Trang chủ | PG & các ngành | PG & Khoa học | Phật giáo và phương pháp đào tạo khoa học kỹ nghệ, tôn trọng bối cảnh văn hóa của học viên

Phật giáo và phương pháp đào tạo khoa học kỹ nghệ, tôn trọng bối cảnh văn hóa của học viên

image

Liệu có thể kết hợp triết lý Phật giáo và phương pháp đào tạo khoa học kỹ nghệ tôn trọng văn hóa khác biệt của học viên cho các thế hệ trẻ trong cộng đồng Phật giáo không? Chúng ta có thể đạt được điều này thông qua cách tiếp cận sư phạm nào?

Trong bài tham luận này, chúng tôi chia sẻ một phần dự án sơ khởi của mình dựa trên ý tưởng về phương pháp đào tạo kỹ thuật tôn trọng bối cảnh văn hóa của học viên cho cộng đồng Phật tử[1]. Mặt dù phương pháp giáo dục này bắt nguồn từ các nhà đào tạo Mỹ. Chúng tôi muốn tìm hiểu những điều mà học viên trong cộng đồng Phật giáo có khả năng tiếp thụ được từ các đặc tính của phương pháp sư phạm này. Định đề của những giả thuyết này là những học viên da màu có mức thu nhập thấp có thể đạt được những thành tích học tập cao hơn, nếu giáo viên thực hiện các phương pháp dựa trên ưu thế về ngôn ngữ và văn hóa của họ[2].  Trong môi trường Phật giáo tùy thuộc vào từng bối cảnh khác nhau, chúng tôi mặc định rằng nền tảng của những giả thuyết này có thể giúp các nhà sư phạm hình thành những chương trình đào tạo giúp học viên hiểu được các nguyên lý khoa học, kỹ thuật thông qua các kết cấu kiến trúc và công nghệ gần gũi nhất đối với cộng đồng và bối cảnh văn hóa của họ.

Cách tiếp cận nhạy cảm với bối cảnh văn hóa trong sự nghiệp đào tạo khoa học kỹ thuật

Phương pháp sư phạm tôn trọng bối cảnh văn hóa khai thác các yếu tố như “kiến thức văn hóa, kinh nghiệm sẵn có, các khuôn thức tham chiếu, và phong cách thể hiện của các học viên thuộc nhiều chủng tộc khác nhau với mục đích sao cho việc học trở nên thiết thực và có hiệu qủa hơn đối với họ. Phương pháp đào tạo này dựa trên ưu thế của học viên, xác nhận và khẳng định vai trò của bối cảnh văn hóa”[3]. Cách tiếp cận sư phạm này không chỉ giới hạn nội dung chương trình giảng dạy mà còn giới hạn cả kinh nghiệm học tập, văn hóa lớp học, tương tác giữa giáo viên và học viên, phương pháp truyền thụ và đánh giá kết quả học tập[4]. Đặc điểm của kinh nghiệm học tập theo phương pháp này bao gồm: (1) Lối nhìn từ các nền văn hóa khác nhau, (2) thiết lập mối quan hệ giữa các phương cách hàn lâm trừu tượng và thực tế văn hóa của học viên, (3) các phương pháp truyền thụ đa dạng có thể gợi cảm hứng cho những học viên với những cách học tập khác nhau, (4) tôn trọng truyền thống văn hóa của các học viên trong nhóm và (5) kết hợp đào tạo văn hóa trong thông tin, nguồn kinh nghiệm và tài liệu[5].

Một ví dụ về khuôn khổ đào tạo kỹ thuật cho sinh viên đến từ các nền văn hóa khác nhau có liên quan đến bối cảnh giáo dục tôn trọng văn hóa, được tìm thấy trong bài tham luận: “Tiến tới địa phương hóa  phương pháp đào tạo kỹ thuật: Kỹ thuật nông nghiệp của nông dân cộng đồng Andean có thể là nguồn kinh nghiệm cho việc đào tạo kỹ thuật cho các tộc người Andean”[6]. Mặc dù chỉ tập trung  vào các tộc người Andean, nghiên cứu này đưa ra các ví dụ minh họa cho việc các kỹ thuật truyền thống phổ biến trong cộng đồng có thể trở thành nguồn tài liệu đào tạo mà thông qua đó nhà giáo dục giải thích cho học viên những khái niệm về nguyên lý khoa học kỹ thuật.

Triết lý Phật giáo có thể được kết hợp trong việc đào tạo khoa học kỹ thuật: Tứ Diệu Đế.

Bốn sự thật cao quý mà đức Phật đã diễn nói trong bài pháp đầu tiên:

  1. Dukkha: khổ (đau khổ hoặc thất vọng).
  2. Samudaya: Tập (nguồn gốc của khổ)
  3. Nirodha: Diệt (sự tận diệt khổ đau)
  4. Magga: Đạo (con đường dẫn đến sự tận diệt khổ đau)[7].

Ứng dụng Tứ diệu đế để ứng phó với tình trạng khủng hoảng mối trường đã và đang được luận bàn với nhiều học giả[8]. Đại sứ Samdhong Rinpoche cho rằng Tứ diệu đế có thể được giải nghĩa là: “1/ khủng hoảng được nhận dạng; 2/ nguyên nhân gây ra khủng hoảng cần được loại trừ; 3/ khủng hoảng cần được đoạn diệt; 4/ Các phương pháp  đoạn diệt khủng hoảng cần được thực thi”[9].

Phong trào Sarvodaya Shramadana, một tổ chức phi lợi nhuận ở Sri Lanka đã áp dụng bốn sự thật  cao quý trong việc phát triển thôn xóm (việc này có liên quan đến kỹ thuật): Sự thật thứ nhất là Dukkha (đau khổ hoặc thất vọng) được diễn dịch thành “Có một ngôi làng điêu tàn”. Nỗi đau cụ thể này trở thành trọng tâm của sự thức tỉnh theo thế pháp. Dân làng cần nhận ra những vấn đề xảy ra trong môi trường sống của họ như nghèo đói, bệnh tật, áp bức và thiếu đoàn kết. Sự thật thứ hai, Samudaya (nguồn gốc của đau khổ) cho thấy tình trạng điêu tàn trong làng bắt nguồn từ một hay nhiều nguyên do. Sự thật thứ ba, Nirodha (diệt) hiểu theo triết lý truyền thống Phật giáo là Niết Bàn (nibbana); ở đây có thể hy vọng nỗi đau của dân làng có thể sẽ chấm dứt. Phương tiện để giải quyết vấn đề nằm ở Sự thật thứ tư, cũng chính là Bát chánh đạo. Triết gia môi trường Joanna Maqcy đưa ra một ví dụ rất hay nhằm minh họa cho việc giải thích các giai đoạn của Bát chánh đạo theo tục đế khi bà trích dẫn lời giải thích của một giáo viên trong phong trào Savodaya về chánh niệm và sự tỉnh giác (Sati_niệm): Chánh niệm là luôn cởi mở và tỉnh giác trước những nhu cầu của dân làng…nhìn để thấy những gì là cần thiết như nhà vệ sinh, nước sinh hoạt, đường xá[10]. Ví dụ này cũng có thể được áp dụng trong bối cảnh một ngôi làng dành cho trẻ em, một tự viện Ni hay một khu định cư. Với sự trợ giúp của nhà đào tạo kỹ thuật, một nhóm học viên có thể xác định những vấn đề kỹ thuật của mình, nguyên nhân gây ra những vấn đề đó, biết được rằng có những giải pháp cho những vấn đề này, và từng bước chủ động giải quyết vấn đề.

Lý duyên khởi và lý tương thuộc

Lý duyên khởi là một trong những khái niệm triết lý cơ bản trong đạo Phật. Về mặt bản chất, lý duyên khởi có liên quan đến lý tương thuộc[11] và tánh không. Tánh không chưa từng được định nghĩa và hiểu như vậy trong văn hóa Tây phương. Tánh không ở đây có nghĩa là vạn vật không thể tồn tại riêng biệt mà liên kết với nhau trong  một mối quan hệ tương thuộc. Một ví dụ về mối quan hệ tượng thuộc có thể đưa ra trình bày trong chương trình đào tạo kỹ thuật là việc sử dụng nhiên liệu hữu cơ và tác động của nó lên môi trường[12]. Một minh chứng rõ ràng là việc sử dụng nhiên liệu hữu cơ từ bắp ngô Ấn Độ và các vụ mùa khác. Ở góc độ địa phương, những nhiên liệu này có lẽ rất tốt. Cacbon được tái chế nhờ những cây trồng phát triển nhanh, bắp trồng năm sau thấm hút chất thải của bắp trồng năm trước và cacbon tái phân hủy lâu dài có trong chất hóa dầu có thể được tích trữ lại trong đất. Tuy nhiên, khi chú ý đến toàn cảnh bức tranh sản xuất mùa vụ, công đoạn vận chuyển hạt thô, quá trình sản xuất rượu…. người ta nhận thấy lượng điện năng tiêu thụ tăng lên rất nhiều. Hơn nữa, với các phương pháp canh nông hiện tại, ngay cả việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch cũng tăng vì lượng chất hóa học sử dụng phần lớn có nguồn gốc từ chất hóa dầu. Tất cả những điều này làm trầm trọng thêm tình trạng khủng hoảng lương thực vốn đang thành hình khi càng ngày đất nông nghiệp càng bị chuyển đổi thành đất sản xuất nhiên liệu hữu cơ. Việc cải canh sang trồng bắp và các vụ mùa khác gây ra tình trạng tàn phá các khu rừng nhiệt đới ở indonesia và các nơi khác, là để sản xuất có thể tận lực vơ vét từ sự bùng nổ của phong trào sản xuất nhiên liệu hữu cơ. Tất cả nhân và duyên trên cho thấy, nhiên liệu hữu cơ cho thấy , nhiên liệu hữu cơ không phải là một giải pháp mà hoàn toàn là một hiểm họa với môi trường[13].

Với ví dụ trích dẫn bởi Tỳ kheo Punnadhammo, học viên có thể bắt đầu suy nghiệm về tác động của nhiên liệu sinh học đến nguồn tài nguyên của những quốc gia thuộc thế giới thứ ba, đến tuổi thọ của các khu rừng nhiệt đới và đến những người mà cuộc sống phụ thuộc những khu rừng này[14]. Thậm chí những học viên sống ở những những quốc gia nơi tình trạng này đang diễn ra. Nhận thức rõ về hậu quả của những tập quán nông lâm này họ có thể tuyên truyền sự hiểu biết  về những vấn đề này cho dân làng.

Lòng tham (lobha) là độc tố tinh thần tác động tới thế giới

Trong triết lý Phật giáo, lòng tham được xem là độc tố trọng tâm. Nếu hành động được thúc đẩy bởi lòng tham thì ảnh hưởng của những hành động này  sẽ kích hoạt nhựng hành động có tính chất phá hoại khác ở mọi cấp độ. Nhiều tác giả đã xác quyết rằng lòng tham  có liên quan tới những hoạt động có ảnh hưởng rất tiêu cực đến môi trường[15]. Heng Sure gợi chúng ta nhớ rằng lòng tham là nguyên nhân sơ khởi của mọi hoạt động có ảnh hưởng tiêu cực đến tự nhiên. Đức Phật gọi lòng tham là chất độc trong tâm. Ngài nói rằng về cơ bản, thế giới bị hủy diệt hay được hàn gắn chỉ trong một tư tưởng, tâm trí không bị vẩn đục bởi lòng tham, mở ra con đường tiến tới giải thoát. Tâm trí chất chứa tham cầu sẽ đầu độc trái đât, đem phiền não và đau khổ đến tất cả cư dân trên hành tinh này. Bạn không cần xua đuổi lòng tham mà hãy biến đổi và chuyển hóa nó bằng sự rộng lượng và hành động cho đi[16]. Lòng tham liên quan như thế  nào đến khoa học kỹ thuật? Kỹ thuật, một chuyên ngành cần thiết cho công nghiệp, có tác dụng phục vụ cho nền kinh tề thị trường. Xã hội tư bản dựa vào kỹ thuật và chủ nghĩa tiêu dùng để duy trì quy trình sản xuất tiêu thụ: doanh nghiệp, sản xuất và tiêu thụ. Nhà khoa học vật liệu Baillie tranh biện rằng, mặc dù kỹ sư đóng vai trò quan trọng trong dây truyền tiêu thụ, nhưng họ cũng có thể giữ vai trò chủ động để thay đổi xã hội. Kỹ sư làm nhiều điều có ích góp phần làm cho thế giới sạch hơn, an toàn hơn và vì vậy chúng ta nên tự hào về điều đó. Kỹ sư là người tạo ra máy móc sử dụng trong các phân xưởng, nhưng việc họ sản xuất ra máy móc để thay thế nhân công cũng gây ra nạn thất nghiệp. Đồng thời các kỹ sư xây dựng các xí nghiệp trong thị trấn đã khiến cho người dân trong làng phải xa gia đình để tìm kiếm việc làm. Có thể nói kỹ sư đã đóng góp nhiều hơn bất cứ ngành nghề nào khác (ngoại trừ giới kinh doanh) trong sự chuyển dịch nguồn vốn trên toàn thế giới, khiến cho những quốc gia đang phát triển ngày càng bị chi phối bởi cơ cấu kinh tế thị trường. Đây là những điều chúng ta cần phải cảnh giác, có trách nhiệm ngăn chặn và sửa đổi[17].

Một phương pháp giúp học viên hiểu được tác động của lòng tham là chỉ cho họ những điều sẽ xảy ra, khi một xã hội không ngừng nuôi dưỡng những thái độ hưởng thụ thực dụng và họ không bao giờ hài lòng với những gì mình có. Thật sự sản phẩm nào rồi cũng đến hồi cuối. Thuật ngữ kỹ thuật gọi là dòng đời của sản phẩm. Theo Phật giáo sản phẩm gắn liền với nguyên tắc vô thường. “The Story of Stuff” (Câu chuyện đồ vật), một Website quốc tế ra mắt năm 2010, với mục đích cung cấp miễn phí tài liệu và phương tiện giáo dục, giải thích rất đơn giản nhưng hiệu quả về sự liên đới giữa vòng đời của sản phẩm, chủ nghĩa tiêu thụ và ô nhiễm môi trường[18].  Trong lớp học các nhà đào tạo kỹ thuật có thể giúp học viên của mình hiểu rõ sự tối cần thiết của chánh niệm trong những quyết định thiết kế kỹ thuật.

Nguyên tắc Ahimsa (bất bạo động hay vô não)

Ahimsa hay vô hại tầm là cam kết sẽ không làm hại. Giáo sư tiến sĩ Stephanie Kaza cho rằng có mối quan hệ giữa hành vi gây hại của nhà sản xuất, nơi các kỹ sư làm việc, với ô nhiễm môi trường, mặc dù họ không chủ tâm gây hại. Ngay cả khi nhà sản xuất hàng tiêu dùng không cố tình gây hại, thì hoạt động của họ cũng để lại những cái chết và thương tổn. Trong một số tường hợp khác,  nhà sản xuất bào chữa cho việc gây ra thiệt hại to lớn đến nhiều sự sống khác nhau, hành động này là có chủ đích để đạt được lợi nhuận cao nhất như: Chặt phá rừng làm ô nhiễm nguồn nước, vắt kiệt sức lao động của công nhân trên dây truyền sản xuất[19].

Nguyên tắc vô hại có liên hệ mật thiết với: (1) tư cách đạo đức trong khoa học và kỹ thuật, (2) các quyết định được đưa ra trong suốt quá trình thiết kế và thực hiện một dự án kỹ thuật. Những hành động phi đạo đức của các nhà khoa học làn nguyên nhân lan rộng của các điều kiện bất công và thiếu cân bằng cho những ai có điều kiện thuận lợi và cư dân tại các quốc gia thuộc thế giới thứ ba[20]. Giáo viên nên giúp đỡ học viên theo  học các chuyên ngành kỹ thuật và khoa học thấy được tầm tác động của họ lên người khác. Bằng cách này chúng ta giúp họ nuôi dưỡng chánh niệm về hành động và quyết định của mình trong mọi thiết kế kỹ thuật và thí nghiệm khoa học. Nên hoạt động khoa học kỹ thuật của chúng ta không thể tránh khỏi ảnh hưởng tới người khác, các nhà sư phạm có thể đưa chủ đề này vào lớp học để kích hoạt một cuộc đối thoại sâu sắc về vai trò quan trọng của đạo đức trong khoa học kỹ thuật.

Kết luận

Chúng tôi vừa trình bày tổng quát về phương pháp về đào tạo khoa học và kỹ thuật tôn trọng bối cảnh văn hóa cho thế hệ trẻ trong các cộng đồng Phật giáo. Thêm vào đó, chúng tôi đã trình bày việc áp dụng 4 khái niệm cơ bản của triết lý Phật giáo vào những bối cảnh thực nghiệm trong công tác đào tạo khoa học kỹ thuật cho các học viên là Phật tử. Chúng tôi hy vọng các ví dụ minh họa này có thể giúp những sáng kiến giáo dục cộng đồng tạo mối liên kết giữa kỹ thuật khoa học phát triển bền vững đạo đức và văn hóa Phật giáo.

Người dịch: Sư cô Viên Ngạn

Chú thích:

1.Tác giả xin chân thành cảm ơn Carlos A. Santiago Quintana và các đạo tràng Phật tử tại Puerto Rico, cũng như Hilda và Carmen Santiago de la Cruz vì sự giúp đỡ vô điều kiện mà họ đã dành cho tác giả.

2.Gay, 2000, tr. Ix.

3.Idid, tr. 29.

4.Idid, tr. 31.

5. Idid, tr. 29.

6.M Mercado-Santiago, “Tiến tới địa phương hóa phương pháp đào tạo kỹ thuật: Kỹ thuật nông nghiệp của nông dân cộng đồng Andean có thể là nguồn kinh nghiệm cho việc đào tạo kỹ thuật cho các tộc người Andean”, bài tham luận được trình bày trong phiên điều trần về nghiên cứu khoa học kỹ thuật lần thứ VIII của các nước Mỹ La Tin tại Buenos Aires, Argentina, 20-23/7/2010.

7.Rahula Walpola, Điều đức Phật dạy, (Brooklyn, NY: Grove Press, 1974), tr. 16.

8.E.g, A. T Bhikkhuni (2010), “Sắc vàng và xanh soi bóng mặt hồ phẳng lặng: suy nghiệm về Tứ diệu đế và chánh tinh tấn” Tu viện xanh: Câu trả lời liên tôn Phật giáo-Công giáo cho một hiểm họa môi trường, hiệu đính bởi D.W. Mitchell và W. skudlarek, OSB (Brooklyn, NY: Lantern Books, 2010, tr. 111-24; P. de Silva, Triết thiết môi trường và triết thiết Phật giáo (New York: St. Martin’s Press, 1998), Đại sứ Sangdhong Rinpoche, “Khủng hoảng và thách thức của thời đại chúng ta: Câu trả lời của chánh kiến trong Phật giáo, trách nhiệm sinh thái: Cuộc đối thoại với Phật giáo, hiệu đính bởi J. Martin (New Delhi: Tibet House, 1997), tr. 13-19; Thurman 1997); R. A. F Thurman, “Đức Phật và trái đất của chúng ta”, Trách nhiệm sinh thái, tr. 42-59; In May Evelyn Tucker và Duncan R. Williams, “Phật giáo và hệ sinh thái: Mối tương quan giữa giáo pháp và hành động, Cambridge, MA: Harvard University Press, tr. 21-44.

9.Rinpoche, “Khủng hoảng và thách thức của thời đại chúng ta” tr. 18.

10.George D. Bond, Chấn hưng Phật giáo tại Sri Lanka: Truyền thống tôn giáo, cách diễn dịch mới và ứng phó (Delhi, Motilal banarsidass Publisshers, 1992), tr. 272-73.

11.De silva, Triết lý môi trường, tr 41.

12.A. Punnadhammo “Lý duyên sinh và nhân duyên phía sau khủng hoảng khi hậu” Tu viện xanh, op cit, tr 39-46.

13.Idid, tr. 43.

14.M. Grunwald, “Kế hoạch năng lượng sạch”. Tạp Chí Time.

[http://www.time.com/time/printout/0,8816,1725975,00.html]

15.Ví dụ, Donald K. Swearer, “Thông diễn học về Sinh Thái Phật giáo tại Thái Lan đương đại (1997); và Sulak sivaraksa “Xây dựng kế hoạch phát triển cứ  như thể con người quan trọng lắm,” Pháp nhũ và Môi trường luận Phật giáo, hiệu đính bởi Stepphanie Kaza va Ken Kraft (Boston: Shambhala Publications, 2000), tr. 183-90.

16.Heng Sure, “Giới luật tiểu thừa và đại thừa Phật giáo: Giới Tỳ kheo, Mười giới trọng và 48 giới khinh của Bồ Tát trong kinh Phạm Võng,” Mitchell và skudlarek, Tu Viện Xanh, op cit, tr. 69-70.

17.C. Baillie, Kỹ thuật và xã hội: Xây dựng xã hội công bằng (Morgan & Claypool Publishers, 2009) tr. 83.

18.Annie Leonard, “Câu truyện đồ vật” 2010.

[http://www.storyofstuff.com/international/index.html]

19.Stephanie Kaza, “Xuyên qua mớ bòng bong” Vướng bẫy! kinh luận Phật giáo về lòng tham, sự ham muốn và lòng thôi thúc muốn hưởng thụ, hiệu đính bởi Stephanie Kaza (Boston Shambhala Publications, 2005) tr. 143.

20.S. Hardinh, đã hiệu đính, kinh tế khoa học có tính ‘phân biệt chủng tộc’: Hướng tới một tương lai dân chủ. Bloomington, IN: Indiana University Press, 1993), và L. T. Smith,  các phương pháp phi thực dân hóa: Nghiên cứu và các dân tộc bản địa (New York: Zed Books 1999).

 

Nguồn: GHPGVN