Trang chủ | Kinh điển | Kinh điển Pali | Kinh Chuyển Pháp Luân - Thi hóa

Kinh Chuyển Pháp Luân - Thi hóa

Đã đọc: 3492           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

 A Nan tường thuật như vầy :

Phật thời ngự tại đông đầy vườn Nai

Thuộc Isipatana gần ngay Benares

Hóa duyên bằng hữu bạn lành Trần Như

Ngài rằng hai lối đoạn trừ

Cần nên điều phục tâm tư dung hòa

Bạn hiền gạn hỏi thật thà

Thưa Ngài hai pháp ở xa hay gần

Ung dung từ tốn ân cần

Thân tâm quyến luyến sắc thân ích gì

Khổ thân chẳng ích bỏ đi

Tỉnh thức tám pháp Chính tri hiển bài

Con đường Trung đạo không hai

May thay Ngài tiếp điển tài tám chi

Rõ phần Chánh kiến ngay khi

Nghĩ suy Chánh đạo tâm qui tận nguồn

Suông lời đúng pháp suối tuông

Trắng trong thay nghiệp luôn luôn hành trì

Sống đời an ổn tâm bi

Chuyên cần tiến bước lối đi chân thường

Ghi lòng tạc dạ tình thương

Định thần quán tưởng con đường không hai

Lão sinh bệnh chết ai bày

Biết bao cái khổ ở ngay dương trần

Nhân vì tạo nghiệp bởi thân

Cho nên gánh chịu ân cần trách ai

Tỉnh thức hiện tại trí khai

Vui mừng thể nghiệm khứ lai vẫn là

Đạo thành đâu dễ tìm ra

Đây là Khổ đế Ta bà có không

Đây là Tập đế đục trong

Đây là Diệt đế trong lòng thảnh thơi

Đây là Đạo đế sáng ngời

Vui thay lan tỏa cõi đời hậu lai

Trần Như tường tận mở khai

Bánh xe Diệu pháp ai ai cũng hành

Thi hóa

T. Minh Đức qua phần diễn nghĩa của TS Huệ Dân

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (2 đã gửi)

avatar
Huệ Minh 01/02/2011 22:56:00
Thầy Minh Đức va TS Huệ Dân kính,
Mỗi người làm một việc, nhiều người làm nhiều việc, đặc biệt là thuần hóa Kinh điển ra tiếng Mẹ Cha của mình. Hay lắm, quý Thầy cứ làm tới để cống hiến việc này cho thế hệ hiện tại và mai sau.
Năm mới, kính chúc quý Thầy và quý độc giả nhiều an lạc trong ánh sáng của đức Thế Tôn.
Kính chào Quý Thầy.
HM
avatar
TS Huệ Dân 02/02/2011 12:01:10
Kính chào Huệ Minh
Xin chân thành cảm tạ những lời bình phẫm gởi đến cho Thầy Minh Đức và qúy đọc giả trang đạo Phật ngày nay, cũng như cho TS Huệ Dân.

Việc dịch thuật kinh Phật đã có từ xưa trong lịch sử Phật học Việt Nam. Việc làm này không dành cho riêng ai hết, mà chỉ cần có sự tương trợ lẫn nhau, từ vật chất cũng như tinh thần, của những ai thích đóng góp vào việc chuyễn tải, những nội dung và ý nghĩa Phật học đang còn nằm trong ngoại ngữ, được mang bản sắc Việt, cho những thế hệ sau dễ dàng tu học và đưa đạo Phật gần gũi với người con Phật Việt Nam, ở thế kỷ mới theo sự chuyển biến tinh tấn của chữ Việt trong những ngày gần đây. Đồng thời cũng tạo thêm sự phong phú cho Văn hóa của dân tộc.

Dịch thuật kinh Phật giáo là một công việc thầm lặng, chứa đầy khó khăn, cần có một tinh thần làm việc tự giác, vô tư, và không chỉ dừng lại ở sự thông thạo về ngôn ngữ hay văn tự, mà người dịch bị đòi hỏi phải có những tri thức uyên áo về Phật học và Văn hóa.

Nhờ những yêu cầu quá khắc khe trong việc dịch thuật, mà có thể giúp được người tu tránh đi những sự hiểu sai lệch và cũng hạn chế bớt đi những mê tín dị đoan thật đáng tiếc.

Đây cũng là một yếu tố quan trọng nhất của tiếng Việt để tách rời những áo nghĩa uyên thâm, hàm chứa, trong những câu ngoại ngữ ra, rồi định hình theo ý Việt ngày nay.

Có những danh từ đã thấm nhuần trong tiếng Việt thì người ta nhận ra và hiểu biết một cách dễ dàng như trong Phật học chữ : Namah (नम), Namas (नमस्), hay Namo có nghĩa là đem thân tâm về qui ngưỡng Phật, Pháp, Tăng.

Chữ Ratnatrayāya. Ratna có gốc từ tiếng Phạn रत्न, ghép từ hai chữ : rā nhóm một và -na, thân từ thuộc, nữ tính, nam tính, trung tính, có nghĩa : viên ngọc.

Gốc thân từ rā nhóm một, √ रा, rā_1 : cho, đồng ý, giao phó.

Gốc thân từ rā nhóm hai, रा rā_2, xuất phát từ rā nhóm một : hành động cho, hay giao phó. Chữ–na, ॰न, dạng biến cách : hình thức làm bổ nghĩa cho cụm từ đi chung với nó.

Trayāya trong phạn ngữ thuộc dạng nam tính, xuất phát từ chữ त्रय traya, có gốc từ chữ tri và -ya, thân từ thuộc, nữ tính, nam tính, trung tính, có nghĩa : thứ ba, bộ ba, số ba, thuộc về số ba.

Chữ tri, त्रि : số ba, त्रयी : gấp ba lần. Chữ-ya, ॰य : thuộc về, liên quan, phát sinh từ, hình dạng của một chất lượng trừu tượng.

Chữ Triratna : Tam bảo.

Qua định nghĩa của chữ Ratna và Trayāya trong phạn ngữ, thì ý Việt được hiểu như là ba viên ngọc và Hán Việt gọi là Tam Bảo. Như vậy, trên phương diện Phật học thì Tam bảo được xem là ba ngôi qúy báu, mà trong đó bao gồm : Phật Bảo, Pháp Bảo,Tăng Bảo. Hay chữ thiền tự thường mang nghĩa là chùa chiền.

Ngoài việc trợ giúp ý nghĩa từ vựng của các từ điển Phật học. Câu dịch thuật được hoàn thành cần phải có thêm sự hổ trợ của Văn hóa để làm chức năng bổ nghĩa, hầu giúp người đọc hiểu them tánh phổ biến của nó qua những thời đi ểm khác nhau trong nhiều lãnh vực xã hội của con người.

Thí dụ : từ Bụt, theo một số ý kiến khác nhau của những nhà nghiên cứu Văn học và Văn hóa Việt Nam, thì chữ Bụt vốn là âm cổ của từ Phật trước đời Đường, và chữ Phật, phạn ngữ viết theo mẫu tự la tinh là Buddha (âm là Phật đà), chữ devaganari viết बुद्ध.

Chữ Buddha là quá khứ phân từ của chữ budh nhóm một, thuộc tĩnh từ, thân từ có ba dạng : nam tính, trung tính, nữ tính, có nghĩa : tỉnh thức, sáng suốt, thông thái, khôn ngoan.

Động từ căn √budh nhóm một (√बुध्), có nghĩa : tự đánh thức, tự tỉnh thức, xem, tìm hiểu, khám phá, nhận thức, cảm nhận, hiểu biết, hiểu, quan sát, suy nghĩ, tập trung, khơi dậy, phục hồi, làm cho hiểu, nhớ, tiết lộ, thông báo, thông tin, tư vấn, khuyên bảo, suy nghĩ đứng đắn, cố gắng tìm hiểu.

Chữ budh nhóm hai, có gốc từ chữ budh nhóm một, thuộc tĩnh từ, thân từ có ba dạng : nam tính, trung tính, nữ tính, có nghĩa : người tự tỉnh thức, người hiểu biết, thông minh, sáng suốt, khôn ngoan.

Chữ buddhi (बुद्धि) có gốc từ chữ budh nhóm một và thân từ -ti (ति hình thể hoạt động, thuộc nữ tính), có nghĩa : tinh thần, thông minh, khả năng nhận thức, hiểu biết, trí tuệ, nghĩ, ý tưởng, giải quyết.

Nhưng khi chữ Bụt vào Văn hóa Việt Nam đã được Việt hóa hoàn toàn, và trở thành một ông Tiên chuyên cứu giúp người lành... mà điều này có thể thấy qua những truyện cổ tích của Việt Nam như : Bụt là một ông cụ hiền từ, râu tóc bạc phơ, luôn xuất hiện bất ngờ, để an ủi, giúp đỡ những trẽ con, người hiền lành đang lâm nạn, bằng một câu hỏi: “Tại sao con khóc? hay tại sao ngươi khóc ?”. Sau khi hiểu rõ sự tình của người trình bày oan khuất, ông Bụt hóa phép giúp đỡ hay dịu dàng hướng dẫn.

Trong Văn học dân gian của nước Việt Nam, hình ảnh ông Bụt là biểu trưng của tấm lòng Thiện, mang đặc tính dân gian của người Việt Nam, và nét đặc biệt hơn nữa, là trong gia đình người Việt, ít khi được nghe nói, người ta thờ Ông Bụt, do đó không có đạo Bụt, nhưng người ta vẫn tin rằng, ông luôn luôn là vị cứu tinh của họ, trong lúc đang gặp bất công, đau khổ đày ải, hay không còn cách giải quyết nào khác.

Chữ Việt đã đủ sức diễn đạt tư tưởng của dân tộc trong qúa khứ và ngày nay có khả năng diễn dịch các loại sách văn hoá, khoa học, triết học, tôn giáo... của nước ngoài. Nhưng ước mơ được đọc những Tạng Kinh Điễn Phật học bằng tiếng việt vẫn còn xa vời trong Phật giáo Việt Nam.

Kính chúc Huệ Minh một ngày vui vẻ trong tình Phật học. Việc dịch thuật nghiên cứu không dành riêng cho ai hết, nếu bạn cảm thấy có thời gian và khả năng. Xin cùng tham gia với chúng tôi.

Kính bút
TS Huệ Dân
tổng số: 2 | đang hiển thị: 1 - 2

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

5.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập