Trang chủ Kinh điển Kinh điển Pali Vài dòng giới thiệu về kinh Pháp Cú

Vài dòng giới thiệu về kinh Pháp Cú

Đã đọc: 5252           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image Tranh vẽ minh họa kinh Pháp Cú

Một trong những kinh điển nghiên cứu về Phật học của người học Phật, Kinh Pháp Cú được xem như là một bản tóm tắt truy cập những lời dạy của Đức Phật để đưa con người tự đến khám phá sự thật cho chính mình.

Một trong những kinh điển nghiên cứu về Phật học của người học Phật, Kinh Pháp Cú được xem như  là một bản tóm tắt truy cập những lời dạy của Đức Phật để đưa con người tự đến khám phá sự thật cho chính mình.

Pháp Cú tiếng Pāli gọi là Dhammapada धम्मपद và Phạn ngữ : dharmapāda viết theo mẫu Devanāgarī: धर्मपाद .

Dhammapada có nghĩa là một bộ sưu tập những câu nói và những tục ngữ ngắn của Đức Phật qua hình thức thơ bao gồm nghĩa lý thâm thiết về mặt đạo đức, trách nhiệm cá nhân, kiểm soát cảm xúc và ham muốn, giảm đau khổ, buồn phiền, và cách nuôi dưỡng tâm trí yên tĩnh. 

Kinh Pháp Cú có một truyền thống lâu đời được dạy bằng cách truyền miệng cho những người xuất gia cũng như tại gia. Những câu thơ trong Kinh Pháp Cú là một phần trí tuệ của dân gian, và một số câu sáo ngữ của nó là một phần của nền văn hóa.

Các phiên bản viết tay đầu tiên hiện có của kinh Pháp Cú là cuộn vỏ cây bạch dương được tìm thấy trong lọ đất sét được chôn trong một tu viện ở miền Đông Afghanistan. Những bản viết tay cổ xưa, được gọi là "Gandhāran (nội dung) " hay  "Kharosthi (bản thảo) hiện đang thuộc sở hữu của Thư viện Bảo tàng Anh quốc. Các nhà khảo cổ và học giả Phật học đã được ước tính rằng những bản thảo này có từ khoảng 100 CE.

Có vài giả thuyết cho rằng kinh Pháp Cú được các tu sĩ Phật giáo, học giả, Buddhaghosa, bố trí kinh thành 423 câu  trong 26 chương, và dựa theo 305 câu chuyện dụ ngôn mà cho một số bối cảnh vào những câu đó vào khoảng thế kỷ V CE.

Phiên bản Kinh Dharmapada của Tây Tạng trong đó bao gồm 1.000 câu thơ và 33 chương. Ngày nay hầu như tất cả những bản dịch của kinh Pháp Cú bao gồm 423 câu thơ được sắp xếp thành 26 chương.

Một trong những bản dịch được công bố sớm nhất của kinh Pháp Cú từ tiếng Pali sang tiếng Anh đã được phê chuẩn bị bởi học giả Friedrich Max Müller là năm 1869. Phiên bản Kinh Dharmapada của Tây Tạng có nguồn tiếng Phạn, gọi là Udanavarga, do một nhà sư kim học giả tên là Dharmatrata  biên soạn  khoảng năm 200 CE, được WW Rockhill dịch sang tiếng Anh lần đầu tiên năm 1892. Các phiên bản Kinh Pháp Cú của Trung Quốc về Kinh Pháp Cú đã được Samuel Beal dịch sang tiếng Anh vào năm 1878.

Tóm lại: Kinh Pháp Cú là một trong những cuốn sách phổ biến nhất và dễ tiếp cận trong tất cả văn học Phật giáo. Trong đó là những lời của Đức Phật, dạy rằng tất cả khổ đau bắt nguồn từ mong muốn và cách để đạt được tự do là để thanh tẩy tâm và làm theo con đường của sự thật.

Kinh Pháp Cú, trong tiếng Pali: Dhammapada là do hai chữ ghép lại Dhamma là Pháp có nghĩa là sự thật, nguyên tắc, học thuyết Phật giáo, pháp luật, và kỷ luật, Pada có nghĩa là con đường, cách thức, bước chân.

Cuốn Kinh này gồm 26 Phẩm, 423 câu thơ, là cuốn thứ hai trong 15 cuốn thuộc Kinh Tiểu Bộ (Khuddaka-Nikaya) trong Kinh tạng Pali và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới.  Đây là tên các mục phẫm của Kinh Pháp Cú:

01 - Phẩm Song Yếu | Yamaka Vagga [n° 1 - 20] 

02 - Phẩm Tinh Cần | Appamāda Vagga [n° 21 - 32]

03 - Phẩm Tâm Ý | Citta Vagga  [n° 33 - 43] 

04 - Phẩm Hoa Hương | Puppha Vagga [n° 44 - 59]

05 - Phẩm Ngu Si | Bāla Vagga [n° 60 -75] 

06 - Phẩm Hiền Trí | Paṇḍita Vagga [n° 76 - 89]  

07 - Phẩm A La Hán | Arahanta Vagga [n° 90 -99] 

08 - Phẩm Muôn Ngàn |  Sahassa Vagga [n° 100 - 115] 

09 - Phẩm Ác Hạnh | Pāpa Vagga [n° 116 - 128] 

10 - Phẩm Hình Phạt | Daṇḍa Vagga [n° 129 - 145] 

11 - Phẩm Già Yếu | Jarā Vagga [n° 146 - 156] 

12 - Phẩm Tự Ngã | Atta Vagga [n° 157 – 166]  

13 - Phẩm Thế Gian | Loka Vagga [n° 167 - 178] 

14 - Phẩm Phật Ðà | Buddha Vagga [n° 179 – 196]  

15 - Phẩm An Lạc | Sukha Vagga [n° 197 - 208] 

16 - Phẩm Hỷ Ái | Piya Vagga [n° 209 - 220]   

17 - Phẩm Phẫn Nộ | Kodha Vagga [n° 221 - 234] 

18 - Phẩm Cấu Uế | Mala Vagga [n° 235 - 255] 

19 - Phẩm Pháp Trụ | Dhammaṭṭha Vagga [n° 256 -272] 

20 - Phẩm Chánh Ðạo | Magga Vagga [n° 273 - 289] 

21 - Phẩm Tạp Lục | Pakiṇṇaka Vagga [n° 290 - 305] 

22 - Phẩm Ðịa Ngục | Niraya Vagga [n° 306 - 319] 

23 - Phẩm Voi Rừng | Nāga Vagga [n° 320 - 333] 

24 - Phẩm Tham Ái | Taṇhā Vagga [n° 334 - 359] 

25 - Phẩm Tỳ Kheo | Bhikkhu Vagga [n° 360 - 382] 

26 - Phẩm Bà La Môn | Brāhmaṇa Vagga [n° 383 - 423]

Kính bút

TS Huệ Dân

Web site chính đang thực hiện của TS Huệ Dân : xuviet.net

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (2 đã gửi)

avatar
Minh Tuệ 07/01/2012 22:39:11
Tôi không biết TS Huệ Dân có phải là Tiến sĩ Phật học hay không (hay TS là thiền sư?) mà bài viết còn nhiều chỗ bị sai lầm. Ví dụ sơ đẳng như Kharosthi là một loại chữ viết dùng để viết chữ Gandhāran nhưng tác giả lại gọi là "nội dung" và "bản thảo". Ngoài ra các dữ kiện trình bày không có phần dẫn tài liệu nguồn từ đâu nên không biết tham chiếu ở đâu.
Reply Tán thành Không tán thành
-1
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
TS Huệ Dân 08/01/2012 08:12:30
Kính chào Minh Tuệ


Cám ơn những lời nhắc nhở của bạn, ở đời ai cũng học và lúc nào cũng học hết, cho dù đạt đến đỉnh cao nào trong nền học vấn, đâu có ai khẳng định rằng mình là không sai đâu. Việt có câu 70 chưa gọi là lành.
TS Huệ Dân có phải là Tiến sĩ Phật học hay không, hay TS là thiền sư?. Điều này không quan trọng. Xin bạn đừng đem khái niệm chức vụ hay nghề nghiệp ra làm phần so sánh trình độ.


Khi nào bạn thật sự thấy văn bằng học vấn của người viết bài này hay người này đang trong chiếc áo thiền sư, thì bạn có thể dùng chữ Tiến sĩ hay thiền sư để định nghĩa cho hai chữ TS mà người vi ết bài đang dùng.


TS có nhiều nghĩa như Trang Sách, Tủ sách, Thư sinh, Tu sĩ, Thiền sĩ, Tổ sư, Thiền sư, Thạc sĩ, Tiến sĩ…và chỉ có một bài viết vài dòng giới thiệu về kinh điển nhà Phật nho nhỏ như vầy qua ký hiệu TS, mà bạn cho rằng là Tiến sĩ, hay Thiền sư viết. Điều này bạn đã xem thường những cư sĩ bình dân rồi đó. Nếu bạn có cái nhìn trong ngôn ngữ, thì nên tìm hiểu sâu xa về ý nghĩa và nội dung trình bày của bài viết. Không nên tìm chữ dịch chữ rồi đi đến kết luận vội vàng.


Nếu không biết thì nên dùng chữ xin lỗi đầu câu trong cách viết là điều đáng hoan nghinh cho cái lịch sự của chữ Việt mình.


Cũng như bạn là người cư sĩ của nhà Phật, thì tôi dùng chữ bạn trong cách xưng hô vừa bình dân cũng làm danh từ xưng hô cho người mình không quen biết. Còn nếu như bạn cuối phần bình phẩm có để ký hiệu như TT hay HT thì đương nhiên tôi phải viết hai chữ kính Thượng tọa hay Hòa thượng. Rất tiếc là bạn không có vinh hạnh có thêm chữ Thích ở đằng trước chữ Minh Tuệ để trở thành như TT hay HT Thích Minh Tuệ của giáo đoàn Phật giáo của mình.



Chức vụ và tên tuổi trong bài viết thường là người chịu trách nhiệm cho phần nội dung trình bày. Chứ không phải ai học cao viết bài vở mà không sai đâu, nhiều vị nguyên thủ quốc gia đôi khi họ vẫn còn bị sai sót trong lối hành văn hay dùng từ vựng trong bài diễn văn của họ


Như bạn đã nói bài viết còn nhiều chỗ bị sai lầm, xin bạn chỉ giáo thêm. Phật học là của chung không thuộc về ai, chúng ta là những người cùng học, cùng mang cái hay cho nền Phật Việt Nam mình. Nếu như bạn là người học Phật. Còn nếu như bạn chỉ là một đọc giả muốn hiểu thêm về nguồn gốc về những chi tiết nói về kinh pháp cú, hay những tài liệu nói về nguồn gốc cổ xưa của Phật giáo tại Gandhara và bộ Kinh Kharosthi, bản kinh viết tay cổ nhất mới khám phá ra thời gian gần đây, thì bạn nên đến số 96, Euston Road, London, England, NW1 2DB. Nơi đây bạn có thể tìm kiếm nhiều chi tiết đầy đủ.


Tài liệu pháp ngữ bạn có thể tìm đọc ở đây :

Le Manuscrit "kharoṣṭhī" du Dhammapada. Les fragments Dutreuil ... par M. Émile Senart (1847-1928).
Collection : Gallica
Source : Monographies imprimées de Gallica
Organisation : Bibliothèque nationale de France
Périmètre : Primaires
Langue : Français
Type : Textes


Hay bạn có thể tìm đọc trong những quyển sách của Salomon, Richard. Rouleaux bouddhistes antiques de Gandhāra, Université de pression de Washington, Seattle, 1999, ISBN 0-295-97769-8.
Salomon, Richard. Une version de Gāndhārī du rhinocéros Sutra : Bibliothèque britannique Kharoṣṭhi Fragment 5B Université. de la pression de Washington : Seattle et Londres, 2000.
Allon, marque. Lutte avec des manuscrits de Kharosthi, Bulletin de BDK Fellowhip, non 7, 2004.
Graham Flegg, Numbers: Their History and Meaning, Courier Dover Publications, 2002, ISBN 9780486421650, p. 67f.

The Tarim Mummies: Ancient China and the Mystery of the Earliest Peoples from the West, pp. 270-296, 333-334. (2000). J. P. Mallory and Victor H. Mair. Thames & Hudson, London. ISBN 0-500-05101-1.
Dani, Ahmad Hassan. Kharoshthi Primer, Lahore Museum Publication Series - 16, Lahore, 1979
Falk, Harry. Schrift im alten Indien: Ein Forschungsbericht mit Anmerkungen, Gunter Narr Verlag, 1993 (in German)

Fussman's, Gérard. Les premiers systèmes d'écriture en Inde, in Annuaire du Collège de France 1988-1989 (in French)
Hinüber, Oscar von. Der Beginn der Schrift und frühe Schriftlichkeit in Indien, Franz Steiner Verlag, 1990 (in German)

Nasim Khan, M. Kharoshthi Manuscripts from Gandhara (2nd ed.): 2009. First published in 2008.
Norman, Kenneth R. The Development of Writing in India and its Effect upon the Pâli Canon, in Wiener Zeitschrift für die Kunde Südasiens (36), 1993

Salomon, Richard. New evidence for a Ganghari origin of the arapacana syllabary. Journal of the American Oriental Society. Apr-Jun 1990, Vol.110 (2), p. 255-273.
Salomon, Richard. An additional note on arapacana. Journal of the American Oriental Society. 1993, Vol.113 (2), p. 275-6.

Salomon, Richard. Kharoṣṭhī syllables used as location markers in Gāndhāran stūpa architecture. Pierfrancesco Callieri, ed., Architetti, Capomastri, Artigiani: L’organizzazione dei cantieri e della produzione artistica nell’asia ellenistica. Studi offerti a Domenico Faccenna nel suo ottantesimo compleanno. (Serie Orientale Rome 100; Rome: Istituto Italiano per l’Africa e l’Oriente, 2006), pp. 181–224.


Kính chúc bạn một ngày vui vẻ trong tình học Phật.

Kính bút
TS Huệ Dân


NB : Theo những tài liệu quốc tế, Kharosthi là bảng chữ cái, và nó còn được gọi một tên khác nữa là Bảng chữ cái Gandhara, nó được sử dụng từ giữa thế kỷ thứ ba trước Công nguyên cho tới thế kỷ thứ s áu hay thứ bảy sau công nguyên.


Gandhara là tên gọi cũ của một vùng đất nay là thung lũng Peshawar Valley của Hồi Quốc, giáp giới với biên giới A Phú Hãn ở phía Tây và sông Ấn Hà ở phía Đông. Ngôn ngữ chính của cư dân vùng này là thổ ngữ Ghandhari thuộc ngữ hệ Prakrit, thoát thai từ Sanskrit mà Kharosthi là văn tự chính.


Gandhàra còn được gọi là nghệ thuật Phật giáo, bởi vì nó là nơi sinh ra nghệ thuật điêu khắc mới, qua các nghệ thuật chạm trổ hình tượng mà nội dung chủ yếu là Phật, Bồ tát…


Cuộn kinh Gandhàra (Gandhàra Scrolls), còn được gọi là British Library Kharosthì Scrolls, tuy chưa có bản kinh nào được hoàn toàn và mới chỉ có hơn một phần ba là được nghiên cứu tới cách sơ bộ. Do đó ngư ời ta tạm gọi là bản thảo.


Nếu bạn thích biết chi tiết rõ ràng hơn thì nên tìm đọc những quyển sách dưới đây :


Peter T. Daniels (Oct. - Dec, 1990), "Fundamentals of Grammatology", Journal of the American Oriental Society 119 (4): 727–731, JSTOR 602899
He describes this term as "formal", i.e., more concerned with graphic arrangement of symbols, whereas abugida was "functional", putting the focus on sound–symbol correspondence. However, this is not a distinction made in the literature.
William Bright (2000:65–66): A Matter of Typology: Alphasyllabaries and Abugidas. In: Studies in the Linguistic Sciences. Volume 30, Number 1, pages 63–71
John D. Berry (2002:19) Language Culture Type
Getatchew Haile, "Ethiopic Writing". In Daniels & Bright (1996) The World's Writing Systems.
tổng số: 2 | đang hiển thị: 1 - 2

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

5.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập