Trang chủ Kinh điển Văn học kinh điển Vài lời giới thiệu về Thần Chú

Vài lời giới thiệu về Thần Chú

Đã đọc: 11325           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Thần chú tiếng phạn gọi là Mantra, bao gồm 2 chữ "Man" nghĩa là năng lực suy nghiệm (Thần) và "tra" (hậu tố từ) nghĩa là "chú = phương tiện" là lời, là tiếng, dùng làm phương tiện để diễn đạt.

Thần chú tiếng phạn gọi là Mantra, bao gồm 2 chữ "Man" nghĩa là năng lực suy nghiệm (Thần) và "tra" (hậu tố từ) nghĩa là "chú = phương tiện" là lời, là tiếng, dùng làm phương tiện để diễn đạt. Như vậy, "Thần chú" là phương tiện để suy nghiệm dẫn khởi một sự nối kết giữa thân tâm (vật chất và tinh thần) bằng âm thanh cô động. Chú hay Thần chú cũng có nhiều tên gọi khác nhau như: Chân ngôn, Chân âm, Mật ngữ (Mật ở đây là sự chứng tỏ mối liên hệ Mật thiết bên trong của sự vật hiện tượng và tinh thần. Đừng nên nhầm lẫn chữ Mật là Bí mật). Trong Phật giáo Thần chú là những lời mầu nhiệm chứa đựng năng lực đặc biệt đưa đến kết quả siêu việt áo nghĩa trở thành phương tiện trợ giúp tâm thức cho thân, khẩu, ý (thân mật, khẩu mật và ý mật). Vì nếu chỉ thờ, lạy và cúng Phật, thì cũng chưa có thể gọi là trọn vẹn thuần thành, cho nên còn phải thêm phần tụng kinh, trì chú và niệm Phật để viên dung Sự và Lý. Thần chú hay được lặp đi lặp lại trong các buổi tu tập hành trì, đặc biệt là Mật Tông thực hành để thanh lọc thân khẩu ý bất tịnh trở thành thanh tịnh và thực chứng được Pháp thân mà hiển bài Báo thân hay Hoá thân trần thế này. Chú cũng có nhiều loại khác nhau, dài hay ngắn tùy theo môn phái. Trong lúc niệm Thần chú phải tập trung lên mặt chữ (các chữ đó hiện thành dụng ảnh) hay lắng nghe từng âm thanh của nó (Các tiếng đó biến thành vọng âm). Trong chương 5 của tác phẩm Subāhupariprcchā có ghi cách đọc tụng chú như sau : Đừng quá gấp rút. Đừng quá chậm rãi. Đọc đừng quá to tiếng. Đừng quá thì thầm. Không phải lúc nói năng. Không để bị loạn động.

Thần chú không phải là một công thức bất động và không phải là những sóng âm thanh tác động để kêu gọi sự trợ giúp của chư Phật hay Bồ tát giúp chúng ta thoát khỏi khổ đau hoặc tiêu trừ nghiệp chướng. Thần chú chỉ là một phương tiện trợ giúp tinh thần, tri thức, ý chí qua sự nhất tâm bền vững để kết thành năng lực tối cao. Chính nhờ năng lực này Tâm trong sạch và thành thực mới cứu vớt được chúng ta. Như Đại sư Milarepa nói : "Khi chư vị tự hỏi ác nghiệp có được tiêu trừ hay không, chư vị nên biết rằng : nó chỉ tiêu trừ bằng sự ước mong của thiện tâm".

Đọc Thần chú là khẩu mật (Khẩu là lời do miệng phát ra. Mật ở đây là sự chứng tỏ mối liên hệ Mật thiết bên trong của sự vật hiện tượng và tinh thần. Đừng nên nhầm lẫn chữ Mật là Bí mật). Cần nên học hỏi rõ ràng qua sự hướng dẫn của một vị tăng hay một đạo sư. Câu thần chú Hán Việt được nhiều người Phật tử đọc là : Úm ma ni bát di hồng. Một câu chú lâu đời của Phật giáo Tây Tạng, và cũng xem là Chân ngôn Bồ Tát Quán Thế Âm để bảo hộ hành giả vượt thẳng vào Phật quả hoặc vào hàng tứ Thánh. Ngoài câu chú ngắn đã kể trên, còn có bài chú căn bản này qua những tên sau : chú Đại Bi, Đại Bi Tâm Đà La Ni (Maha Karunika citta Dharani),Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni, Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thanh Cảnh Đà La Ni.... để minh họa công đức nội chứng của Đức Quán Tự Tại Bồ Tát (Avalokiteśvara Bodhisatva).

Theo kinh Mahakarunikacitta, bài chú này được Bồ tát Quán Thế Âm đọc trước một cuộc tập họp của các Phật, bồ tát và các vua quan, cũng như câu Om Mani Padme Hum.

Đại Bi chú được 2 Đại sư Phật giáo dịch ra :

Ngài Không Kim Cương (tiếng Phạn là amoghavajra) hay gọi ngắn là Bất Không (Phạn ngữ là amogha), Tước hiệu là Trí Tạng Sanh năm 705 tại nước Sư Tử (nước Tích Lan Sri Lanka bây giờ) và mất năm 774. Một Đại sư của Mật tông và cũng là một trong bốn dịch giả danh tiếng nhất của Thánh điển Phật giáo tại Trung Quốc, song song với Cưu-ma-la-thập. Chân Đế và Huyền Trang. Sư được xem là vị Tổ thứ sáu của Mật giáo và người đệ tử của Ngài được đích truyền là sư Huệ Quả, được xem là Tổ thứ bảy của Mật tông Trung Quốc. Một đệ tử quan trọng khác là Huệ Lâm.

Ngài Kim Cương Trí ( tiếng Phạn là Vajrabodhi ) hay Kim Cang Trí, sanh năm 671 và mất năm 741. Một Đại Sư Phật giáo cũng là Thầy của Ngài Không Kim Cương và Thai Tạng. Sư sinh ra trong một gia đình Bà La Môn tại Malabar, Nam Ấn, theo học đạo tại Na Lan Đà từ năm lên 10 tuổi. Sau đó đi qua các vùng khác của Ấn Độ và đã học rất nhiều giáo lý Đại Thừa như : Duy Thức Luận, Trung quán Luận, Du Già Luận.

Năm 31 tuổi, Ngài đi đến Tích Lan và thọ nhận pháp Mật Tông với Đại Sư Long Trí ( tức Ngài Pháp Mật hay Phổ Hiền ). Sau 7 năm am tường Mật Giáo, Sư trở về Trung Ấn. Một thời gian sau, Sư đi đến Java với một đồ đệ 14 tuổi, chính là Ngài Bất Không Kim Cương sau này, rồi tiếp tục du hành sang Trung Quốc. Cuối năm thứ 7 Khai Nguyên (719) nhà Đường. Tại đây Sư lưu lại ở các chùa Tư Thánh và Đại Tiến để dịch kinh. Trong đó có các bộ kinh Kim Cương Đỉnh Du Già được lưu truyền phổ biến. Ngài đã truyền lại rất nhiều giáo lý Đại Nhật và Kim Cương. Ngài cũng được tôn là bậc Thầy của hệ Kim Cương và Thai Tạng.

Dòng truyền thừa của Sư Kim Cương Trí được xem là dòng Chính Mật và nhánh truyền thừa của Ngài như sau : Đại Nhật Như Lai | Kim Cương Tát Đỏa | Long Thọ | Long Trí | Kim Cương Trí. Sau này Đại Sư Không Hải, tổ của Chân ngôn tông, Nhật Bản cũng nhận pháp từ chính dòng này theo nhánh truyền thừa như sau: Kim Cương Trí | Bất Không Kim Cương | Huệ Quả | Không Hải.

Đại Bi chú có nhiều bản dịch khác nhau qua sự tìm hiểu và nghiên cứu của các Bậc Đại sư trên thế giới từ xưa, và nhiều cách chia câu không giống nhau so với bản chữ Phạn thì các cách trên không đúng phép ngắt câu văn phạm, nhưng không quan trọng. Chủ yếu là nội dung không thay đổi Chú Đại Bi có hết thảy 84 câu và 415 chữ, là bài Tổng Trì của ngài Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn. Các Tổ xưa thường hay cặp đôi Đại Bi với Bát Nhã, vì Từ Bi và Trí Tụê là đôi bạn không thể rời nhau trong dòng giáo truyền.

Kính Bút

TS Huệ Dân

Nhà nghiên cứu Phật học quốc tế. Xin thân tặng ban biên tập và qúy đọc giả của trang daophatngaynay.com.

Website : chua – phuoc – binh.com

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (7 đã gửi)

avatar
nguyen dinh dong 16/12/2010 08:21:52
TS Huệ DÂN cho tôi xin hỏi:
_Một người trì chú có đủ thần lực để đưa được người thân mình về cực lạc không, dù người đó khi lâm chung trong tình trạng hôn mê?
_Một vị tỳ kheo mà đắp y đảnh lễ một người cư sĩ làm thầy có đúng pháp phật không?
_Có phải một người vãng sanh trước khi về cực lạc phải ghé qua cỏi trời Đao lợi tắm gội không?
_Một khi được vãng sanh ở phẩm thấp nhờ thần lực trì chú của người thân có xin lên được phẩm cao hơn không?
_Có một loại cát gọi là cát tiên sa được lấy ở giữa sông đem về trì chú vào và đem ra nghĩa trang rải, người âm nào nhận được cát này sẽ được siêu thoát?
_Chuyện đốt bùa uống khi bệnh có trong mật tông chính thống không?
Đây là điều đang dược truyền bá bởi một vị tỳ kheo và trong sách mật tông của thầy Viên Đức có viết người tu mật tông như người đi máy bay những người tu pháp môn khác như người đi xe đạp
Xin TS chỉ dùm xin cám ơn
avatar
TS Huệ Dân 16/12/2010 16:15:27
Kính Chào Mr Nguyễn Đình Đông

Trước tiên tôi xin chân thành cảm tạ những lời bình phẫm của ông gởi đến, cùng chia sẻ với qúy đọc giả trên mạng daophatngaynay. Trong đường tu hay học Phật có nhiều cách khác nhau, và nhiều trình độ khác nhau, do đó ai cảm thấy phương pháp nào mình hợp lý và thích ứng cho mình thì cứ nên dùng nó mà làm hành trang trong đời tu Phật.

Trong cuộc sống, mọi sinh hoạt đều biểu hiện ở hành động và lời nói. Do đó, Đức Phật dùng Bát Chánh Đạo làm bản thể và lấy Chánh mạng làm tự thể của giới pháp, lấy Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh tinh tấn, Chánh niệm Chánh định làm nghiệp dụng tương trợ để hướng đến đời sống giải thoát và giác ngộ.

Đồng thời sự tu tập Bát Chánh Đạo có khả năng khơi nguồn các Thánh quả Phật, trong đời sống hiện thực của người học Phật. Các thánh qủa Phật là những năng lực đã có sẳn bên trong mỗi người, chỉ cần rèn luyện và trau dồi một cách nghiêm túc, thì nó sẽ trở thành phương tiện có khả năng bảo vệ, che chở cho mình và những người chung quanh.

Đức Phật đã nói rõ, không ai có thể siêu độ cho ai. Không ai có thể giải thoát cho ai. Do đó nên hiễu rằng, sự cầu nguyện siêu thoát cho hương linh người đã mất, chỉ là sự biểu hiện của tấm lòng thương kính và biết ơn của mình đối với họ, đồng thời cũng được hiễu như là một bổn phận, để nhắc cho người đã chết biết về quy luật sanh tử, không còn phải lưu luyến ở cảnh trần gian, mà nên nương vào Phật pháp để được siêu thoát dễ dàng.

Đức Phật đã nói Ngài chỉ đóng vai trò của người dẫn đường, không phải là người ban cho kết quả giải thoát. Do đó phải tự tu tập, như lời của Ngài đã khuyên trong Kinh Pháp Cú, câu 276 :

Hãy tự siêng trau dồi,

Như Lai chỉ thuyết dạy.

Tự hành trì thiền định,

Tự giải thoát ác nghiệp.

Thần chú không phải là một công thức bất động và không phải là những sóng âm thanh tác động để kêu gọi sự trợ giúp của chư Phật hay Bồ tát giúp chúng ta thoát khỏi khổ đau hoặc tiêu trừ nghiệp chướng. Thần chú chỉ là một phương tiện trợ giúp tinh thần, tri thức, ý chí qua sự nhất tâm bền vững để kết thành năng lực tối cao. Chính nhờ năng lực này Tâm trong sạch và thành thực mới cứu vớt được chúng ta. Như Đại sư Milarepa nói : "Khi chư vị tự hỏi ác nghiệp có được tiêu trừ hay không, chư vị nên biết rằng : nó chỉ tiêu trừ bằng sự ước mong của thiện tâm".

Hy vọng sự trả lời có thể làm sáng tỏ của ông. Nếu ông có gì thắc mắc hay trao đổi tư tưởng trong khuynh hướng cùng nhau chia sẻ cái đẹp của Phật học, Xin mời ông cũng như qúy đọc giả vào trong web site của tôi, http://www.chua-phuoc-binh.com , tôi sẻ trả lời thường xuyên hơn, vì công việc qúa bận rộn, nên tôi chỉ thường làm việc tại mạng chua phuoc binh tại Pháp. Xin chúc ông một ngày vui vẻ, trong tình học Phật.

Kính cẩn

TS Huệ Dân
avatar
Tien 11/01/2011 00:08:47
Kính gởi TS Huệ Dân,

Tôi rất tâm đắc với kiến giải của Thầy ở chổ tự chúng ta phải thực hành theo lời Phật dạy thì mới mong được giải thoát. Tuy nhiên, theo tôi, nếu chỉ một mình tu tập thì hiệu quả chưa cao lắm. Bên cạnh sự dẫn dắt của các vị Đại Đức, Hòa Thượng , còn có sự giúp đở của các Chư Phật, Quỹ Thần. Theo kinh nghiệm thực tế của tôi, khi tin tưởng có sự hộ trì của Chư Phật sẽ giúp ta phấn chấn mà tu tập.

Về vấn đề cầu siêu, trong Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện có nói vị Thánh Nữ Bà La Môn cứu mẹ bằng cách chân thành cúng dường, chí tâm niệm Phật. Không chỉ cứu được mẹ mình, mà ngày đó tất cả chúng sanh bị đọa trong Vô Gián địa ngục được hoan hỉ thăng thiên. Thiết nghĩ đây cũng là một cách cách báo hiếu hiệu quả.

Tôi cũng là người mới học Phật, nghiên cứu kinh kệ, sau này mong được trao đổi cùng TS qua trang web chua- phuoc-binh.

Nam Mô A Di Đà Phật,


Tiến
email : trantien1974@gmail.com
Y: trantien1974@yahoo.com
avatar
TS Huệ Dân 12/01/2011 05:05:29
Kinh chào Tiến
Xin chân thành cảm tạ những ý kiến của bạn gởi đến để chia sẽ kinh nghiệm tu học của chính mình, cho tôi cũng như qúy đọc giả trang đạo Phật ngày nay.

Trong đường tu hay học Phật có nhiều cách khác nhau, và nhiều trình độ khác nhau, do đó ai cảm thấy phương pháp nào mình hợp lý và thích ứng cho mình thì cứ nên dùng nó mà làm hành trang trong đời tu Phật.

Việc học nào đều cũng phải có người hướng dẫn cả, còn việc tự thực hành là ý thức của cá nhân. Do đó trong câu ca dao việt nam có câu : Không thầy đố mình làm nên và Nhất nghệ tinh nhất thân vinh.

Ngày nay, qua những kinh nghiệm sống hàng ngày, có rất nhiều người quan tâm đến đời sống tinh thần mà đặc biệt nhất là Phật học. Trước khi bước vào Phật học và học Phật, thì nên tìm hiểu xem và suy xét cẩn thận con đường mà mình chọn lựa có thực sự phù hợp với căn cơ và ước vọng của mình hay không ?
Phật học và học Phật rất đa dạng, phong phú, vấn đề quan trọng luôn được đặt ra là việc thực hành và sự chứng nghiệm ở từng cá nhân. Không coi trọng vấn đề hình thức nghi lễ rườm rà. Mỗi người tự suy sét, phản quan, để trở về cái bản chất chân thật của mình mà không chạy theo ngoại cảnh bên ngoài.

Tu là sửa, là quay lại trở về với chính mình. Nếu muốn hiểu Phật học, buổi đầu, nên tìm học những phần Phật học cơ bản, cũng như một người muốn trở thành nhà văn, trước hết, phải học, biết và viết những chữ cái, học ráp chữ và đánh vần, học ngữ pháp và viết chính tả, sau đó mới học và tập cách làm văn…

Quá trình học Phật là một quá trình tập tu, trải qua nhiều trình độ trí tuệ khác nhau, ở từng bậc học, giống như một bánh xe đang chạy trên đường, vừa phải bám vào mặt đường, từng điểm một, để làm chổ tựa, mà cũng vừa phải bỏ những gì vừa bám qua, để tiếp tục lăn.

Bất cứ ai cũng có thể trở thành một người con Phật, qua sự tìm hiểu và thực nghiệm các lời dạy của Đức Phật. Ngài thường nói với các đệ tử không được tin ngay vào lời dạy của Ngài, mà họ phải tự thử nghiệm các lời dạy đó. Mỗi người tự có quyết định và tự chịu trách nhiệm về các hành động và sự hiểu biết của mình.

Điều này cho thấy Phật học không phải là một tập hợp cố định, mà tùy theo nhân duyên của mỗi người. Muốn thay đổi cái nhìn thường ngày, nghĩa là muốn chấp nhận một cái nhìn khác lạ, muốn thấy được cái nhìn lý tưởng hơn, thì phải học Phật, sống phải biết khao khát đi tìm chân lý, không sống tự mãn với sự hiểu biết đang có, mà cần phải luôn trao dồi nó. Chính vì cái nhìn cũ và những kiến thức cũ, cũng là một nguyên nhân cản trở con người trong việc tiến tu.

Niềm tin là chất liệu cần thiết cho sự sống. Từ khi ra đời và lớn lên, dù ít hay nhiều, hầu như mỗi người ai ai cũng đều có một niềm tin riêng của mình và niềm tin này được hình thành tùy theo truyền thống gia đình, tùy theo tập tục văn hóa và môi trường tiếp xúc trong cộng đồng xã hội.

Niềm tin là một thuật ngữ đơn giản mà bất cứ ai cũng có thể nói được, đọc được. Nhưng để có được niềm tin chân chính là việc làm không đơn giản. Sống không có niềm tin, con người ta sẽ sống thác loạn, điên cuồng, buông thả bất cần đời. Như vậy niềm tin là gì và tin vào cái gì ?. Đây là vấn đề mà mỗi người phải tự vấn để thẩm định giá trị niềm tin của mình. Nếu tin tưởng vào một điều gì đó một cách quá thái thì nó trở thành cuồng tín. Còn tin mà không hiểu điều mình tin là gì thì đó là mê tín.

Cuộc sống trong xã hội, mỗi người có một nỗi tâm tư khác nhau và những khó khăn riêng, nhưng những ai biết sống với niềm tin thì nó sẽ giúp họ cảm thấy mọi thứ trở nên tốt hơn. Chỉ cần có niềm tin, thì mới có thể thực hiện những gì mình muốn và cũng nên biết rõ niềm tin nào giúp mình đạt được thành công thì nên dồn hết năng lực của mình vào niềm tin đó.

Trong đạo Phật, sau khi thành đạo, Đức Phật nói : "Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành". Người Phật tử tin Phật là Đấng giác ngộ đã thành, bởi vì năm pháp tu Ngũ căn của Ngài kiểm chứng được. Đức Phật không bao giờ bắt buộc ai tin một điều gì mà không suy luận, không giải thích và không chứng nghiệm được. Ngài nói: "Ai tin Ta mà không hiểu Ta là phỉ báng Ta".

Tin Phật là Đấng giác ngộ đã thành không phải chỉ để tôn thờ, sùng kính, lễ lạy mà để thực hành tu tập theo Ngài, để mình cũng được thành Phật như Ngài, tức là tin vào khả năng thành Phật của chính mình.
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tín là căn nguyên của đạo, là mẹ của mọi công đức, nuôi lớn hết thảy thiện pháp, đoạn trừ lưới nghi, đưa vượt qua dòng nước ái dục, mở con đường tối thượng dẫn đến Niết bàn”. Vì vậy, niềm tin đó không gì khác hơn là tin vào chính mình, tin vào định luật Nhân quả, tin nguyên lý Duyên khởi, tin chân lý của cuộc đời là Tứ diệu đế.

Đạo Phật không tin vào bất cứ một Đấng Thượng đế hay Tạo hóa nào có quyền ban phước giáng họa hay chi phối đời sống của mình, mà chỉ tin vào định luật nhân quả : gieo nhân nào gặt quả nấy. Trong Tăng Chi Bộ kinh, Đức Phật dạy: "Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào đã làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy". Sống cuộc đời hạnh phúc hay khổ đau cũng đều tùy thuộc vào chính bản thân mình có tu tập hay không tu tập. Nhận rõ được quả báo hành vi, ngôn ngữ và ý niệm của chính mình như vậy, chúng ta sẽ không trách người, trách trời đất, chỉ biết tự trách mình. Ngược lại, chúng ta sẽ tích cực tu tâm dưỡng tánh, làm sao cho mỗi ngày mỗi tốt đẹp hơn, để hiến dâng cho gia đình và xã hội một niềm tin yêu và một hạnh phúc chân thật.

Trích trong Tinh Hoa Phật Học của TS Huệ Dân,

Mình rất vui vẽ nhận được sự chia sẽ ý kiến của Tiến, và đây cũng là sự góp phần vào xây dựng cái hay đẹp của Phật học.

Kính bút
TS Huệ Dân
avatar
Tiến 12/01/2011 21:41:41
Kính Gởi Thầy Huệ Dân,

Rất vui mừng tiếp nhận ý kiến của Thầy, người đi trước trong nghiên cứu Phật Học. Cách nhìn và tiếp cận Phật Học của Thầy rất là biện chứng và khoa học. Cách tiếp cận này rất thích hợp cho những người thiết tha sự giải thoát và tầng lớp trí thức.

Tuy nhiên có số đông bà con, cô bác mình đi Chùa, tin tưởng khấn vái Bồ Tát, nhưng vẫn không có cơ hội hiểu biết Phật Học, ví dụ như cơ bản học Phật Tứ Diệu Đế. Ngay bản thân gia đình tôi cũng vậy, chỉ việc đơn giản là khuyên ăn chay kỳ và học Phật thì họ lại lắc đầu quầy quậy, đôi khi còn quít qua nói mình là không bình thường. Theo tôi nghĩ mình phải cần bắt đầu bằng điểm nào đó gần gủi với họ và họ sẽ tự phát triển từ đó.

Tôi cũng biết Phật Tổ dày công nghiên cứu và phương tiện để giáo hóa chúng sanh, nhưng tôi cũng không biết làm thế nào, mà không chỉ ra được thì lại lo lắng nhìn người thân mình lẫn quẩn trong sáu đường . Liệu Thầy có sáng kiến nào chăng?

Trân Trọng,

Tiến
avatar
TS Huệ Dân 13/01/2011 18:26:05
Kinh chào Tiến
Xin chân thành cảm tạ những ý kiến của bạn gởi đến để chia sẽ kinh nghiệm tu học của chính mình, cho tôi cũng như qúy đọc giả trang đạo Phật ngày nay.

Đức Phật Thích Ca là một con người thật của lịch sử, là sự tuyệt đối không thể chối cãi được. Những chân lý cao siêu của Ngài để lại cho nhân loại, đã được ghi chép lại thành kinh điển, là sự thật của lịch sử.

Do đó câu nói của Bạn : Tôi cũng biết Phật Tổ dày công nghiên cứu và phương tiện để giáo hóa chúng sanh, nhưng tôi cũng không biết làm thế nào, mà không chỉ ra được thì lại lo lắng nhìn người thân mình lẫn quẩn trong sáu đường. Liệu Thầy có sáng kiến nào chăng (Xin vui lòng, đặt câu hỏi trong hình thức chia sẽ và góp ý lẫn nhau trong việc cùng nhau học hỏi, thì điều này rất hoan nghinh, và Xin vui lòng, đừng hỏi tôi với câu có sáng kiến gì ? Bạn cũng biết kinh Phật là của Phật, Không có ai có quyền sáng kiến gì hết trong kinh của Ngài, mà chỉ nên tôn trọng và học hỏi một cách nghiêm túc) ?

Trong đường tu hay học Phật có nhiều cách khác nhau, và có nhiều kinh thích hợp cho từng trình độ. Do đó, ngày xưa, tùy theo cơ duyên của mỗi người mà Đức Phật, đưa ra những bài thuyết pháp thích nghi.
Như bạn đã nói, theo kinh nghiệm thực tế của bạn, khi tin tưởng có sự hộ trì của Chư Phật sẽ giúp ta phấn chấn mà tu tập. Vậy bạn hãy tập hay chỉ cho những người thân của mình :

Phương pháp tu đơn giản này cũng là phương tiện hữu hiệu giúp cho sự tự lực của chính mình thoát khỏi những hố sâu của tội lỗi, bằng việc tự chánh niệm. Bởi vì Chánh niệm là ánh sáng tỉnh thức để giúp cho tâm, thấy, biết, nhận định, được ý nghĩa tốt đẹp của sự sống, bằng cách biết sống đạo đức, qua bốn đức tính Từ, Bi, Hỷ, Xả sẳn có trong lòng mỗi người. Đó là Niệm A di đà.

Đây là một cách tu, nhanh chóng, dễ dàng, dựa vào tha lực, và đại nguyện của Đức Phật A di đà, bằng cách nhất tâm niệm danh hiệu của Ngài : "Nam mô A di đà Phật", để trau dồi đức hạnh và xoa dịu những khổ đau cho mình và những người chung quanh trong cuộc sống mỗi ngày.

Niệm Phật là tự đưa mình hướng vào trong việc chuyển hóa những ý nghĩ, hành động và lời nói của chính mình theo chiều hướng thiện lành qua bốn mươi tám lời nguyện này, để đạt được tự tánh thanh tịnh của bản thân.

Niệm « Nam mô A Di Đà Phật », để cho tấm lòng an tịnh cũng không phải là lỗi gì, trong những hành động thường ngày như : đi, đứng, ngồi, nằm, nghỉ…

Trong Kinh Pháp Cú, câu 276, Đức Phật có nói :

“Hãy tự siêng trau dồi,
Như Lai chỉ thuyết dạy.
Tự hành trì thiền định,
Tự giải thoát ác nghiệp.”

Trong cuộc sống hầu như cái gì cũng khó cả, từ giấc chiêm bao, cho tới việc, ăn, nằm, đi, đứng, ngồi. Cuộc sống là sự rèn luyện để vượt qua những thử thách đủ chiều, khi con người còn tồn tại. Tuy nhiên khi con người muốn hoàn thành mục tiêu mình chọn, thì phải làm việc bằng sự kiên nhẫn, bền bỉ, thì mới có thể đạt được kết quả mình mong đợi.

Làm việc gì trên đời, đều cũng cần có sự chú tâm và siêng năng ráo riết, thì mới đưa đến sự thành công. Đường tu Phật phải tập mới được. Thí dụ như khi con người nóng giận thường nói những lời khó nghe, hay làm những hành động không tốt, bởi vì, họ không kiểm soát được chính mình.

Do đó cần phải tập kiểm soát chính mình, để tránh được những hậu qủa không lường được, vì thiếu suy nghĩ trong phút chốc có thể đưa mình xuống tận cùng của khổ đau, mà nói lời ăn năng không kịp.

Mọi sự khởi đầu, tất cả đều khó khăn nhưng không xắn tay áo vào thực tập, mà muốn thành người hiền lành, người tốt trong gia đình và xã hội, thì ước mong có hạt bồ đề tâm chỉ là ảo tưởng.

Đau khổ và an lạc, mọi thứ đều do việc lựa chọn của từng cá nhân. Muốn khổ, thì hãy thử làm thân tâm đau. Muốn an lạc, thì hãy thử dùng tin tấn trong việc tu tập của mình trong từng giây phút hiện thời.

Tinh tấn là nỗ lực có chức năng, đánh thức và củng cố vững chắc cho sự tu tập hằng ngày của từng cá nhân, nhằm mục đích ngăn chặn hay tránh xa tội, mà tăng trưởng thiện pháp, để mang lại một cuộc sống thanh thản an vui và vô sự.

Xin chúc Bạn giàu nghị lực, tiếp tục đi theo con đường Bát Chánh Đạo của Đức Phật, mỗi ngày, thì hy vọng Bạn sẽ tìm thấy những điều thú vị, hầu giúp ích cho mình cũng như cho người.

Kính chúc bạn một ngày vui vẽ trong tình học Phật
Kính bút
TS Huệ Dân
avatar
Tiến 13/01/2011 21:54:25
Kính Gởi Thầy Huệ Dân,

Rất cảm ơn sự chỉ dẫn của Thầy. Nếu có mộ phạm xin Thầy bỏ qua, mặc dầu tôi không có ý.

Xin chúc Thầy sức khỏe và an lạc,

Tiến
tổng số: 7 | đang hiển thị: 1 - 7

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

3.40

Tags

Không có tags cho bài viết này

Được quan tâm nhất

Previous
Next

Đăng nhập