích hợp trong các địa phương, trú xứ, và quốc độ khác nhau. Chúng ta hiểu và thực hành được như vậy, thì ánh sáng giác ngộ của đức Thế Tôn có khả năng chiếu sáng trên khắp thế gian này. Hơn nữa, chúng ta biết trong yếu tố giác ngộ còn có các chất liệu khác như chánh niệm, tỉnh thức, vững chãi, thảnh thơi, thong dong, và tự tại. Thành tựu được các chất liệu ấy, hành giả chắc chắn có an và có lạc ngay bây giờ và ở đây trong giờ phút hiện tại.

The light of enlightenment mentioned here symbolizes Buddhism, the Buddha, the Dharma, and His disciples (Sangha); Buddhism is the religion of peace, the Buddha is the King of peace, the Dharma is the path of peace, and the disciples are the messengers of peace.[4] Indeed, peace is authentically present whenever we each learn, understand, practice, and apply the Buddha Dharma in his/her daily life appropriately in various localities, regions, and countries. We understand and act like this, the light of the World-Honored One’s enlightenment has the ability to shine all over the world. Moreover, we know in the factors of His enlightenment, there are still other substances such as right mindfulness, awareness, steadiness, relaxation, carefreeness, and leisureliness. Accomplishing those qualities, practitioner can undoubtedly achieve peacefulness and joyfulness right here and right now in the present moments.

Giác ngộ có nhiều ý nghĩa và giai đoạn khác nhau như sau:

Giác ngộ của hành giả phàm phu – qua quá trình tu tập, chuyển hóa phiền não, áp dụng, và thực hành Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày của mình, chúng ta có thể đạt được giác ngộ, nhưng giác ngộ từng phần và từng bước;

Giác ngộ của hành giả Bồ tát – qua quá trình tu tập, đoạn tận hết các phiền não, và khám phá được khổ (Dukkha), khổ tập (Dukkha Samudaya), khổ diệt (Dukkha Nirodha), và con đường đưa đến khổ diệt (Dukkha Nirodha Gāminī Patipadā),[5] Bồ tát Tất Đạt Đa có khả năng đạt được giác ngộ, nhưng giác ngộ toàn phần và toàn hảo.

Enlightenment contains many different meanings and stages as follows:

Enlightenment of ordinary practitioners – through the process of cultivating, transforming defilements, applying, and practicing the Buddha Dharma in our daily lives, we can obtain enlightenment, but become enlightened partially and gradually.

Enlightenment of the Bodhisattva practitioner – through the process of having cut off afflictions, and discovering the truth of suffering (Dukkha), the origin of suffering (Dukkha Samudaya), the cessation of suffering (Dukkha Nirodha), and the path leading to the cessation of suffering (Dukkha Nirodha Gāminī Patipadā),[6] Bodhisatta Siddhārtha had the ability to attain enlightenment, but became enlightened fully and perfectly.    

Để hiểu rõ được quá trình tu tập và chứng đạo của Bồ tát Tất Đạt Đa, chúng ta cần phải hiểu rằng với chánh niệm và tỉnh giác, vững chãi và thảnh thơi, sự chứng ngộ của đức Phật không chỉ được thành tựu ngay trong lúc tu tập, mà ngay trong các đời sống trong quá khứ của Ngài, ngay trong đời sống hiện tại, đặc biệt là ngay trong lúc Ngài là đứa bé sơ sinh, cậu bé thái tử Tất Đạt Đa (Siddhārtha), và cuối cùng Ngài biểu hiện là đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni Buddha) trên thế gian này. Chính vì vậy, vua Tịnh Phạn, thân phụ của Ngài, đã hai lần chắp tay xá chào con mình và một lần đảnh lễ đức Phật; đó là,  

1. Vua chắp tay xá chào con mình trong lúc đạo Sĩ A Tư Đà (Asita) xem tướng cho thái tử và tiên đoán rằng thái tử sau này đi tu và trở thành một Bậc tỉnh thức và giác ngộ viên mãn, Người có khả năng đưa đường và chỉ lối hòa bình, an lạc và hạnh phúc cho số đông trên khắp hành tinh này.

In order to fully comprehend the process of the cultivation and enlightenment attainment of Bodhisattva Siddhārtha, we need to understand that, with right mindfulness and awareness, steadiness and leisureliness, the Buddha’s enlightenment was not just achieved right in the time of cultivation, but right in His past lives, right in His present life, especially right in the time He was a newborn baby, the little prince Siddhārtha, and finally manifested as Sakyamuni Buddha in the world. Therefore, king Suddhodana, His father, had twice greeted his son with respectfully joined hands and once paid homage to the Buddha; that is,

1. The king greeted his son with respectfully joined hands while the Asita hermit was examining the little prince’s physiognomy, and predicted that the prince later on would leave the royal family for a religious life and became a fully awakened and enlightened One, who would have the ability to show the path of peace, joyfulness and happiness to the many all over this planet.

2. Trong buỗi lễ cày cấy, vua chắp tay xá chào con mình trong lúc thái tử 9 tuổi đang ngồi thiền dưới cây hồng táo, chiêm nghiệm, và thấy chúng sanh đang tranh giành, giết, và ăn thịt lẫn nhau. Với tâm từ sẵn có, thái tử khởi tâm thương yêu muôn loài.

2. In the ceremony of plow and cultivation, the king greeted his son with respectfully joined hands while the prince at the age of 9 was meditating under a pink apple tree, contemplated, and saw living beings fighting, killing, and eating one another. With his ready compassionate heart, the prince radiated his loving heart for all living things and living beings.   

3. Vua đảnh lễ đức Phật trong khi đức Phật đang đi khất thực trên đường về thăm vua tại thành Ca Tỳ La Vệ, nơi đây các vị hoàng thân quốc thích trưởng thượng trong hoàng cung sinh tâm cao ngạo và cho rằng đức Phật chỉ là em út và con cháu của họ mà thôi. Lúc ấy, đọc được tư tưởng của các vị, đức Phật liền dùng năng lực nước từ bi và lửa trí tuệ nhiếp phục và cảm hóa được các vị, và chính những người này sau đó sinh tâm cung kính và đảnh lễ đức Phật và Tăng đoàn.

3. The king paid homage to the Buddha while the Buddha was begging for alms on the way back to visit His father at kapilavastu, where His elderly imperious relatives in the royal palace bore their minds of arrogance and thought that the Buddha was only their youngest brother and descendant. At that time, reading His relatives’ thoughts, the Buddha used energies of compassionate water and wisdom fire to collect and to convince them, and it was these people who then increased their respectful hearts, and paid proper homage to the Buddha and His Sagnha.

Như vậy, chúng ta thấy khả năng giác ngộ luôn có mặt trong thân và tâm của con người bao gồm chất phàm và chất thánh trong họ. Trong chất phàm có chất thánh; trong chất thánh có chất giác ngộ và giải thoát. Chất thánh trong Phật giáo được hiểu là Phật tánh hay chất Phật. Tuy nhiên, xét về khía cạnh tuyệt đối, chúng ta thấy khả năng giác ngộ trong họ, ở thánh Phật tánh không tăng, ở phàm Phật tánh không giảm.

Thus, we can see that the potential for enlightenment is always present in their bodies and minds containing the human substance and the holy substance in themselves. In the human substance there is the holy substance; in the holy substance there is the substance of enlightenment and liberation. The holy substance in Buddhism is understood as Buddha nature or Buddha substance. However, examining the absolute aspect, we see this potential for enlightenment within themselves, in a holy One their Buddha nature is no more, in an ordinary being their Buddha nature is no less.

Hiểu rộng thêm nữa là, theo quan điểm từ bi của Phật giáo, ở trong con người và ở con vật Phật tánh đều có, và ngay cả ở trong các loài vô tình Phật tánh cũng đều có mặt. Hiểu rõ được ý nghĩa như vậy, thì mỗi chúng ta có thể vun trồng và tưới tẩm Phật tánh trong ta và trong các loài hữu tình và vô tình bằng cách bảo vệ môi sinh, tôn trọng sự sống của muôn sự và muôn vật, cụ thể là thực hành điều tỉnh thức thứ nhất, một trong năm điều tỉnh thức của đạo giác ngộ. Thực vậy, dù ở địa vị phàm phu hay thánh quả, dù ở các loài vô tình hay hữu tình, nhưng Phật tánh vẫn là Phật tánh, ánh sáng giác ngộ vẫn là ánh sáng giác ngộ, tuệ giác vẫn là tuệ giác…

Understanding more broadly, according to the standpoint of Buddhist loving-kindness and compassion, in humans and in animals Buddha nature is present, and even in insentient beings Buddha nature is also present. Digesting the meanings clearly like this, we each can cultivate and water the Buddha nature in us, in sentient beings, and in insentient beings by protecting the environment, respecting their lives of all living things and living beings, especially by practicing the first awakening thing, one of the five awakening things of Buddhism – the path of enlightenment. Indeed, whether in human position or in holy position, whether in kinds of insentient beings or in those of insentient beings, but Buddha nature is still Buddha nature, the light of enlightenment is still that of enlightenment, insight is still insight, etc.

Tuy nhiên, xét về khía cạnh tương đối, chúng ta biết sự biểu hiện Phật tánh tùy theo mức độ tu tập của mỗi hành giả phàm phu và hành giả Bồ Tát. Ở thánh Phật tánh tỏa sáng như ánh trăng Rằm, ở phàm Phật tánh tỏa sáng như ánh trăng khuyết. Đối với hành giả Bồ Tát, qua quá trình tu tập và chứng ngộ, Phật tánh có thể tỏa sáng 100%, vì phiền não và lậu hoặc đã được đoạn diệt. Đối với hành giả phàm phu như chúng ta, qua quá trình tu tập, thanh lọc và chuyển hóa, Phật tánh có thể tỏa sáng khoảng …40, 60, 80…%, vì phiền não và lậu hoặc đang và cuối cùng sẽ được đoạn diệt hoàn toàn.

However, examining the relative aspect, we know the manifestation of Buddha nature depends on the cultivation level of every ordinary practitioner and Bodhisattva practitioner. In the holy One Buddha nature shines like the full Moon, in the human being Buddha nature shines like the crescent Moon. Toward Boddhisattva practitioner, through the process of cultivation and enlightenment, Buddha nature can shine 100 percent, because defilements and lapses have been annihilated. Toward ordinary practitioners like us, through the process of cultivation, purification, and transformation, Buddha nature can shine …40, 60, 80 percent, etc., because defilements and lapses are being annihilated and eventually will be totally annihilated.

Trăng mờ vì mây, Phật tánh mờ vì phiền não; mây tan nhờ gió, phiền não tham, sân, si… đoạn diệt nhờ tu tập và chuyển hóa. Tu tập có nghĩa là quá trình nhận diện và chuyển hóa các phiền não tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến... Khi các phiền não đã được chuyển hóa và đoạn diệt, thì ánh sáng giác ngộ của hành giả Bồ tát tròn sáng và hiển bày. Ở điểm này, Bồ tát Tất Đạt Đa, Người đã làm được, đã chứng ngộ viên mãn, và đáng được thế gian quy ngưỡng và tôn kính.

The moon is dim because of clouds, Buddha nature is dim because of afflictions; clouds are dispersed by the wind, afflictions of desire, anger, delusion, etc. are annihilated by cultivation and transformation. Cultivation means the process of recognizing and transforming defilements of greed, anger, delusion, arrogance, doubt, wrong view, etc. When difilements are transformed and annihilated, the light of enlightenment of the Bodhisattva practitioner shines brightly and fully. At this point, Bodhisattva Siddhārtha, who had accomplished and attained perfect enlightenment, deserved to be adored and respected by the world.

Như vậy, khi thảo luận ở đây, ánh sáng giác ngộ được hiểu là ánh sáng thiền định, ánh sáng tuệ giác, ánh sáng hòa bình, ánh sáng đại hùng, đại lực, và đại từ bi do chính Bồ tát Tất Đạt Đa khám phá và chứng ngộ. Nó không từ trên trời rơi xuống, nó không phải một món quà do một đấng thần linh ban tặng. Nó do chính Bồ Tát nếm và trải nghiệm qua sự tu tập, thực hành, và chứng ngộ tâm linh. Nó rất vi diệu, thù thắng và thiết thực hiện tại, dành cho những ai quan tâm, học hỏi, hành trì, và ứng dụng tới Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày của mình.

Thus, as discussed here, the light of enlightenment is understood as the light of meditation, concentration, that of insight, that of peace, that of great heroism, great power, and great loving-kindness and compassion discovered and obtained enlightenment by Bodhisattva Siddhārtha. It does not fall down from heaven, it is not a gift granted by a god. It is tasted and experienced by a Bodhisattva through his cultivation, practice, and spiritual attainment. It is very marvelous, surpassing and practical in the present, intended for those who care about, learn, practice, and apply the Buddha Dharma in their daily lives.  

Thực vậy, ánh sáng giác ngộ này không chế tác bằng tham, sân, si, vô minh, tà kiến, hận thù, và chiến tranh, mà nó được chế tác bằng chánh kham nhẫn, tinh tấn, nỗ lực, tinh thần tự tu, tự độ, tự ngộ và tự giải thoát qua việc thực tập và ứng dụng các chất liệu từ bi, trí tuệ, hòa bình, thiền định, và tuệ giác cho số đông ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại. Các chất liệu an lạc này có khả năng khơi dậy và đánh thức những hoa trái tuệ giác trong thân tâm của hành giả Bồ Tát trở nên bừng sáng.

Indeed, this enlightenment light is not created by greed, anger, delusion, ignorance, wrong view, hatred, and war. It is created by right endurance, effort, diligence, the spirits of self-cultivation, self-support, self-enlightenment, and self-liberation through practicing and applying the substances of loving-kindness, compassion, wisdom, peace, meditation, concentration, and insight to the many right here and right now in this present life. These peaceful substances have the ability to arise and to awaken flowers and fruits of insight in a Bodhisattva’s mind and body to become illuminated.

Bồ tát hay Bồ-đề-tát-đỏa trong tiếng Phạn (Sanskrit) được viết là Bodhisattva; Bồ đề (Bodhi) có nghĩa là lớn, là giác, hay là tỉnh thức; Tát đỏa (Sattva) có nghĩa là một chúng sanh, một hữu tình, hay là một con người. Vậy Bồ tát (Bodhisattva) có nghĩa là một chúng sinh đã đạt được sự giác ngộ và tỉnh thức nguyện đi trên đường vui, tu tập, và giải thoát để làm an lạc và lợi ích cho tự thân và cho tha nhân ngay cuộc đời này.

Bodhisattva is a Sanskrit word; Bodhi means greatness, enlightenment, or awareness; Sattva means a being, a sentient being, or a human being. Thus, Bodhisattva means a being who has attained a degree of enlightenment and awareness vowed to travel on the way of joy, cultivation, and liberation to make peacefulness and benefit for oneself and for others right in this life.

Trên lộ trình hướng đến giác ngộ và giải thoát, Tất Đạt Đa là một vị Bồ tát bằng xương bằng thịt có thật trong lịch sử nhân loại có đầy đủ phúc đức và trí tuệ, dũng mãnh và tinh tấn, nghị lực và kham nhẫn, tìm ra chân lý và ánh sáng giác ngộ sau này. Chính vị Bồ tát này đã tu tập thiền định thuần thục, trở thành một bậc đạo Sư tâm linh cao thượng, dẫn dường chỉ lối an lạc và hòa bình cho pháp giới chúng sanh trên khắp hành tinh.  

On the route leading to enlightenment and deliverance, Siddhārtha, who was the Bodhisattva in the flesh actually in our human history, was full of merit and wisdom, courage and effort, perseverance and patience, found the truths and the light of enlightenment later on. It was this Bodhisattva who practiced meditation and concentration maturely, became the nobly spiritual Master, instructed and showed the way of peacefulness and peace to all living things and living beings all over the planet.

Phàm phu chúng ta, vì nghiệp lực, mà sinh ra nơi đời, nên mỗi người gặp nhiều hoàn cảnh khác nhau, căn tánh khác nhau, gia đình khác nhau, mức độ giàu nghèo khác nhau… không ai giống ai cả. Thái tử Tất Đạt Đa, một vị Bồ tát đích thực, vì nguyện lực, mà sinh ra nơi đời trong một gia đình hoàng tộc, giàu sang, và quyền quý ở thành Ca Tỳ La Vệ (P. Kapilavatthu S. Kapilavastu), một phần của Nê-pan ngày nay.[7]

We ordinary beings, because of karmic power, were born, we each encounter different situations, different natures and characteristics, different families, different levels of wealth and poverty, etc., no one is alike. Prince Siddhārtha, who is an authentic Bodhisattva, because of the energies of his vows, was born in the world in a royal, wealthy, and powerful family in Kapilavatthu, a part of Nepal today.[8]

Lớn lên, thái tử lập gia đình với công chúa Da Du Đà La (Yasodharā), và có người con trai là La Hầu La (Rāhula). Cùng với người hầu cận tên là Sa Nặc, một hôm thái tử đi viếng thăm bốn cửa thành, thấy bốn cảnh thật của cuộc đời; đó là, người già, người bệnh, người chết, và vị ẩn sĩ. Cảnh thật thứ tư là vị khất sĩ tượng trưng cho hình ảnh thong dong và tự tại, tạo ấn tượng sâu sắc trong tâm khảm của thái tử, và tạo nguồn cảm hứng cho thái tử sau này trở thành một vị xuất sĩ không nhà. Khi trở thành vị xuất Sĩ không nhà, và sống trong môi trường thiên nhiên và núi rừng, Bồ tát Tất Đạt Đa đã phải tiếp xúc trực tiếp với nội tâm ngoại cảnh.

Growing up, the prince got married to Yasodharā, and had a son called Rāhula. Along with his attendant named Channa, one day the prince went to visit the four gates of royal palace, and saw four scenes of reality of life; that is, an old person, a sick person, a dead person, and an ascetic. The fourth scene, which was the ascetic, represented a leisurely and free way of life, made a deep impression in the prince’s heart, and created the inspirational sources for the prince later on to become a homeless monastic. When becoming the homeless monastic, and living within natural environment and mountain, Bodhisattva Siddhārtha had to relate directly with the inner mind and outer scene.

Thực hành và trải qua 6 năm khổ hạnh tại hang động Mahakala trên núi núi Tượng Đầu (Dhungeshwari), mỗi ngày Bồ tát chỉ ăn một ít hoa quả, và dần dần thân thể của Ngài chỉ còn da bọc xương mà thôi. Khám phá lối tu khổ hạnh này không đưa đến kết quả an lạc và giải thoát, Bồ tát Tất Đạt Đa (Bodhisattva Siddhārtha) quyết tâm thực hành theo phương pháp Trung Đạo (PaliMajjhimā PaipadāSanskrit: Madhyamā Pratipad):  (không tham đắm dục lạc, và không khổ hạnh ép xác), Bồ tát đồng ý thọ nhận và dùng bát cháo sữa của nàng Su Dà Ta (Sujata) cúng dường. Sức khỏe của Bồ tát trở nên bình phục. Sau đó, Bồ tát chấp nhận một bó cỏ cúng dường của người nông phu, đi thẳng tới Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya), trải qua 49 ngày đêm thiền định dưới cội cây Bồ đề, cuối cùng chiến thắng ma quân (Ma quân tượng trưng cho sự tham ái và chấp thủ), và giác ngộ viên mãn.

Practicing and spending the six years of asceticism in the Mahakala cave in Dhungeshwari mountain, everyday the Bodhisattva ate only a couple of fruits, and gradually His body only remained skins covering bones. Discovering that this ascetic way did not result in peacefulness and liberation, Bodhisattva Siddhārtha determined to embark on the method of the Middle Path (PaliMajjhimā PaipadāSanskrit: Madhyamā Pratipad) (no sexual indulgence on the one hand, and no ascetic mortification on the other), the Bodhisattva agreed to receive and to drink a milky gruel bowl offered by Ms. Sujata. His health became recovered. After that, He accepted a bunch of grass offered by a farmer, and then He went straight to Bodhgaya, where He spent 49 days and nights meditating under the root of Bodhi, finally defeated Mara’s army (Mara represents temptation and attachment), and obtained perfect enlightenment.

Như vậy, trong quá trình tu tập và giác ngộ, Bồ tát phải biết quá trình phát triển kham nhẫn của nội tâm bất kể ngoại cảnh; ngoại cảnh là cảnh bên ngoài, cụ thể là thời tiết và môi trường thiên nhiên. Ở Ấn Độ, vào mùa nóng nhiệt độ có thể lên tới 45 độ C. (45% C. = Celsius/ Centigrade = 120 degrees F. / Fehrenheit), và vào mùa lạnh nhiệt độ có thể 0 độ C. (0% C. = 0 degrees C. Celsius/ Centigrade = 32 degrees F. Fehrenheit). Trong thời đại ngày nay, sống ở trong nhà, chúng ta có đủ quần áo, chăn, gối, nệm, lò sưởi, máy điều hòa… để bảo vệ thân tâm chúng ta rất ấm áp, nhưng đôi lúc chúng ta còn cảm thấy lạnh, nóng, và khó chịu.  

Thus, in the process of cultivation and enlightenment, the Bodhisattva had to learn the process of developing patience of inner mind regardless of the outer scene; outer scene is the external scene, specically weather and natural environment. In India, in the hot season the temperature can reach 45 degrees C. (45% C. = Celsius/ Centigrade = 120 degrees F. Fehrenheit), and in the cold season the temperature can be 0 degrees C. (0% C. = 0 degrees C. Celsius/ Centigrade = 32 degrees F. Fehrenheit). In the present age, living at home, we have enough clothes, blankets, pillows, mattresses, heaters, air-conditioner, etc. to protect our bodies and minds very well, but sometimes we still feel cold, hot, and uncomfortable.

Hãy để cho chúng ta suy nghĩ về Bồ tát Tất Đạt Đa (Bodhisattva Siddhārtha), Người đã sống đời sống không gia đình, ăn hoa quả, uống nước mưa, nước suối để nuôi thân, và đã dùng tỉnh thức, chánh niệm, và thiền định để nuôi tâm… Ban đêm thì ngủ dưới gốc cây, ban ngày thì đi khất thực, lấy môi trường thiên nhiên làm nhà, dùng cây và lá rừng làm giường chiếu, dùng trăng sao làm đèn, dùng sự tu tập thiền, định, chánh niệm và tỉnh giác làm món ăn tinh thần cho thân và cho tâm, và dùng việc hoằng dương chánh pháp làm lợi ích cho số đông.

Let us imagine Bodhisattva Siddhārtha, who lived a homeless life, ate flowers and fruits, drank rain water, spring water to nourish his body, and used awareness, mindfulness, meditation, and concentration to bring up his mind, etc. By night He slept under the root of a tree, by day He begged for food; He took the natural environment as His home, used trees and forest leaves as His beds, used the moon and stars as His lamps, used cultivation of meditation, concentration, mindfulness, and awareness to make the spiritual food for His body and mind, and used Dharma propagation to make benefit for the many.  

Tiếp đến là nội tâm; nội tâm là phần sâu kín nhất của nội tâm, được hiểu là tàng thức (Ālaya Vijñāna) hàm chứa các hạt giống thiện và bất thiện; các hạt giống thiện gồm có chánh kham nhẫn, chịu đựng, khắc phục, chọn lọc, vững chãi, tinh tiến, nghị lực, sức mạnh tinh thần, niềm tin bất thoái, ánh sáng giác ngộ, tuệ giác...; các hạt giống bất thiện gồm có giải đãi, biếng nhác, thoái lui, do dự, lưỡng lự, nhu nhược, yếu đuối, mơ mờ, vô minh…

The next is inner mind; inner mind, which is the deepest part of the inside mind, is understood as storehouse of consciousness (Ālaya Vijñāna) containing the the good seeds and the non-good seeds; the good seeds consist of right patience, endurance, overcoming, selection, solidity, effort, courage, spiritual strength, unshakable confidence, the light of enlightenment, insight, etc.; the non-good seeds are comprised of slackness, laziness, regression, hesitation, feebleness, weakness, vagueness, ignorance, etc.

Tu tập là quá trình thực tập kham nhẫn, nuôi dưỡng, chọn lọc, thăng tiến, và chuyển hóa từ khó khăn thành an vui, khổ đau thành hạnh phúc, vô minh thành minh…. Tuy nhiên, con người chúng ta, khi gặp thời tiết khắc nghiệt, ăn uống thiếu thốn, ngủ nghỉ lạnh lẽo. v. v…, thường thì có xu hướng sống chán nản và thoái lui. Nhưng, đối với Bồ tát Tất Đạt Đa (Bodhisattva Siddhārtha) khi gặp nghịch cảnh khó khăn và thời tiết khắc nghiệt, Bồ tát luôn hoan hỷ và đón nhận những cảnh khó khăn, khổ hạnh, và kham nhẫn đó; những nghịch cảnh này tạo thành sức mạnh tinh thần, ý chí dũng mãnh, tinh tiến, và nghị lực phi thường, và hướng Bồ Tát tới giác ngộ và giải thoát tâm linh sau này.

Cultivaton is the process of patience practice, nurture, selection, advancement, and the transformation from difficulties into peacefulness, suffering into happiness, ignorance into clear understanding, etc. However, we humans, when encountering severe weather, eating deficiently, sleeping coldly, etc., usually tend to live discouragingly and downheartedly. But, Bodhisattva Siddhārtha, when meeting difficult adversities and severe weather, is always happy to welcome the difficulties, asceticism, and patience; these adversities create His mental strength, fearless will, effort, and extraordinary energy, and lead Him to spiritual enlightenment and liberation later on.

Thực vậy, với tinh thần đại hùng, đại lực, đại bi và đại trí, đạt được giác ngộ và giải thoát, thì Bồ tát Tất Đạt Đa đã thực hành hạnh tinh tấn, kham nhẫn và kiên nhẫn. Muốn giác ngộ và thành Phật, Bồ tát phải bắt đầu từ con người duyên sinh (Sanskrit pratītyasamutpāda; Pali paticcasamuppāda). Nương vào con người này, Bồ tát tu tập và tìm ra chất thánh, chất vững chãi và thảnh thơi, an vui và hạnh phúc. Lìa con người này ra, Bồ tát không tìm được các chất liệu ấy. Là hành giả giác ngộ và tỉnh thức, Bồ Tát tìm ra được ánh sáng chân lý qua việc áp dụng và thực tập chánh kiến, chánh tư duy, chánh kham nhẫn, thanh lọc, và chuyển hóa các phiền não tham, sân, si…

Indeed, with the spirit of great hero, great power, great compassion and great wisdom, obtaining enlightenment and liberation, Bodhisattva Siddhārtha practiced the vows of effort, endurance and patience. Wanting to attain enlightenment and to become a Buddha, the Bodhisattva had to start from a person of Dependent Arising (Sanskrit pratītyasamutpāda; Pali paticcasamuppāda). Building on this person, the Bodhisattva cultivated and found the substance of holiness, that of solidity and relaxation, peacefulness and happiness. Leaving go of this person, the Bodhisattva did not find the substances. As the enlightened and awakened Practitioner, the Bodhisattva found out the light of truth through the application and practice of right view, right though, right patience, purification, and transformation of afflictions of greed, anger, delusion, etc.   

Chính vì vậy, đạo Phật luôn dạy con người tu tập, chuyển hóa, và chuyển nghiệp là yếu tố then chốt hướng tới giác ngộ. Nương vào một đấng tối cao nào đó để tìm kiếm giác ngộ và giải thoát nơi vị ấy, thì hành giả không bao giờ tìm thấy. Nương vào con người giả hợp để tu tập, để thanh lọc, và để chuyển hóa phiền não và lậu hoặc, thì hành giả có thể tìm thấy giác ngộ, giải thoát, và Phật tánh nơi chính mình.

Therefore, Buddhism has always taught people who are cultivated, transformed, and who change their karma are their key factor to enlightenment. Depending on a supreme being to search out enlightenment and deliverance in him, practitioner will never find them. Depending on a person of elements (consisting of earth, water, fire, wind, etc.) to cultivate, to purify, and to transform afflictions and lapses, practitioner can find enlightenment, deliverance, and Buddha nature in himself or herself.

Bồ tát Tất Đạt Đa, Người tu giỏi, thấy ánh sáng giác ngộ trong vô minh, tà kiến, và tà kham nhẫn, thấy Bồ đề trong phiền não, hạnh phúc trong khổ đau, sen trong bùn, và hoa trong rác, và thấy con đường Trung Đạo trong khổ hạnh ép xác và trong tham đắm dục lạc ... Trái lại, cùng tu khổ hạnh với Bồ tát Tất Đạt Đa, 5 anh em của Tôn giả Kiều Trần Như, những người tu không giỏi, không tìm thấy được con đường Trung Đạo, không thực hành thiền định hoàn hảo như Bồ tát, và không tìm thấy giác ngộ và giải thoát nơi tự thân.

Bodhisattva Siddhārtha, who cultivated well, found the light of enlightenment in ignorance, wrong view, and in wrong patience, found bodhi in afflictions, happiness in suffering, the lotus in mud, and flowers in garbage, and found the Middle Way in ascetic mortification and in sensual indulgence, etc. Conversely, cultivating asceticism together with Bodhisattva Siddhārtha, the five brothers of Elder Kondañña, who did not cultivate well, did not discover the Middle Way, and did not practice meditation and concentration perfectly like the Bodhisattva, and did not find enlightenment and deliverance in themselves. 

Với sự kham nhẫn và nỗ lực, với tinh thần đại hạnh và đại nguyện, Bồ Tát tìm ra ánh sáng giác ngộ, chân lý Khổ (Dukkha), và con đường đưa tới chuyển hóa khổ đau (Dukkha nirodha gāmini patipadā ariya sacca), cụ thể là con đường Trung Đạo (Majjhimā paipadā) với tám chi nhánh rất thực tiễn: Thấy biết chân chánh (đúng), tư duy chân chánh, hành động chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, siêng năng chân chánh, nhớ nghĩ chân chánh, và chuyên tâm chân chánh. Tám chi nhánh này tương tức với nhau như hình với bóng tạo thành con đường an vui và hạnh phúc cho số đông nếu mọi người cùng nhau áp dụng và thực hành con đường này vào trong đời sống hằng ngày một cách chánh niệm và tĩnh giác, vững chãi và thảnh thơi ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại.

With patience and effort, with the spirits of great actions and great vows, the Bodhisattva found the light of enlightenment, the truth of suffering (Dukkha), and the path leading to transformation of suffering (Dukkha nirodha gāmini patipadā ariya sacca), specifically the Middle Path (Majjhimā paipadā) with the very practical eight branches: “Right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right concentration.” These eight branches that relate with one another as an image and its shadow are formed into the path of joyfulness and happiness for the many if everyone applies and and practices this path together in their daily lives mindfully and attentively, steadily and freely right here and right now in the present life.

Trên đây, nội tâm và ngoại cảnh đã được trình bày. Tiếp theo, chúng ta tiếp tục tìm hiểu ý nghĩa ma quân.

Khác với cảnh giới hữu hình của con người, ma thuộc cảnh giới vô hình; quân có nghĩa là một nhóm số đông. Theo giáo lý ẩn dụ của Phật giáo, ma quân dụ cho những hạt giống và tập khí tiêu cực trong thân và trong tâm ta. Chẳng hạn như, mỏi mệt, biếng nhác, giải đãi, phóng túng, buông lung, do dự, nãn chí, thoái lui, tham lam, sân giận, si mê… là những tập khí tiêu cực. Chánh kham nhẫn, tinh tấn, dõng mãnh, vươn lên, nghị lực, sức sống, khoan dung, độ lượng, an lạc, hạnh phúc, hòa bình, tuệ giác, … là những tập khí tích cực.

Inner mind and outer scene are discussed above. Next, we continue exploring the meanings of Mara’s army.

Unlike the visible realms of humans, maras belong to the invisible realms; army means a group of many. According to the metaphorical teachings of Buddhism, Mara’s army symbolizes the negative seeds and habits in our bodies and minds. For example, tiredness, laziness, indolence, looseness, licentiousness, hesitation, disheartenment, regression, greed, anger, delusion, etc. are the negative habits. Right endurance, effort, courage, promotion, energy, vitality, tolerance, generosity, peacefulness, happiness, peace, insight, etc. are the positive habits.

Là người tỉnh thức, chúng ta nhận diện rằng các hạt giống tiêu cực và tích cực luôn có mặt trong ta từ giờ này sang giờ khác, từ ngày này sang ngày khác, từ tuần này sang tuần khác, từ tháng này sang tháng khác, và từ năm này sang năm khác. Tu tập là quá trình thanh lọc và chuyển hóa các hạt giống tiêu cực thành các hạt giống tích cực bằng cách áp dụng và thực hành Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày của mình một cách tinh chuyên, chánh niệm và tỉnh giác. Chúng ta thực tập được như vậy, thì các hạt giống tiêu cực trong ta dần dần sẽ được đoạn trừ, các hạt giống tích cực trong ta sẽ được phát triển, và ánh sáng giác ngộ trong ta sẽ được hiển bày.  

As awakening people, we recognize that the negative and positive seeds are always present in us from hour to hour, from day to day, from week to week, from month to month, and from year to year. Cultivation is the process of purifying and transforming the negative seeds into the positive seeds by applying and practicing the Buddha Dharma in our daily lives diligently, mindfully, and awakeningly. We practice like this, the negative seeds in us will be gradually given up, the positive seeds in us will be developed, and the light of enlightenment in us will be manifested.

Ngược lại, khi chúng ta không tu tập Phật pháp ngon lành, hạt giống tích cực trong ta sẽ bị giảm và mất dần dần, hạt giống tiêu cực trong ta tăng trưởng và tăng nhanh, Phật tánh và ánh sáng giác ngộ trong ta sẽ bị che mờ và che khuất. Người tu giỏi thì gặt hái hoa trái an vui và hạnh phúc rất nhiều. Người tu không giỏi hoặc tu học lai rai thì gặt hái hoa trái an vui và hạnh phúc rất ít hoặc không có. Quá trình tu tập là quá trình đạt tới thân tâm an lạc và ánh sáng giác ngộ trong từng phút, từng giờ, từng ngày, từng bước, và trong từng giai đoạn khác nhau của cuộc đời.

Converely, when we do not practice the Buddha Dharma well, the positive seeds in us will be gradually lessened and vanish, the negative seeds in us will rise up and increase quickly, Buddha nature and the light of enlightenment in us will be clouded and obscured. Those who cultivate well reap flowers and fruits of peacefulness and happiness very much. Those who cultivate not well or sporadically reap them very little or not at all. The process of cultivation is that of achieving our peaceful bodies and minds, and the light of enlightenment in every minute, every hour, every day, every step, and in every different stage of life.              

Thật vậy, theo ý nghĩa ẩn dụ, ma quân chỉ cho cái tâm đố kỵ, kỳ thị, sợ hãi, thấp kém, không giỏi bằng người, sợ và thấy người khác giỏi hơn mình. Nếu một người không tu tập hoặc tu tập chút chút, thì ma quân trong vị ấy dễ dàng xuất hiện, và ngược lại, nếu một người có tu tập tinh chuyên, thì ma quân trong vị ấy biến mất dần.

Indeed, according to the metaphorical senses, Mara’s army represents the minds of envy, discrimination, fearfulness, inferiority, those of being not as good as other people, those of fearing and seeing them being better than one. If a person does not cultivate or cultivates little, Mara’s army in him or in her will appear easily, and vice versa; if a person has ultivated diligently, Mara’s army in him or in her disappears gradually.

Khi sao Mai vừa mọc, Bồ tát Tất Đạt Đa, Người tu tập tinh chuyên, hoàn toàn chiến thắng ma quân bằng cách đoạn tận các phiền não và tập khí tiêu cực trong Ngài. Lúc đó, tâm Bồ tát trở nên bừng sáng, ánh sáng giác ngộ, hòa bình, an lạc và hạnh phúc trong Ngài có khả năng chiếu sáng khắp nơi tự thân và tha nhân ngay tại thế gian này.

When the morning Star rose, Bodhisattva Siddhārtha, who cultivated diligently, defeated Mara’s army completely by annihilating defilements and negative habits in Himself. At that time, His mind became suddenly illuminated, the light of enlightenment, peace, peacefulness and happiness in Him had the ability to shine all over Himself and others right in this world.

Qua các ý nghĩa đề cập ở trên, chúng ta thấy rằng ánh sáng giác ngộ và tỉnh thức đều bắt nguồn từ pháp hành; vững chãi và thảnh thơi đều bắt nguồn từ pháp hành; an lạc và hạnh phúc cũng đều bắt nguồn từ pháp hành; đi cùng với pháp hành là pháp hiểu, pháp học, pháp thiền, pháp định, pháp lạc, pháp hoằng, và pháp hộ. Xuyên qua pháp hành, Bồ tát Tất Đạt Đa (Bodhisattva Siddhārtha) lĩnh hội và có đủ các chất liệu ấy.

Through the foregoing meanings, we see that the light of enlightenment and awareness is derived from Dharma practice; steadiness and relaxation are derived from Dharma practice; peacefulness and happiness are also derived from Dharma practice; going together with Dharma practice is Dharma understanding, Dharma learning, Dharma meditation, Dharma concentration, Dharma peacefulness, Dharma propagation, and Dharma protection. Throughout the Dharma practice, Bodhisattva Siddhārtha fully digested and built up enough the quality substances.

Ở điểm này, chúng ta hiểu thêm rằng, khi một con người sinh ra đời hoàn hảo về mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý, thì cả gia đình của vị ấy đều vui. Khi vị ấy lớn lên, học hành, đỗ đạt, thành tài, có công việc làm ăn ổn định, và lập gia thất, thì tự thân của vị ấy không những vui, mà gia đình nội ngoại hai bên cũng đều vui. Những ý trên đây được nói về con người thế gian. Khác với con người thế gian, Bồ tát Tất Đạt Đa, con Người tỉnh thức, tìm ra ánh sáng giác ngộ, chân lý khổ, và con đường chuyển hóa khổ đau dưới cội cây Bồ đề (Bodhi) tại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) khoảng năm 589 trước thường lịch. Trong thế giới này, không những các loài hữu tình, mà các loài vô tình trên quả địa cầu này đều được thấm nhuần ánh sáng từ bi, trí tuệ, hòa bình, và an lạc nơi Ngài.

At this point, we understand more, that when one is born in the world perfects one’s eyes, ears, nose, tongue, body, and mind, one’s whole family is happy. When one grows up, studies, graduates, achieves talents, has a stable job, and gets married, oneself is not only happy, but one’s paternal and maternal families are also happy. The forgoing senses are mentioned about worldly people. Different than these people, Bodhisattva Siddhārtha, the Awakened One, found the light of enlightenment, the truths of suffering, and the path of transformation of suffering under the root of the Bodhi tree at Bodhgaya about the year 589 before the common era. In this world, not only all sentient beings, but also all insentient beings on this globe are imbued with the light of loving-kindness, compassion, wisdom, peace, and peacefulness in Him.     

Bồ tát Tất Đạt Đa,

quyết tâm đi xuất gia,

an trú vui thiền định,

chứng ngộ đạo tỉnh thức,

chứng ngộ đạo hòa bình,

chứng ngộ đạo giải thoát,

chỉ dạy cho chúng sanh,

đi trên con đường chánh

bằng ánh sáng giác ngộ,

bằng ánh sáng Phật pháp,

bằng ánh sáng Tăng đoàn

của đức Phật Thế Tôn.

Người người cùng tu tập,

nhà nhà được an vui.”

(Người viết)

 

Bodhisattva Siddhārtha,

who had determined to become a homeless Monastic,

obtained the path of awareness,

gained that of peace,

attained that of deliverance,

instructed living beings

to travel on the right way

by the light of enlightenment,

by that of the Buddha Dharma,

by that of the Sangha

of the World-Honored Buddha.

Everyone cultivates together,

each of their houses gets happy.

(The writer)

Theo cái nhìn tương tức của Phật giáo, đức Phật sơ sinh, cậu bé sơ sinh, thái tử Tất Đạt Đa, Bồ tát Tất Đạt Đa, đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đều bắt nguồn từ con người duyên sinh và giả hợp (Sanskrit pratītyasamutpāda; Pali paticcasamuppāda) mà thôi. Xuyên qua việc tu tập chánh tinh tấn, kham nhẫn, và thiền định, nương vào con người này, Bồ tát Tất Đạt Đa tìm ra ánh sáng giác ngộ nơi tự thân, giáo hóa, và làm lợi ích cho tha nhân. Do vậy, khi con người này sinh ra, không những dân chúng và dòng dõi hoàng gia tại thành Ca Tỳ La Vệ thuộc Ấn Độ cổ đại, một phần của nước Nê-pan (Nepal) ngày nay, vui mừng, mà cả pháp giới chúng sinh trên khắp hành tinh cũng đều vui mừng.

According to interdependent vision of Buddhism, a newborn Buddha, a newborn baby, prince Siddhārtha, Bodhisattva Siddhārtha, Lord Sakyamuni Buddha, originates from person of dependent origination and elements (Sanskrit pratītyasamutpāda; Pali paticcasamuppāda). Through his cultivation of right effort, endurance, meditation, and concentration, building on this person, Bodhisattva Siddhārtha found out the light of self-enlightenment, taught, and made benefit for other people. Therefore, when this person was born, not only are the people and royal lineage in Kapilavatthu of ancient India, a part of Nepal today, happy and glad, but living things and living beings all over the planet are also happy and glad.

Có hai lý do chính sau đây: Thứ nhất, vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Da (Māyādevī), lúc trên 40 tuổi, mới có con đầu lòng tên là Tất Đạt Đa, con người toại nguyện có đầy đủ phước đức và trí tuệ. Cả vua và hoàng hậu đều hiến tặng cho trái đất này một con người quý nhất trong lịch sử nhân loại, bởi vì con người này luôn luôn nuôi dưỡng và đem lại ánh sáng hòa bình, từ bi, trí tuệ, giác ngộ, giải thoát, an vui và hạnh phúc cho số đông ngay tại thế gian này.

There are the following two main reasons: First, King Suddhodana and Queen Maya (Māyādevī), when over 45 years old, had a first-born child named Siddhārtha, a fully contented person with the sufficiency of virtue and wisdom. Both the King and the Queen have dedicated to this earth a most precious person in the history of humankind, because this person always nurtures and brings the light of peace, loving-kindness, compassion, wisdom, enlightenment, deliverance, peacefulness and happiness to the many right in this world.

Ngày nay, với niềm tin chánh tín đối với Tam Bảo (Phật, Pháp, và Tăng) bất thoái và không lay chuyển, những cha mẹ nào, những vị cư sĩ và xuất sĩ nào, có đủ duyên tìm thấy đạo Phật bằng cách học hỏi, hiểu biết, dạy dỗ, hành trì, và ứng dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày, thì họ có khả năng hiến tặng con người đức hạnh và trí tuệ như thế cho gia đình, cho tự viện, cho dòng họ, và cho cả xã hội. Thực hiện được việc ấy tốt đẹp, thì họ cùng nhau góp phần xây dựng một quê hương thanh bình, các gia đình hạnh phúc, một cõi thiên đường, hay cực lạc ngay tại thế gian này.

At the present day, with confidence in Triple Gem (the Buddha, the Dharma, and the Sangha) unwaveringly and immovably, parents, lay people and monastics, who have enough fortunate conditions to find Buddhism by studying, understanding, teaching, practicing, and applying the Buddha Dharma in their daily lives, have the ability to offer a person of virtue and wisdom like this to their families, monasteries, nunneries, relatives, and to society. Carrying this out well, together they contribute to building their peaceful homeland, happy families, a realm of heaven, or Pure Land right in this world.

Thứ hai, sau khi thái tử Tất Đạt Đa sinh ra, nhận lời mời của vua Tịnh Phạn (Suddhodana), tiên A Tư Đà (Asita), một vị ẩn sĩ nổi tiếng thời bấy giờ, thỉnh vào triều đình Ca Tỳ La Vệ (Pàli. Kapilavatthu Phạn. Kapilavastu), xem tương lai cho thái tử. A Tư Đà (Asita) tiên đoán rằng khi lớn lên, chắc chắn thái tử sẽ từ bỏ con đường làm vua, và thay vào đó quyết định chọn con đường xuất gia, ngộ lý vô thường, tu tập thiền định, trở thành Người giác ngộ toàn hảo, và đem lại an lạc và lợi ích cho số đông.

Second, after Siddhārtha was born, receiving the invitation from king Suddhodana, the seer Asita, a renowned hermit at that time, was invited to the court of Kapilavatthu to foretell the future for the prince. Asita predicted that when growing up, the prince, who would undoubtedly give up the path to become a king, instead decide to choose the path of a homeless monastic, master the theory of impermanence, cultivate meditation, concentration, become a perfectly enlightened One, and bring peacefulness and well-being to the many.

Thật vậy, những lời tiên đoán của tiên A Tư Đà là những lời tiên tri duy nhất trong lịch sử Phật giáo và nhân loại, sau này trở thành sự thật. Thực hiện các lời tiên đó có thể làm theo các tinh thần tự tu, tự độ, tự ngộ, và tự giải thoát. Là một vị Bồ tát đích thực, thái tử Tất Đạt Đa (Siddhārtha) quyết tâm đi xuất gia và trở thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni; Muni có nghĩa là vị hiền triết, vị ẩn sĩ; Sakya có nghĩa là tĩnh lặng, vắng lặng; vậy Sakyamuni có nghĩa là vị hiền triết tĩnh lặng của dòng họ Thích Ca – Sakya vắng bặt các phiền não và lậu hoặc, đạt được giác ngộ viên mãn), Người sáng lập ra đạo Phật, đem hoa trái tình thương và hòa bình để truyền bá cho pháp giới chúng sinh trên khắp hành tinh này.

Indeed, the seer Asita’s predictions, which were the only prophecies in the history of Buddhism and humankind, later on became true. The fulfillment of those prophecies was made possible by the spirits of self-cultivation, self-support, self-enlightenment, and self-liberation. As an authentic Bodhisattva, the prince Siddhārtha determined to leave his royal family for a religious life and became the Buddha, named Sakayanuni (Muni means a sage, a hermit; Sakya means quiet, tranquil; thus Sakyamuni means a tranquil Sage of sakyan clan, who was absent from defilements and lapses, attained perfect enlightenment), the founder of Buddhism, who brought flowers and fruits of love and peace to preach to living things and living beings all over the planet.

Với hạt giống giác ngộ trong nhiều đời, và với dòng dõi của các bậc thánh trong nhiều kiếp, khi Bồ tát Tất Đạt Đa thành Phật, ánh sáng giác ngộ, từ bi và hòa bình của Ngài được truyền bá rộng rãi trong khắp nhân gian một cách bình đẳng, nó không kỳ thị, và không ngăn cản cho bất cứ ai cả. Hễ những ai có đủ cơ duyên học hỏi, hành trì, và ứng dụng giáo pháp giác ngộ vào trong đời sống hằng ngày một cách chuyên cần, chánh niệm, và tỉnh giác, thì họ có khả năng gặt hái được những hoa trái an vui và hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại; đây là những điểm đặc thù của đạo Phật hiếm thấy hoặc không được tìm thấy trong các tôn giáo bạn.

With the seeds of enlightenment through many lives, and with the lineage of the sages through many eons (Kalpas), when Bodhisattva Siddhārtha became the Buddha, the light of His enlightenment, loving-kindness, compassion, and peace was widely spread over the world equally, it did not discriminate, and did not exclude anyone at all. Those who have enough opportunities to study, to practice, and to apply the Dharma of enlightenment in their daily lives diligently, mindfully, and attentively, have the ability to reap flowers and fruits of peacefulness and happiness right here and right now in the present life; these are specific characteristics of Buddhism being rarely found or not found in other religions.

Tóm lại, qua những gì đề cập ở trên, chúng ta biết ánh sáng giác ngộ được xuất phát từ thân tâm tu tập của Bồ tát Tất Đạt Đa, cụ thể là đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Khi giác ngộ viên mãn, đức Phật, cùng với các vị đệ tử, những vị sứ giả hòa bình, tiếp tục lên đường vận chuyển bánh xe chánh pháp, và đem ánh sáng giác ngộ, hòa bình, an vui và giải thoát truyền bá trong khắp nhân gian.

To sum up, through the above mentioned things, we know the light of enlightenment is derived from the cultivated body and mind of Bodhisattva Siddhārtha, namely Lord Sakyamuni Buddha. When attaining perfect enlightenment, the Buddha, along with His disciples, messengers of peace, continued to travel on the way, setting the Dharma Wheel in motion, and brought the light of enlightenment, peace, peacefulness and liberation to spread over the world.

Nơi nào ánh sáng giác ngộ được truyền bá, thì nơi đó con người an trú vững chãi trong đạo tỉnh thức và giác ngộ, họ không bao giờ gặp sự kỳ thị, phân biệt chủng tộc, và phân chia giai cấp. Nơi nào đạo Phật được truyền bá, thì nơi đó, với sự thực tập và ứng dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày, con người sống hiền và thiện ra. Nơi nào đạo Phật có mặt, thì nơi đó đạo Phật đạo hòa bình – không bao giờ gây ra chiến tranh tôn giáo cho bất cứ ai. Và nơi nào đạo Phật có mặt, thì nơi đó quê hương, dân chúng, làng xóm không những được thanh bình, mà cỏ, cây, rừng, núi, đất, đá, và muôn thú đều được yên vui, bởi lẽ các loài hữu tình và vô tình đều thấm nhuần giáo lý từ bi và trí tuệ của đạo hòa bình.

Wherever the light of enlightenment has been preached, there people live steadily in the religion of awakening and enlightenment, they have never had discrimination, distinction of race, and division of caste. Wherever Buddhism has been spread, there, with practice and application of the Buddha Dharma in their lives, people live more genly and better. Wherever Buddhism has been present, there Buddhism – the path of peace – has never caused a religious war for anyone. And wherever Buddhism has been present, there homeland, its people, villages, and hamlets are not only tranquil, but plants, trees, forests, mountains, soils, rocks, all animals are also peaceful and happy, because sentient beings and insentient beings have been imbued with the teachings of loving-kindness, compassion and wisdom of our peaceful religion.

Hiểu và thực hành được như vậy, thì chúng ta cùng nhau góp phần đem lại an lạc và hạnh phúc đích thực cho số đông trên khắp hành tinh này.

Kính chúc quý vị an lạc và hạnh phúc trong ánh sáng hòa bình và giác ngộ của đức Phật Thế Tôn!

Understanding and practicing like this, we together contribute to bringing authentic joyfulness and happiness to the many all over this planet.

May you all be well and happy with the light of the World-Honored Buddha’s peace and enlightenment!

By Thích Trừng Sỹ

 

 

 

Ánh sáng giác ngộ qua cái nhìn của Bồ Tát Tất Đạt Đa

Chúng ta đều biết trong lịch sử nhân loại xưa và nay, các nhà đạo học cũng như thế học phải có nhiều nỗ lực, thì họ mới có thể thành tựu trong cuộc sống, và lưu danh muôn thuở. Muốn thành tựu nhiều trong cuộc sống, trước hết họ phải thực hiện quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân. Nhờ nhiếp phục các quá trình kham nhẫn, tu, học, và giúp đỡ tự thân và tha nhân như vậy, thì họ mới có thể trở thành những nhà khoa học, toán học, văn học, triết học, đạo học, v. v… Bồ Tát Tất Đạt Đa (Bodhisattva Siddhārtha Gautama),[9] một vị đạo Sư tâm linh siêu việt, một Nhà đạo học hoàn hảo có đầy đủ đức hạnh, từ bi, và trí tuệ, trải qua 6 năm tu khổ hạnh rừng già với năm anh em Ông A Nhã Kiều Trần Như (Aññā Kondañña), tìm cầu chân lý, và thiền định dưới cội cây Bồ đề suốt 49 ngày đêm. Cuối cùng, Bồ Tát thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni được chư thiên và loài người tôn kính, có khả năng đem ánh sáng giác ngộ, tình thương, và hòa bình cho pháp giới chúng sanh trên khắp hành tinh này.  

Qua những ý nghĩa tổng quát được đề cập ở trên, người viết mạnh dạn đặt tựa đề cho bài viết này là “Ánh sáng giác ngộ qua cái nhìn tuệ giác của Bồ tát Tất Đạ Đa.” Cái nhìn ở đây được hiểu là cái nhìn kết quả của việc thực tập thiền quán và cái nhìn tuệ giác, có khả năng thấy rõ tiến trình kham nhẫn, tinh tấn, tu tập thiền định, thành đạo, hoằng pháp, và giáo hóa chúng sanh của Bồ tát Tất Đạ Đa (Bodhisattva Siddhārtha). Trong chủ đề của bài viết này, chúng ta bắt gặp các cụm từ như “ánh sáng, giác ngộ, Bồ tát, Tất Đạt Đa.” Sau đây, người viết lần lượt giải thích từng thuật ngữ một và tìm hiểu ý nghĩa và nội dung của các thuật ngữ trên.  

Thông thường, khi đề cập tới ánh sáng, người ta nghĩ tới ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, ánh sáng sao hôm, sao mai; áng sáng đèn điện, đèn xe, đèn ne-on, v. v … Các loại ánh sáng này là ánh sáng thiên nhiên, ánh sáng vật chất, hay ánh sáng nhân tạo mà thôi. Khác với các loại ánh sáng trên, ánh sáng được thảo luận ở đây chính là ánh sáng giác ngộ, xuất phát từ thân tâm tu tập thiền định, kham nhẫn, tinh tiến, thanh lọc, và chuyển hóa phiền não của hành giả, tức Bồ tát Tất Đạt Đa.

Nhờ tu tập thiền định thuần tịnh và siêu nhiên, Bồ tát Tất Đạt Đa (Bodhisattva Siddhārtha) đã đoạn tận vô minh, phiền não, lậu hoặc, chấp thủ, …, và thành tựu đạo quả giác ngộ viên mãn. Đối với Bồ tát – vị hành Giả tỉnh thức, giác ngộ có nghĩa là vắng bặt vô minh, phiền não, chấp thủ, lậu hoặc, khổ đau, và chấm dứt vòng luân hồi tái sinh.

Ánh sáng giác ngộ được đề cập ở đây tượng trưng cho đạo Phật, đức Phật, chánh pháp, và các vị đệ tử (Tăng đoàn); đạo Phật là đạo hòa bình, đức Phật là vị Vua hòa bình, chánh pháp là con đường hòa bình, và các vị đệ tử là những vị sứ giả hòa bình[10]... Thật vậy, hòa bình có mặt đích thực khi nào mỗi chúng ta học, hiểu, hành trì, và ứng dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày một cách thích hợp trong các địa phương, trú xứ, và quốc độ khác nhau. Chúng ta hiểu và thực hành được như vậy, thì ánh sáng giác ngộ của đức Thế Tôn có khả năng chiếu sáng trên khắp thế gian này. Hơn nữa, chúng ta biết trong yếu tố giác ngộ còn có các chất liệu khác như chánh niệm, tỉnh thức, vững chãi, thảnh thơi, thong dong, và tự tại. Thành tựu được các chất liệu ấy, hành giả chắc chắn có an và có lạc ngay bây giờ và ở đây trong giờ phút hiện tại.

Giác ngộ có nhiều ý nghĩa và giai đoạn khác nhau như sau:

Giác ngộ của hành giả phàm phu – qua quá trình tu tập, chuyển hóa phiền não, áp dụng, và thực hành Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày của mình, chúng ta có thể đạt được giác ngộ, nhưng giác ngộ từng phần và từng bước;

Giác ngộ của hành giả Bồ tát – qua quá trình tu tập, đoạn tận hết các phiền não, và khám phá được khổ (Dukkha), khổ tập (Dukkha Samudaya), khổ diệt (Dukkha Nirodha), và con đường đưa đến khổ diệt (Dukkha Nirodha Gāminī Patipadā),[11] Bồ tát Tất Đạt Đa có khả năng đạt được giác ngộ, nhưng giác ngộ toàn phần và toàn hảo.

Để hiểu rõ được quá trình tu tập và chứng đạo của Bồ tát Tất Đạt Đa, chúng ta cần phải hiểu rằng với chánh niệm và tỉnh giác, vững chãi và thảnh thơi, sự chứng ngộ của đức Phật không chỉ được thành tựu ngay trong lúc tu tập, mà ngay trong các đời sống trong quá khứ của Ngài, ngay trong đời sống hiện tại, đặc biệt là ngay trong lúc Ngài là đứa bé sơ sinh, cậu bé thái tử Tất Đạt Đa (Siddhārtha), và cuối cùng Ngài biểu hiện là đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni Buddha) trên thế gian này. Chính vì vậy, vua Tịnh Phạn, thân phụ của Ngài, đã hai lần chắp tay xá chào con mình và một lần đảnh lễ đức Phật; đó là, 

1. Vua chắp tay xá chào con mình trong lúc đạo Sĩ A Tư Đà (Asita) xem tướng cho thái tử và tiên đoán rằng thái tử sau này đi tu và trở thành một Bậc tỉnh thức và giác ngộ viên mãn, Người có khả năng đưa đường và chỉ lối hòa bình, an lạc và hạnh phúc cho số đông trên khắp hành tinh này.

2. Trong buỗi lễ cày cấy, vua chắp tay xá chào con mình trong lúc thái tử 9 tuổi đang ngồi thiền dưới cây hồng táo, chiêm nghiệm, và thấy chúng sanh đang tranh giành, giết, và ăn thịt lẫn nhau. Với tâm từ sẵn có, thái tử khởi tâm thương yêu muôn loài.

3. Vua đảnh lễ đức Phật trong khi đức Phật đang đi khất thực trên đường về thăm vua tại thành Ca Tỳ La Vệ, nơi đây các vị hoàng thân quốc thích trưởng thượng trong hoàng cung sinh tâm cao ngạo và cho rằng đức Phật chỉ là em út và con cháu của họ mà thôi. Lúc ấy, đọc được tư tưởng của các vị, đức Phật liền dùng năng lực nước từ bi và lửa trí tuệ nhiếp phục và cảm hóa được các vị, và chính những người này sau đó sinh tâm cung kính và đảnh lễ đức Phật và Tăng đoàn.

Như vậy, chúng ta thấy khả năng giác ngộ luôn có mặt trong thân và tâm của con người bao gồm chất phàm và chất thánh trong họ. Trong chất phàm có chất thánh; trong chất thánh có chất giác ngộ và giải thoát. Chất thánh trong Phật giáo được hiểu là Phật tánh hay chất Phật. Tuy nhiên, xét về khía cạnh tuyệt đối, chúng ta thấy khả năng giác ngộ trong họ, ở thánh Phật tánh không tăng, ở phàm Phật tánh không giảm.

Hiểu rộng thêm nữa là, theo quan điểm từ bi của Phật giáo, ở trong con người và ở con vật Phật tánh đều có, và ngay cả ở trong các loài vô tình Phật tánh cũng đều có mặt. Hiểu rõ được ý nghĩa như vậy, thì mỗi chúng ta có thể vun trồng và tưới tẩm Phật tánh trong ta và trong các loài hữu tình và vô tình bằng cách bảo vệ môi sinh, tôn trọng sự sống của muôn sự và muôn vật, cụ thể là thực hành điều tỉnh thức thứ nhất, một trong năm điều tỉnh thức của đạo giác ngộ. Thực vậy, dù ở địa vị phàm phu hay thánh quả, dù ở các loài vô tình hay hữu tình, nhưng Phật tánh vẫn là Phật tánh, ánh sáng giác ngộ vẫn là ánh sáng giác ngộ, tuệ giác vẫn là tuệ giác…

Tuy nhiên, xét về khía cạnh tương đối, chúng ta biết sự biểu hiện Phật tánh tùy theo mức độ tu tập của mỗi hành giả phàm phu và hành giả Bồ Tát. Ở thánh Phật tánh tỏa sáng như ánh trăng Rằm, ở phàm Phật tánh tỏa sáng như ánh trăng khuyết. Đối với hành giả Bồ Tát, qua quá trình tu tập và chứng ngộ, Phật tánh có thể tỏa sáng 100%, vì phiền não và lậu hoặc đã được đoạn diệt. Đối với hành giả phàm phu như chúng ta, qua quá trình tu tập, thanh lọc và chuyển hóa, Phật tánh có thể tỏa sáng khoảng …40, 60, 80…%, vì phiền não và lậu hoặc đang và cuối cùng sẽ được đoạn diệt hoàn toàn.

Trăng mờ vì mây, Phật tánh mờ vì phiền não; mây tan nhờ gió, phiền não tham, sân, si… đoạn diệt nhờ tu tập và chuyển hóa. Tu tập có nghĩa là quá trình nhận diện và chuyển hóa các phiền não tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến... Khi các phiền não đã được chuyển hóa và đoạn diệt, thì ánh sáng giác ngộ của hành giả Bồ tát tròn sáng và hiển bày. Ở điểm này, Bồ tát Tất Đạt Đa, Người đã làm được, đã chứng ngộ viên mãn, và đáng được thế gian quy ngưỡng và tôn kính.

Như vậy, khi thảo luận ở đây, ánh sáng giác ngộ được hiểu là ánh sáng thiền định, ánh sáng tuệ giác, ánh sáng hòa bình, ánh sáng đại hùng, đại lực, và đại từ bi do chính Bồ tát Tất Đạt Đa khám phá và chứng ngộ. Nó không từ trên trời rơi xuống, nó không phải một món quà do một đấng thần linh ban tặng. Nó do chính Bồ Tát nếm và trải nghiệm qua sự tu tập, thực hành, và chứng ngộ tâm linh. Nó rất vi diệu, thù thắng và thiết thực hiện tại, dành cho những ai quan tâm, học hỏi, hành trì, và ứng dụng tới Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày của mình.

Thực vậy, ánh sáng giác ngộ này không chế tác bằng tham, sân, si, vô minh, tà kiến, hận thù, và chiến tranh, mà nó được chế tác bằng chánh kham nhẫn, tinh tấn, nỗ lực, tinh thần tự tu, tự độ, tự ngộ và tự giải thoát qua việc thực tập và ứng dụng các chất liệu từ bi, trí tuệ, hòa bình, thiền định, và tuệ giác cho số đông ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại. Các chất liệu an lạc này có khả năng khơi dậy và đánh thức những hoa trái tuệ giác trong thân tâm của hành giả Bồ Tát trở nên bừng sáng.

Bồ tát hay Bồ-đề-tát-đỏa trong tiếng Phạn (Sanskrit) được viết là Bodhisattva; Bồ đề (Bodhi) có nghĩa là lớn, là giác, hay là tỉnh thức; Tát đỏa (Sattva) có nghĩa là một chúng sanh, một hữu tình, hay là một con người. Vậy Bồ tát (Bodhisattva) có nghĩa là một chúng sinh đã đạt được sự giác ngộ và tỉnh thức nguyện đi trên đường vui, tu tập, và giải thoát để làm an lạc và lợi ích cho tự thân và cho tha nhân ngay cuộc đời này.

Trên lộ trình hướng đến giác ngộ và giải thoát, Tất Đạt Đa là một vị Bồ tát bằng xương bằng thịt có thật trong lịch sử nhân loại có đầy đủ phúc đức và trí tuệ, dũng mãnh và tinh tấn, nghị lực và kham nhẫn, tìm ra chân lý và ánh sáng giác ngộ sau này. Chính vị Bồ tát này đã tu tập thiền định thuần thục, trở thành một bậc đạo Sư tâm linh cao thượng, dẫn dường chỉ lối an lạc và hòa bình cho pháp giới chúng sanh trên khắp hành tinh. 

Phàm phu chúng ta, vì nghiệp lực, mà sinh ra nơi đời, nên mỗi người gặp nhiều hoàn cảnh khác nhau, căn tánh khác nhau, gia đình khác nhau, mức độ giàu nghèo khác nhau… không ai giống ai cả. Thái tử Tất Đạt Đa, một vị Bồ tát đích thực, vì nguyện lực, mà sinh ra nơi đời trong một gia đình hoàng tộc, giàu sang, và quyền quý ở thành Ca Tỳ La Vệ (P. Kapilavatthu S. Kapilavastu), một phần của Nê-pan ngày nay.[12]

Lớn lên, thái tử lập gia đình với công chúa Da Du Đà La (Yasodharā), và có người con trai là La Hầu La (Rāhula). Cùng với người hầu cận tên là Sa Nặc, một hôm thái tử đi viếng thăm bốn cửa thành, thấy bốn cảnh thật của cuộc đời; đó là, người già, người bệnh, người chết, và vị ẩn sĩ. Cảnh thật thứ tư là vị khất sĩ tượng trưng cho hình ảnh thong dong và tự tại, tạo ấn tượng sâu sắc trong tâm khảm của thái tử, và tạo nguồn cảm hứng cho thái tử sau này trở thành một vị xuất sĩ không nhà. Khi trở thành vị xuất Sĩ không nhà, và sống trong môi trường thiên nhiên và núi rừng, Bồ tát Tất Đạt Đa đã phải tiếp xúc trực tiếp với nội tâm ngoại cảnh.

Thực hành và trải qua 6 năm khổ hạnh tại hang động Mahakala trên núi núi Tượng Đầu (Dhungeshwari), mỗi ngày Bồ tát chỉ ăn một ít hoa quả, và dần dần thân thể của Ngài chỉ còn da bọc xương mà thôi. Khám phá lối tu khổ hạnh này không đưa đến kết quả an lạc và giải thoát, Bồ tát Tất Đạt Đa (Bodhisattva Siddhārtha) quyết tâm thực hành theo phương pháp Trung Đạo (PaliMajjhimā PaipadāSanskrit: Madhyamā Pratipad):  (không tham đắm dục lạc, và không khổ hạnh ép xác), Bồ tát đồng ý thọ nhận và dùng bát cháo sữa của nàng Su Dà Ta (Sujata) cúng dường. Sức khỏe của Bồ tát trở nên bình phục. Sau đó, Bồ tát chấp nhận một bó cỏ cúng dường của người nông phu, đi thẳng tới Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya), trải qua 49 ngày đêm thiền định dưới cội cây Bồ đề, cuối cùng chiến thắng ma quân (Ma quân tượng trưng cho sự tham ái và chấp thủ), và giác ngộ viên mãn.

Như vậy, trong quá trình tu tập và giác ngộ, Bồ tát phải biết quá trình phát triển kham nhẫn của nội tâm bất kể ngoại cảnh; ngoại cảnh là cảnh bên ngoài, cụ thể là thời tiết và môi trường thiên nhiên. Ở Ấn Độ, vào mùa nóng nhiệt độ có thể lên tới 45 độ C. (45% C. = Celsius/ Centigrade = 120 degrees F. / Fehrenheit), và vào mùa lạnh nhiệt độ có thể 0 độ C. (0% C. = 0 degrees C. Celsius/ Centigrade = 32 degrees F. Fehrenheit). Trong thời đại ngày nay, sống ở trong nhà, chúng ta có đủ quần áo, chăn, gối, nệm, lò sưởi, máy điều hòa… để bảo vệ thân tâm chúng ta rất ấm áp, nhưng đôi lúc chúng ta còn cảm thấy lạnh, nóng, và khó chịu. 

Hãy để cho chúng ta suy nghĩ về Bồ tát Tất Đạt Đa (Bodhisattva Siddhārtha), Người đã sống đời sống không gia đình, ăn hoa quả, uống nước mưa, nước suối để nuôi thân, và đã dùng tỉnh thức, chánh niệm, và thiền định để nuôi tâm… Ban đêm thì ngủ dưới gốc cây, ban ngày thì đi khất thực, lấy môi trường thiên nhiên làm nhà, dùng cây và lá rừng làm giường chiếu, dùng trăng sao làm đèn, dùng sự tu tập thiền, định, chánh niệm và tỉnh giác làm món ăn tinh thần cho thân và cho tâm, và dùng việc hoằng dương chánh pháp làm lợi ích cho số đông.

Tiếp đến là nội tâm; nội tâm là phần sâu kín nhất của nội tâm, được hiểu là tàng thức (Ālaya Vijñāna) hàm chứa các hạt giống thiện và bất thiện; các hạt giống thiện gồm có chánh kham nhẫn, chịu đựng, khắc phục, chọn lọc, vững chãi, tinh tiến, nghị lực, sức mạnh tinh thần, niềm tin bất thoái, ánh sáng giác ngộ, tuệ giác...; các hạt giống bất thiện gồm có giải đãi, biếng nhác, thoái lui, do dự, lưỡng lự, nhu nhược, yếu đuối, mơ mờ, vô minh…

Tu tập là quá trình thực tập kham nhẫn, nuôi dưỡng, chọn lọc, thăng tiến, và chuyển hóa từ khó khăn thành an vui, khổ đau thành hạnh phúc, vô minh thành minh…. Tuy nhiên, con người chúng ta, khi gặp thời tiết khắc nghiệt, ăn uống thiếu thốn, ngủ nghỉ lạnh lẽo. v. v…, thường thì có xu hướng sống chán nản và thoái lui. Nhưng, đối với Bồ tát Tất Đạt Đa (Bodhisattva Siddhārtha) khi gặp nghịch cảnh khó khăn và thời tiết khắc nghiệt, Bồ tát luôn hoan hỷ và đón nhận những cảnh khó khăn, khổ hạnh, và kham nhẫn đó; những nghịch cảnh này tạo thành sức mạnh tinh thần, ý chí dũng mãnh, tinh tiến, và nghị lực phi thường, và hướng Bồ Tát tới giác ngộ và giải thoát tâm linh sau này.

Thực vậy, với tinh thần đại hùng, đại lực, đại bi và đại trí, đạt được giác ngộ và giải thoát, thì Bồ tát Tất Đạt Đa đã thực hành hạnh tinh tấn, kham nhẫn và kiên nhẫn. Muốn giác ngộ và thành Phật, Bồ tát phải bắt đầu từ con người duyên sinh (Sanskrit pratītyasamutpāda; Pali paticcasamuppāda). Nương vào con người này, Bồ tát tu tập và tìm ra chất thánh, chất vững chãi và thảnh thơi, an vui và hạnh phúc. Lìa con người này ra, Bồ tát không tìm được các chất liệu ấy. Là hành giả giác ngộ và tỉnh thức, Bồ Tát tìm ra được ánh sáng chân lý qua việc áp dụng và thực tập chánh kiến, chánh tư duy, chánh kham nhẫn, thanh lọc, và chuyển hóa các phiền não tham, sân, si…

Chính vì vậy, đạo Phật luôn dạy con người tu tập, chuyển hóa, và chuyển nghiệp là yếu tố then chốt hướng tới giác ngộ. Nương vào một đấng tối cao nào đó để tìm kiếm giác ngộ và giải thoát nơi vị ấy, thì hành giả không bao giờ tìm thấy. Nương vào con người giả hợp để tu tập, để thanh lọc, và để chuyển hóa phiền não và lậu hoặc, thì hành giả có thể tìm thấy giác ngộ, giải thoát, và Phật tánh nơi chính mình.

Bồ tát Tất Đạt Đa, Người tu giỏi, thấy ánh sáng giác ngộ trong vô minh, tà kiến, và tà kham nhẫn, thấy Bồ đề trong phiền não, hạnh phúc trong khổ đau, sen trong bùn, và hoa trong rác, và thấy con đường Trung Đạo trong khổ hạnh ép xác và trong tham đắm dục lạc ... Trái lại, cùng tu khổ hạnh với Bồ tát Tất Đạt Đa, 5 anh em của Tôn giả Kiều Trần Như, những người tu không giỏi, không tìm thấy được con đường Trung Đạo, không thực hành thiền định hoàn hảo như Bồ tát, và không tìm thấy giác ngộ và giải thoát nơi tự thân.

Với sự kham nhẫn và nỗ lực, với tinh thần đại hạnh và đại nguyện, Bồ Tát tìm ra ánh sáng giác ngộ, chân lý Khổ (Dukkha), và con đường đưa tới chuyển hóa khổ đau (Dukkha nirodha gāmini patipadā ariya sacca), cụ thể là con đường Trung Đạo (Majjhimā paipadā) với tám chi nhánh rất thực tiễn: Thấy biết chân chánh (đúng), tư duy chân chánh, hành động chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, siêng năng chân chánh, nhớ nghĩ chân chánh, và chuyên tâm chân chánh. Tám chi nhánh này tương tức với nhau như hình với bóng tạo thành con đường an vui và hạnh phúc cho số đông nếu mọi người cùng nhau áp dụng và thực hành con đường này vào trong đời sống hằng ngày một cách chánh niệm và tĩnh giác, vững chãi và thảnh thơi ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại.

Trên đây, nội tâm và ngoại cảnh đã được trình bày. Tiếp theo, chúng ta tiếp tục tìm hiểu ý nghĩa ma quân.

Khác với cảnh giới hữu hình của con người, ma thuộc cảnh giới vô hình; quân có nghĩa là một nhóm số đông. Theo giáo lý ẩn dụ của Phật giáo, ma quân dụ cho những hạt giống và tập khí tiêu cực trong thân và trong tâm ta. Chẳng hạn như, mỏi mệt, biếng nhác, giải đãi, phóng túng, buông lung, do dự, nãn chí, thoái lui, tham lam, sân giận, si mê… là những tập khí tiêu cực. Chánh kham nhẫn, tinh tấn, dõng mãnh, vươn lên, nghị lực, sức sống, khoan dung, độ lượng, an lạc, hạnh phúc, hòa bình, tuệ giác, … là những tập khí tích cực.

Là người tỉnh thức, chúng ta nhận diện rằng các hạt giống tiêu cực và tích cực luôn có mặt trong ta từ giờ này sang giờ khác, từ ngày này sang ngày khác, từ tuần này sang tuần khác, từ tháng này sang tháng khác, và từ năm này sang năm khác. Tu tập là quá trình thanh lọc và chuyển hóa các hạt giống tiêu cực thành các hạt giống tích cực bằng cách áp dụng và thực hành Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày của mình một cách tinh chuyên, chánh niệm và tỉnh giác. Chúng ta thực tập được như vậy, thì các hạt giống tiêu cực trong ta dần dần sẽ được đoạn trừ, các hạt giống tích cực trong ta sẽ được phát triển, và ánh sáng giác ngộ trong ta sẽ được hiển bày. 

Ngược lại, khi chúng ta không tu tập Phật pháp ngon lành, hạt giống tích cực trong ta sẽ bị giảm và mất dần dần, hạt giống tiêu cực trong ta tăng trưởng và tăng nhanh, Phật tánh và ánh sáng giác ngộ trong ta sẽ bị che mờ và che khuất. Người tu giỏi thì gặt hái hoa trái an vui và hạnh phúc rất nhiều. Người tu không giỏi hoặc tu học lai rai thì gặt hái hoa trái an vui và hạnh phúc rất ít hoặc không có. Quá trình tu tập là quá trình đạt tới thân tâm an lạc và ánh sáng giác ngộ trong từng phút, từng giờ, từng ngày, từng bước, và trong từng giai đoạn khác nhau của cuộc đời.      

Thật vậy, theo ý nghĩa ẩn dụ, ma quân chỉ cho cái tâm đố kỵ, kỳ thị, sợ hãi, thấp kém, không giỏi bằng người, sợ và thấy người khác giỏi hơn mình. Nếu một người không tu tập hoặc tu tập chút chút, thì ma quân trong vị ấy dễ dàng xuất hiện, và ngược lại, nếu một người có tu tập tinh chuyên, thì ma quân trong vị ấy biến mất dần.  

Khi sao Mai vừa mọc, Bồ tát Tất Đạt Đa, Người tu tập tinh chuyên, hoàn toàn chiến thắng ma quân bằng cách đoạn tận các phiền não và tập khí tiêu cực trong Ngài. Lúc đó, tâm Bồ tát trở nên bừng sáng, ánh sáng giác ngộ, hòa bình, an lạc và hạnh phúc trong Ngài có khả năng chiếu sáng khắp nơi tự thân và tha nhân ngay tại thế gian này.

Qua các ý nghĩa đề cập ở trên, chúng ta thấy rằng ánh sáng giác ngộ và tỉnh thức đều bắt nguồn từ pháp hành; vững chãi và thảnh thơi đều bắt nguồn từ pháp hành; an lạc và hạnh phúc cũng đều bắt nguồn từ pháp hành; đi cùng với pháp hành là pháp hiểu, pháp học, pháp thiền, pháp định, pháp lạc, pháp hoằng, và pháp hộ. Xuyên qua pháp hành, Bồ tát Tất Đạt Đa (Bodhisattva Siddhārtha) lĩnh hội và có đủ các chất liệu ấy.

Ở điểm này, chúng ta hiểu thêm rằng, khi một con người sinh ra đời hoàn hảo về mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý, thì cả gia đình của vị ấy đều vui. Khi vị ấy lớn lên, học hành, đỗ đạt, thành tài, có công việc làm ăn ổn định, và lập gia thất, thì tự thân của vị ấy không những vui, mà gia đình nội ngoại hai bên cũng đều vui. Những ý trên đây được nói về con người thế gian. Khác với con người thế gian, Bồ tát Tất Đạt Đa, con Người tỉnh thức, tìm ra ánh sáng giác ngộ, chân lý khổ, và con đường chuyển hóa khổ đau dưới cội cây Bồ đề (Bodhi) tại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) khoảng năm 589 trước thường lịch. Trong thế giới này, không những các loài hữu tình, mà các loài vô tình trên quả địa cầu này đều được thấm nhuần ánh sáng từ bi, trí tuệ, hòa bình, và an lạc nơi Ngài.    

Bồ tát Tất Đạt Đa,

quyết tâm đi xuất gia,

an trú vui thiền định,

chứng ngộ đạo tỉnh thức,

chứng ngộ đạo hòa bình,

chứng ngộ đạo giải thoát,

chỉ dạy cho chúng sanh,

đi trên con đường chánh

bằng ánh sáng giác ngộ,

bằng ánh sáng Phật pháp,

bằng ánh sáng Tăng đoàn

của đức Phật Thế Tôn.

Người người cùng tu tập,

nhà nhà được an vui.”

(Người viết)

 

Theo cái nhìn tương tức của Phật giáo, đức Phật sơ sinh, cậu bé sơ sinh, thái tử Tất Đạt Đa, Bồ tát Tất Đạt Đa, đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đều bắt nguồn từ con người duyên sinh và giả hợp (Sanskrit pratītyasamutpāda; Pali paticcasamuppāda) mà thôi. Xuyên qua việc tu tập chánh tinh tấn, kham nhẫn, và thiền định, nương vào con người này, Bồ tát Tất Đạt Đa tìm ra ánh sáng giác ngộ nơi tự thân, giáo hóa, và làm lợi ích cho tha nhân. Do vậy, khi con người này sinh ra, không những dân chúng và dòng dõi hoàng gia tại thành Ca Tỳ La Vệ thuộc Ấn Độ cổ đại, một phần của nước Nê-pan (Nepal) ngày nay, vui mừng, mà cả pháp giới chúng sinh trên khắp hành tinh cũng đều vui mừng.

Có hai lý do chính sau đây: Thứ nhất, vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Da (Māyādevī), lúc trên 40 tuổi, mới có con đầu lòng tên là Tất Đạt Đa, con người toại nguyện có đầy đủ phước đức và trí tuệ. Cả vua và hoàng hậu đều hiến tặng cho trái đất này một con người quý nhất trong lịch sử nhân loại, bởi vì con người này luôn luôn nuôi dưỡng và đem lại ánh sáng hòa bình, từ bi, trí tuệ, giác ngộ, giải thoát, an vui và hạnh phúc cho số đông ngay tại thế gian này.

Ngày nay, với niềm tin chánh tín đối với Tam Bảo (Phật, Pháp, và Tăng) bất thoái và không lay chuyển, những cha mẹ nào, những vị cư sĩ và xuất sĩ nào, có đủ duyên tìm thấy đạo Phật bằng cách học hỏi, hiểu biết, dạy dỗ, hành trì, và ứng dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày, thì họ có khả năng hiến tặng con người đức hạnh và trí tuệ như thế cho gia đình, cho tự viện, cho dòng họ, và cho cả xã hội. Thực hiện được việc ấy tốt đẹp, thì họ cùng nhau góp phần xây dựng một quê hương thanh bình, các gia đình hạnh phúc, một cõi thiên đường, hay cực lạc ngay tại thế gian này.

Thứ hai, sau khi thái tử Tất Đạt Đa sinh ra, nhận lời mời của vua Tịnh Phạn (Suddhodana), tiên A Tư Đà (Asita), một vị ẩn sĩ nổi tiếng thời bấy giờ, thỉnh vào triều đình Ca Tỳ La Vệ (Pàli. Kapilavatthu Phạn. Kapilavastu), xem tương lai cho thái tử. A Tư Đà (Asita) tiên đoán rằng khi lớn lên, chắc chắn thái tử sẽ từ bỏ con đường làm vua, và thay vào đó quyết định chọn con đường xuất gia, ngộ lý vô thường, tu tập thiền định, trở thành Người giác ngộ toàn hảo, và đem lại an lạc và lợi ích cho số đông.

Thật vậy, những lời tiên đoán của tiên A Tư Đà là những lời tiên tri duy nhất trong lịch sử Phật giáo và nhân loại, sau này trở thành sự thật. Thực hiện các lời tiên đó có thể làm theo các tinh thần tự tu, tự độ, tự ngộ, và tự giải thoát. Là một vị Bồ tát đích thực, thái tử Tất Đạt Đa (Siddhārtha) quyết tâm đi xuất gia và trở thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni; Muni có nghĩa là vị hiền triết, vị ẩn sĩ; Sakya có nghĩa là tĩnh lặng, vắng lặng; vậy Sakyamuni có nghĩa là vị hiền triết tĩnh lặng của dòng họ Thích Ca – Sakya vắng bặt các phiền não và lậu hoặc, đạt được giác ngộ viên mãn), Người sáng lập ra đạo Phật, đem hoa trái tình thương và hòa bình để truyền bá cho pháp giới chúng sinh trên khắp hành tinh này.

Với hạt giống giác ngộ trong nhiều đời, và với dòng dõi của các bậc thánh trong nhiều kiếp, khi Bồ tát Tất Đạt Đa thành Phật, ánh sáng giác ngộ, từ bi và hòa bình của Ngài được truyền bá rộng rãi trong khắp nhân gian một cách bình đẳng, nó không kỳ thị, và không ngăn cản cho bất cứ ai cả. Hễ những ai có đủ cơ duyên học hỏi, hành trì, và ứng dụng giáo pháp giác ngộ vào trong đời sống hằng ngày một cách chuyên cần, chánh niệm, và tỉnh giác, thì họ có khả năng gặt hái được những hoa trái an vui và hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại; đây là những điểm đặc thù của đạo Phật hiếm thấy hoặc không được tìm thấy trong các tôn giáo bạn.

Tóm lại, qua những gì đề cập ở trên, chúng ta biết ánh sáng giác ngộ được xuất phát từ thân tâm tu tập của Bồ tát Tất Đạt Đa, cụ thể là đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Khi giác ngộ viên mãn, đức Phật, cùng với các vị đệ tử, những vị sứ giả hòa bình, tiếp tục lên đường vận chuyển bánh xe chánh pháp, và đem ánh sáng giác ngộ, hòa bình, an vui và giải thoát truyền bá trong khắp nhân gian.

Nơi nào ánh sáng giác ngộ được truyền bá, thì nơi đó con người an trú vững chãi trong đạo tỉnh thức và giác ngộ, họ không bao giờ gặp sự kỳ thị, phân biệt chủng tộc, và phân chia giai cấp. Nơi nào đạo Phật được truyền bá, thì nơi đó, với sự thực tập và ứng dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày, con người sống hiền và thiện ra. Nơi nào đạo Phật có mặt, thì nơi đó đạo Phật đạo hòa bình – không bao giờ gây ra chiến tranh tôn giáo cho bất cứ ai. Và nơi nào đạo Phật có mặt, thì nơi đó quê hương, dân chúng, làng xóm không những được thanh bình, mà cỏ, cây, rừng, núi, đất, đá, và muôn thú đều được yên vui, bởi lẽ các loài hữu tình và vô tình đều thấm nhuần giáo lý từ bi và trí tuệ của đạo hòa bình.

Hiểu và thực hành được như vậy, thì chúng ta cùng nhau góp phần đem lại an lạc và hạnh phúc đích thực cho số đông trên khắp hành tinh này.

Kính chúc quý vị an lạc và hạnh phúc trong ánh sáng hòa bình và giác ngộ của đức Phật Thế Tôn!

Thích Trừng Sỹ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

The Light of Enlightenment through Bodhisattva Siddhārtha’s vision

We know in the history of humankind, both in ancient times and now, religious leaders as well as secular leaders, who have to make their much effort, can achieve in their lives, and leave their renown for posterity. Wanting to achieve much in their lives, they who must first undertake the process of endurance, effort, cultivation, learning train themselves, help, and bring the benefits to other people. Thanks to overcoming the processes of patience, cultivation, learning, and helping themselves and others like this, they have been able to become scientists, mathematicians, writers, philosophers, religious leaders, etc. Bodhisattva Siddhārtha Gautama,[13] a transcendental spiritual Master, a perfect religious Leader, who was full of the qualities of virtue, loving-kindness, compassion, and wisdom, spent 6 years practicing asceticism in a deep forest with five brothers of Elder Aññā Kondañña, searched out the truths, and meditated under the Bodhi tree throughout 49 days and nights. Finally, the Bodhisattva became the Buddha who was called Sakyamuni respected and honored by gods and human beings, and who had the ability to bring the light of enlightenment, love, and peace to all living things and living beings all over this planet.

Through the above–mentioned general meanings, the writer boldly titles this writing The Light of Enlightenment through Bodhisattva Siddhārtha’s vision.This vision, which is here understood as the resultant vision of practicing contemplation meditation and that of insight, carries the ability to clearly see the process of endurance, diligence, to cultivate meditation and concentration, to gain enlightenment, to preach the Dharma, and to teach human beings about Bodhisattva Siddhārtha. In the title of this writing, we encounter such terms as “light, enlightenment, Bodhisattva, Siddhārtha.” Hereafter, the writer explains each in turn so that we may learn about the meanings and contents of these terms.       

Normally, when referring to the light, people often think about sunlight, moonlight, evening star light, morning star light, electric lights, car lights, neon lights, etc. These kinds of lights are natural light, material lights, or artificial lights. Different than the above kinds of lights, the light which is discussed here mainly is the light of enlightenment, starts from his body and mind of meditation-concentration cultivation, endurance, effort, purification, and defilement transformation of practitioner, that is, Bodhisattva Siddhārtha.

Thanks to His training in meditation-concentration very purely and supernaturally, the Bodhisattva extinguished ignorance, defilements, lapses, attachments, etc., and achieved the fruits of perfect enlightenment. Towards the Bodhisattva – the awakened One, enlightenment authentically means the absence of ignorance, afflictions, attachments, lapses, suffering, and the end of the cycle of death and rebirth.

The light of enlightenment mentioned here symbolizes Buddhism, the Buddha, the Dharma, and His disciples (Sangha); Buddhism is the religion of peace, the Buddha is the King of peace, the Dharma is the path of peace, and the disciples are the messengers of peace.[14] Indeed, peace is authentically present whenever we each learn, understand, practice, and apply the Buddha Dharma in his/her daily life appropriately in various localities, regions, and countries. We understand and act like this, the light of the World-Honored One’s enlightenment has the ability to shine all over the world. Moreover, we know in the factors of His enlightenment, there are still other substances such as right mindfulness, awareness, steadiness, relaxation, carefreeness, and leisureliness. Accomplishing those qualities, practitioner can undoubtedly achieve peacefulness and joyfulness right here and right now in the present moments.

Enlightenment contains many different meanings and stages as follows:

Enlightenment of ordinary practitioners – through the process of cultivating, transforming defilements, applying, and practicing the Buddha Dharma in our daily lives, we can obtain enlightenment, but become enlightened partially and gradually.

Enlightenment of the Bodhisattva practitioner – through the process of having cut off afflictions, and discovering the truth of suffering (Dukkha), the origin of suffering (Dukkha Samudaya), the cessation of suffering (Dukkha Nirodha), and the path leading to the cessation of suffering (Dukkha Nirodha Gāminī Patipadā),[15] Bodhisatta Siddhārtha had the ability to attain enlightenment, but became enlightened fully and perfectly.    

In order to fully comprehend the process of the cultivation and enlightenment attainment of Bodhisattva Siddhārtha, we need to understand that, with right mindfulness and awareness, steadiness and leisureliness, the Buddha’s enlightenment was not just achieved right in the time of cultivation, but right in His past lives, right in His present life, especially right in the time He was a newborn baby, the little prince Siddhārtha, and finally manifested as Sakyamuni Buddha in the world. Therefore, king Suddhodana, His father, had twice greeted his son with respectfully joined hands and once paid homage to the Buddha; that is,

1. The king greeted his son with respectfully joined hands while the Asita hermit was examining the little prince’s physiognomy, and predicted that the prince later on would leave the royal family for a religious life and became a fully awakened and enlightened One, who would have the ability to show the path of peace, joyfulness and happiness to the many all over this planet.

2. In the ceremony of plow and cultivation, the king greeted his son with respectfully joined hands while the prince at the age of 9 was meditating under a pink apple tree, contemplated, and saw living beings fighting, killing, and eating one another. With his ready compassionate heart, the prince radiated his loving heart for all living things and living beings.  

3. The king paid homage to the Buddha while the Buddha was begging for alms on the way back to visit His father at kapilavastu, where His elderly imperious relatives in the royal palace bore their minds of arrogance and thought that the Buddha was only their youngest brother and descendant. At that time, reading His relatives’ thoughts, the Buddha used energies of compassionate water and wisdom fire to collect and to convince them, and it was these people who then increased their respectful hearts, and paid proper homage to the Buddha and His Sagnha.

Thus, we can see that the potential for enlightenment is always present in their bodies and minds containing the human substance and the holy substance in themselves. In the human substance there is the holy substance; in the holy substance there is the substance of enlightenment and liberation. The holy substance in Buddhism is understood as Buddha nature or Buddha substance. However, examining the absolute aspect, we see this potential for enlightenment within themselves, in a holy One their Buddha nature is no more, in an ordinary being their Buddha nature is no less.

Understanding more broadly, according to the standpoint of Buddhist loving-kindness and compassion, in humans and in animals Buddha nature is present, and even in insentient beings Buddha nature is also present. Digesting the meanings clearly like this, we each can cultivate and water the Buddha nature in us, in sentient beings, and in insentient beings by protecting the environment, respecting their lives of all living things and living beings, especially by practicing the first awakening thing, one of the five awakening things of Buddhism – the path of enlightenment. Indeed, whether in human position or in holy position, whether in kinds of insentient beings or in those of insentient beings, but Buddha nature is still Buddha nature, the light of enlightenment is still that of enlightenment, insight is still insight, etc.

However, examining the relative aspect, we know the manifestation of Buddha nature depends on the cultivation level of every ordinary practitioner and Bodhisattva practitioner. In the holy One Buddha nature shines like the full Moon, in the human being Buddha nature shines like the crescent Moon. Toward Boddhisattva practitioner, through the process of cultivation and enlightenment, Buddha nature can shine 100 percent, because defilements and lapses have been annihilated. Toward ordinary practitioners like us, through the process of cultivation, purification, and transformation, Buddha nature can shine …40, 60, 80 percent, etc., because defilements and lapses are being annihilated and eventually will be totally annihilated.

The moon is dim because of clouds, Buddha nature is dim because of afflictions; clouds are dispersed by the wind, afflictions of desire, anger, delusion, etc. are annihilated by cultivation and transformation. Cultivation means the process of recognizing and transforming defilements of greed, anger, delusion, arrogance, doubt, wrong view, etc. When difilements are transformed and annihilated, the light of enlightenment of the Bodhisattva practitioner shines brightly and fully. At this point, Bodhisattva Siddhārtha, who had accomplished and attained perfect enlightenment, deserved to be adored and respected by the world.

Thus, as discussed here, the light of enlightenment is understood as the light of meditation, concentration, that of insight, that of peace, that of great heroism, great power, and great loving-kindness and compassion discovered and obtained enlightenment by Bodhisattva Siddhārtha. It does not fall down from heaven, it is not a gift granted by a god. It is tasted and experienced by a Bodhisattva through his cultivation, practice, and spiritual attainment. It is very marvelous, surpassing and practical in the present, intended for those who care about, learn, practice, and apply the Buddha Dharma in their daily lives.  

Indeed, this enlightenment light is not created by greed, anger, delusion, ignorance, wrong view, hatred, and war. It is created by right endurance, effort, diligence, the spirits of self-cultivation, self-support, self-enlightenment, and self-liberation through practicing and applying the substances of loving-kindness, compassion, wisdom, peace, meditation, concentration, and insight to the many right here and right now in this present life. These peaceful substances have the ability to arise and to awaken flowers and fruits of insight in a Bodhisattva’s mind and body to become illuminated.

Bodhisattva is a Sanskrit word; Bodhi means greatness, enlightenment, or awareness; Sattva means a being, a sentient being, or a human being. Thus, Bodhisattva means a being who has attained a degree of enlightenment and awareness vowed to travel on the way of joy, cultivation, and liberation to make peacefulness and benefit for oneself and for others right in this life.

On the route leading to enlightenment and deliverance, Siddhārtha, who was the Bodhisattva in the flesh actually in our human history, was full of merit and wisdom, courage and effort, perseverance and patience, found the truths and the light of enlightenment later on. It was this Bodhisattva who practiced meditation and concentration maturely, became the nobly spiritual Master, instructed and showed the way of peacefulness and peace to all living things and living beings all over the planet.

We ordinary beings, because of karmic power, were born, we each encounter different situations, different natures and characteristics, different families, different levels of wealth and poverty, etc., no one is alike. Prince Siddhārtha, who is an authentic Bodhisattva, because of the energies of his vows, was born in the world in a royal, wealthy, and powerful family in Kapilavatthu, a part of Nepal today.[16]

Growing up, the prince got married to Yasodharā, and had a son called Rāhula. Along with his attendant named Channa, one day the prince went to visit the four gates of royal palace, and saw four scenes of reality of life; that is, an old person, a sick person, a dead person, and an ascetic. The fourth scene, which was the ascetic, represented a leisurely and free way of life, made a deep impression in the prince’s heart, and created the inspirational sources for the prince later on to become a homeless monastic. When becoming the homeless monastic, and living within natural environment and mountain, Bodhisattva Siddhārtha had to relate directly with the inner mind and outer scene.

Practicing and spending the six years of asceticism in the Mahakala cave in Dhungeshwari mountain, everyday the Bodhisattva ate only a couple of fruits, and gradually His body only remained skins covering bones. Discovering that this ascetic way did not result in peacefulness and liberation, Bodhisattva Siddhārtha determined to embark on the method of the Middle Path (PaliMajjhimā PaipadāSanskrit: Madhyamā Pratipad) (no sexual indulgence on the one hand, and no ascetic mortification on the other), the Bodhisattva agreed to receive and to drink a milky gruel bowl offered by Ms. Sujata. His health became recovered. After that, He accepted a bunch of grass offered by a farmer, and then He went straight to Bodhgaya, where He spent 49 days and nights meditating under the root of Bodhi, finally defeated Mara’s army (Mara represents temptation and attachment), and obtained perfect enlightenment.

Thus, in the process of cultivation and enlightenment, the Bodhisattva had to learn the process of developing patience of inner mind regardless of the outer scene; outer scene is the external scene, specically weather and natural environment. In India, in the hot season the temperature can reach 45 degrees C. (45% C. = Celsius/ Centigrade = 120 degrees F. Fehrenheit), and in the cold season the temperature can be 0 degrees C. (0% C. = 0 degrees C. Celsius/ Centigrade = 32 degrees F. Fehrenheit). In the present age, living at home, we have enough clothes, blankets, pillows, mattresses, heaters, air-conditioner, etc. to protect our bodies and minds very well, but sometimes we still feel cold, hot, and uncomfortable.

Let us imagine Bodhisattva Siddhārtha, who lived a homeless life, ate flowers and fruits, drank rain water, spring water to nourish his body, and used awareness, mindfulness, meditation, and concentration to bring up his mind, etc. By night He slept under the root of a tree, by day He begged for food; He took the natural environment as His home, used trees and forest leaves as His beds, used the moon and stars as His lamps, used cultivation of meditation, concentration, mindfulness, and awareness to make the spiritual food for His body and mind, and used Dharma propagation to make benefit for the many. 

The next is inner mind; inner mind, which is the deepest part of the inside mind, is understood as storehouse of consciousness (Ālaya Vijñāna) containing the the good seeds and the non-good seeds; the good seeds consist of right patience, endurance, overcoming, selection, solidity, effort, courage, spiritual strength, unshakable confidence, the light of enlightenment, insight, etc.; the non-good seeds are comprised of slackness, laziness, regression, hesitation, feebleness, weakness, vagueness, ignorance, etc.

Cultivaton is the process of patience practice, nurture, selection, advancement, and the transformation from difficulties into peacefulness, suffering into happiness, ignorance into clear understanding, etc. However, we humans, when encountering severe weather, eating deficiently, sleeping coldly, etc., usually tend to live discouragingly and downheartedly. But, Bodhisattva Siddhārtha, when meeting difficult adversities and severe weather, is always happy to welcome the difficulties, asceticism, and patience; these adversities create His mental strength, fearless will, effort, and extraordinary energy, and lead Him to spiritual enlightenment and liberation later on.

Indeed, with the spirit of great hero, great power, great compassion and great wisdom, obtaining enlightenment and liberation, Bodhisattva Siddhārtha practiced the vows of effort, endurance and patience. Wanting to attain enlightenment and to become a Buddha, the Bodhisattva had to start from a person of Dependent Arising (Sanskrit pratītyasamutpāda; Pali paticcasamuppāda). Building on this person, the Bodhisattva cultivated and found the substance of holiness, that of solidity and relaxation, peacefulness and happiness. Leaving go of this person, the Bodhisattva did not find the substances. As the enlightened and awakened Practitioner, the Bodhisattva found out the light of truth through the application and practice of right view, right though, right patience, purification, and transformation of afflictions of greed, anger, delusion, etc.   

Therefore, Buddhism has always taught people who are cultivated, transformed, and who change their karma are their key factor to enlightenment. Depending on a supreme being to search out enlightenment and deliverance in him, practitioner will never find them. Depending on a person of elements (consisting of earth, water, fire, wind, etc.) to cultivate, to purify, and to transform afflictions and lapses, practitioner can find enlightenment, deliverance, and Buddha nature in himself or herself.

Bodhisattva Siddhārtha, who cultivated well, found the light of enlightenment in ignorance, wrong view, and in wrong patience, found bodhi in afflictions, happiness in suffering, the lotus in mud, and flowers in garbage, and found the Middle Way in ascetic mortification and in sensual indulgence, etc. Conversely, cultivating asceticism together with Bodhisattva Siddhārtha, the five brothers of Elder Kondañña, who did not cultivate well, did not discover the Middle Way, and did not practice meditation and concentration perfectly like the Bodhisattva, and did not find enlightenment and deliverance in themselves.

With patience and effort, with the spirits of great actions and great vows, the Bodhisattva found the light of enlightenment, the truth of suffering (Dukkha), and the path leading to transformation of suffering (Dukkha nirodha gāmini patipadā ariya sacca), specifically the Middle Path (Majjhimā paipadā) with the very practical eight branches: “Right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right concentration.” These eight branches that relate with one another as an image and its shadow are formed into the path of joyfulness and happiness for the many if everyone applies and and practices this path together in their daily lives mindfully and attentively, steadily and freely right here and right now in the present life.

Inner mind and outer scene are discussed above. Next, we continue exploring the meanings of Mara’s army.

Unlike the visible realms of humans, maras belong to the invisible realms; army means a group of many. According to the metaphorical teachings of Buddhism, Mara’s army symbolizes the negative seeds and habits in our bodies and minds. For example, tiredness, laziness, indolence, looseness, licentiousness, hesitation, disheartenment, regression, greed, anger, delusion, etc. are the negative habits. Right endurance, effort, courage, promotion, energy, vitality, tolerance, generosity, peacefulness, happiness, peace, insight, etc. are the positive habits.

As awakening people, we recognize that the negative and positive seeds are always present in us from hour to hour, from day to day, from week to week, from month to month, and from year to year. Cultivation is the process of purifying and transforming the negative seeds into the positive seeds by applying and practicing the Buddha Dharma in our daily lives diligently, mindfully, and awakeningly. We practice like this, the negative seeds in us will be gradually given up, the positive seeds in us will be developed, and the light of enlightenment in us will be manifested.

Converely, when we do not practice the Buddha Dharma well, the positive seeds in us will be gradually lessened and vanish, the negative seeds in us will rise up and increase quickly, Buddha nature and the light of enlightenment in us will be clouded and obscured. Those who cultivate well reap flowers and fruits of peacefulness and happiness very much. Those who cultivate not well or sporadically reap them very little or not at all. The process of cultivation is that of achieving our peaceful bodies and minds, and the light of enlightenment in every minute, every hour, every day, every step, and in every different stage of life.             

Indeed, according to the metaphorical senses, Mara’s army represents the minds of envy, discrimination, fearfulness, inferiority, those of being not as good as other people, those of fearing and seeing them being better than one. If a person does not cultivate or cultivates little, Mara’s army in him or in her will appear easily, and vice versa; if a person has ultivated diligently, Mara’s army in him or in her disappears gradually.

When the morning Star rose, Bodhisattva Siddhārtha, who cultivated diligently, defeated Mara’s army completely by annihilating defilements and negative habits in Himself. At that time, His mind became suddenly illuminated, the light of enlightenment, peace, peacefulness and happiness in Him had the ability to shine all over Himself and others right in this world.

Through the foregoing meanings, we see that the light of enlightenment and awareness is derived from Dharma practice; steadiness and relaxation are derived from Dharma practice; peacefulness and happiness are also derived from Dharma practice; going together with Dharma practice is Dharma understanding, Dharma learning, Dharma meditation, Dharma concentration, Dharma peacefulness, Dharma propagation, and Dharma protection. Throughout the Dharma practice, Bodhisattva Siddhārtha fully digested and built up enough the quality substances.

At this point, we understand more, that when one is born in the world perfects one’s eyes, ears, nose, tongue, body, and mind, one’s whole family is happy. When one grows up, studies, graduates, achieves talents, has a stable job, and gets married, oneself is not only happy, but one’s paternal and maternal families are also happy. The forgoing senses are mentioned about worldly people. Different than these people, Bodhisattva Siddhārtha, the Awakened One, found the light of enlightenment, the truths of suffering, and the path of transformation of suffering under the root of the Bodhi tree at Bodhgaya about the year 589 before the common era. In this world, not only all sentient beings, but also all insentient beings on this globe are imbued with the light of loving-kindness, compassion, wisdom, peace, and peacefulness in Him.     

Bodhisattva Siddhārtha,

who had determined to become a homeless Monastic,

obtained the path of awareness,

gained that of peace,

attained that of deliverance,

instructed living beings

to travel on the right way

by the light of enlightenment,

by that of the Buddha Dharma,

by that of the Sangha

of the World-Honored Buddha.

Everyone cultivates together,

each of their houses gets happy.

(The writer)

According to interdependent vision of Buddhism, a newborn Buddha, a newborn baby, prince Siddhārtha, Bodhisattva Siddhārtha, Lord Sakyamuni Buddha, originates from person of dependent origination and elements (Sanskrit pratītyasamutpāda; Pali paticcasamuppāda). Through his cultivation of right effort, endurance, meditation, and concentration, building on this person, Bodhisattva Siddhārtha found out the light of self-enlightenment, taught, and made benefit for other people. Therefore, when this person was born, not only are the people and royal lineage in Kapilavatthu of ancient India, a part of Nepal today, happy and glad, but living things and living beings all over the planet are also happy and glad.

There are the following two main reasons: First, King Suddhodana and Queen Maya (Māyādevī), when over 45 years old, had a first-born child named Siddhārtha, a fully contented person with the sufficiency of virtue and wisdom. Both the King and the Queen have dedicated to this earth a most precious person in the history of humankind, because this person always nurtures and brings the light of peace, loving-kindness, compassion, wisdom, enlightenment, deliverance, peacefulness and happiness to the many right in this world.

At the present day, with confidence in Triple Gem (the Buddha, the Dharma, and the Sangha) unwaveringly and immovably, parents, lay people and monastics, who have enough fortunate conditions to find Buddhism by studying, understanding, teaching, practicing, and applying the Buddha Dharma in their daily lives, have the ability to offer a person of virtue and wisdom like this to their families, monasteries, nunneries, relatives, and to society. Carrying this out well, together they contribute to building their peaceful homeland, happy families, a realm of heaven, or Pure Land right in this world.

Second, after Siddhārtha was born, receiving the invitation from king Suddhodana, the seer Asita, a renowned hermit at that time, was invited to the court of Kapilavatthu to foretell the future for the prince. Asita predicted that when growing up, the prince, who would undoubtedly give up the path to become a king, instead decide to choose the path of a homeless monastic, master the theory of impermanence, cultivate meditation, concentration, become a perfectly enlightened One, and bring peacefulness and well-being to the many.

Indeed, the seer Asita’s predictions, which were the only prophecies in the history of Buddhism and humankind, later on became true. The fulfillment of those prophecies was made possible by the spirits of self-cultivation, self-support, self-enlightenment, and self-liberation. As an authentic Bodhisattva, the prince Siddhārtha determined to leave his royal family for a religious life and became the Buddha, named Sakayanuni (Muni means a sage, a hermit; Sakya means quiet, tranquil; thus Sakyamuni means a tranquil Sage of sakyan clan, who was absent from defilements and lapses, attained perfect enlightenment), the founder of Buddhism, who brought flowers and fruits of love and peace to preach to living things and living beings all over the planet.

With the seeds of enlightenment through many lives, and with the lineage of the sages through many eons (Kalpas), when Bodhisattva Siddhārtha became the Buddha, the light of His enlightenment, loving-kindness, compassion, and peace was widely spread over the world equally, it did not discriminate, and did not exclude anyone at all. Those who have enough opportunities to study, to practice, and to apply the Dharma of enlightenment in their daily lives diligently, mindfully, and attentively, have the ability to reap flowers and fruits of peacefulness and happiness right here and right now in the present life; these are specific characteristics of Buddhism being rarely found or not found in other religions.

To sum up, through the above mentioned things, we know the light of enlightenment is derived from the cultivated body and mind of Bodhisattva Siddhārtha, namely Lord Sakyamuni Buddha. When attaining perfect enlightenment, the Buddha, along with His disciples, messengers of peace, continued to travel on the way, setting the Dharma Wheel in motion, and brought the light of enlightenment, peace, peacefulness and liberation to spread over the world.

Wherever the light of enlightenment has been preached, there people live steadily in the religion of awakening and enlightenment, they have never had discrimination, distinction of race, and division of caste. Wherever Buddhism has been spread, there, with practice and application of the Buddha Dharma in their lives, people live more genly and better. Wherever Buddhism has been present, there Buddhism – the path of peace – has never caused a religious war for anyone. And wherever Buddhism has been present, there homeland, its people, villages, and hamlets are not only tranquil, but plants, trees, forests, mountains, soils, rocks, all animals are also peaceful and happy, because sentient beings and insentient beings have been imbued with the teachings of loving-kindness, compassion and wisdom of our peaceful religion.

Understanding and practicing like this, we together contribute to bringing authentic joyfulness and happiness to the many all over this planet.

May you all be well and happy with the light of the World-Honored Buddha’s peace and enlightenment!

By Thích Trừng Sỹ

 

 


[1]  Xem từ Bồ tát (Bodhisattva) được thấy trong Trường Bộ (Dighā Nikāya), Kinh Đại Bổn (Mahāpadāna Sutta),  Phần I, số 18, 19, 20… 30. 

[2]  See the word Bodhisattva be found out in Dighā Nikāya, Mahāpadāna Sutta, Part I, No 18, 19, 20… 30.

[3] Xem http://dhammacakkhu.blogspot.com/p/uc-phat-hien-than-cua-hoa-binh-nguoc.html

[4] See http://dhammacakkhu.blogspot.com/p/uc-phat-hien-than-cua-hoa-binh-nguoc.html

[5] Xem  http://en.wikipedia.org/wiki/Four_Noble_Truths#Fourth_truth:_path_to_the_cessation_of_dukkha

[6] See http://en.wikipedia.org/wiki/Four_Noble_Truths#Fourth_truth:_path_to_the_cessation_of_dukkha

[7] Xem http://dhammacakkhu.blogspot.com/p/lich-su-uc-phat-thich-ca-mau-ni-tom-tat.html

[8] See http://dhammacakkhu.blogspot.com/p/lich-su-uc-phat-thich-ca-mau-ni-tom-tat.html

[9]  Xem từ Bồ tát (Bodhisattva) được thấy trong Trường Bộ (Dighā Nikāya), Kinh Đại Bổn (Mahāpadāna Sutta),  Phần I, số 18, 19, 20… 30. 

[10] Xem http://dhammacakkhu.blogspot.com/p/uc-phat-hien-than-cua-hoa-binh-nguoc.html

[11] Xem  http://en.wikipedia.org/wiki/Four_Noble_Truths#Fourth_truth:_path_to_the_cessation_of_dukkha

[12] Xem http://dhammacakkhu.blogspot.com/p/lich-su-uc-phat-thich-ca-mau-ni-tom-tat.html

[13]  See the word Bodhisattva be found out in Dighā Nikāya, Mahāpadāna Sutta, Part I, No 18, 19, 20… 30.

[14] See http://dhammacakkhu.blogspot.com/p/uc-phat-hien-than-cua-hoa-binh-nguoc.html

[15] See http://en.wikipedia.org/wiki/Four_Noble_Truths#Fourth_truth:_path_to_the_cessation_of_dukkha

[16] See http://dhammacakkhu.blogspot.com/p/lich-su-uc-phat-thich-ca-mau-ni-tom-tat.html