Trang chủ Kinh điển Kinh điển Pali Thi Hóa TRUNG BỘ KINH ( 5 KINH từ số 66 đến số 70 )

Thi Hóa TRUNG BỘ KINH ( 5 KINH từ số 66 đến số 70 )

Đã đọc: 1326           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font

* Kính mong Chư Tôn Thạc Đức và chư Thiện Hữu Tri Thức khi đọc “Thi hóa Trung Bộ Kinh” xin hoan hỷ đối chiếu, so sánh với nguyên bản dịch phẩm của Ngài Cố Hòa Thượng Minh Châu – và hoan hỷ chỉ dẫn cho chúng con những chỗ sai lầm . Xin đê đầu cảm tạ .

TAM TẠNG THÁNH KINH PHẬT GIÁO

TẠNG KINH ( NIKÀYA )

______________

Thi Hóa

TRUNG BỘ KINH

( Majjhima  Nikàya )

 Hòa Thượng THÍCH MINH CHÂU

Dịch sang tiếng Việt từ Tam Tạng Pàli

 Chuyển thể Thơ :

 Giới Lạc  MAI LẠC HỒNG

 ( Huynh Trưởng Cấp Tấn  - GĐPTVN tại Hoa Kỳ )

Email : honglacmai1@yahoo.com

*  Kính mong Chư Tôn Thạc Đức và chư Thiện Hữu Tri Thức khi đọc  “Thi hóa Trung Bộ Kinh”  xin hoan hỷ đối chiếu, so sánh với nguyên bản dịch phẩm của Ngài Cố Hòa Thượng Minh Châu  –  và hoan hỷ chỉ dẫn cho chúng con những chỗ sai lầm . Xin đê đầu cảm tạ .

__________________________

 ( 5 KINH

từ số 66 đến số 70 )

_______________________

 MỤC LỤC : :

 Tên Kinh                                                 Trang :

 66)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY

–  Latukikopama  Sutta                                 449

67)   Kinh CÀTUMÀ

–  Càtumà  Sutta                                            467

 68)  Kinh  NALAKAPÀNA

–  Nalakapàna  Sutta                                      479

 69)  Kinh  GULISÀNI

–  Gulisàni  Sutta                                           489

 70)  Kinh  KÌTÀGIRI

–  Kìtàgiri  Sutta                                             495

 

 

66. Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY

( Latukikopama sutta )

Như vậy, tôi nghe :

Một thời nọ Thế Tôn Giác Giả

An trú Ăng-Gút-Tá-Ra-Pa   (1)

( Tức Bắc Phương Thủy Ương-Già )

Tại thị trấn A-Pa-Na nơi này .

 

Buổi sớm mai, Thế Tôn Đại Giác

Thân đắp y, mang bát an hòa

Khất thực tại A-Pa-Na  (1)

Sau khi thọ thực, Phật Đà về qua

Đến một khu rừng già để nghỉ

Dưới gốc cây ngồi chỉ tịnh ngay .

 

Ưu-Đa-Di Tôn-giả này

Đắp y mang bát buổi mai , cũng là

Đi vào A-Pa-Na khất thực

Sau ngọ thực, Tôn giả đến ngay

Khu rừng, để trú ban ngày

Độc cư thiền tịnh vị đây thực hành.

Sự suy tư bỗng nhanh khởi phát :

‘ Đấng Đại Giác thật sự chính là

Mang nhiều lạc pháp cho ta,

Diệt bất thiện pháp cho ta rõ ràng,

____________________________

(1) : Địa phương tên Anuttarapa – Ương-già Bắc Phương Thủy .

Apana là một thị tứ của Anguttarapa .

(2) : Tôn-giả Udayi – Ưu-Đà-Di .

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  450

Thật sự mang cho ta thiện pháp,

( Thường giải đáp nghi hoặc chúng ta ).

 

Sau khi thiền tịnh trải qua

Tôn-giả đứng dậy, đi ra khỏi ngàn  (1)

Đến hương thất tịnh an cũa Phật

Đảnh lễ Phật, ngồi xuống một bên ,

Trình bày những điều kể trên,

Rồi Tôn-giả lại thưa thêm như vầy :

 

– “ Bạch Thế Tôn ! Trước đây tệ nạn

Chúng con thường ăn sáng, ăn chiều,

Ban ngày, phi thời ăn nhiều,

Trong khi Ngài đã dạy điều giới răn :

 

‘ Các Tỷ Kheo ! Hãy năng từ bỏ

Ăn phi thời, đừng có ăn chiều ! ’.

Do vậy, con thất vọng nhiều

Cảm thấy sầu muộn với điều giới răn .

Suy nghĩ : ‘Những món ăn, tín thí

Cúng dường loại thượng vị, cứng mềm .

Cúng dường cả sáng, chiều, đêm,

Nay phải từ bỏ ăn đêm, ăn chiều .

Do Thế Tôn dạy điều giới đó

Thật làm khó việc ăn chúng ta ”.

 

Nhưng với chân chánh Tăng-Già

Có lòng ái mộ Phật Đà vô biên,

Có tàm, quý , thì liền từ bỏ

Ăn phi thời, từ bỏ ăn chiều .

 

Bạch Thế Tôn ! Cũng có điều

____________________________

 ( ) :  Ngàn : rừng  ( như : … chem. tre đẵn gỗ trên ngàn … )

 

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  451

Một số Phích-Khú ăn chiều, ăn đêm,

Được cúng dường có thêm vật thực

Bèn nói : ‘ Hãy dành thức ăn này

Đêm cùng nhau ăn đồ này ’.

 

Nhưng ai ái mộ Như Lai Phật Đà

Lòng tôn kính thiết tha vốn có,

Luôn tàm, quý ; liền bỏ ăn đêm .

 

Thuở trước, khất thực trong đêm

Các vị Phích-Khú bị thêm nạn này :

Đêm tối đen, bước ngay vào vũng

Nước dơ nhớp, hoặc đụng rào gai,

Gặp các đạo tặc chẳng ngay

Đã hành sự trộm cướp hay chưa hành,

Đi lầm vào chỗ dành bò cái,

Hoặc gặp gái mời mọc bất lương .

 

Bạch Phật ! Thuở trước con thường

Ban đêm khất thực, chẳng lường họa tai .

Đêm tối đen, một vài phụ nữ

Đang rửa chén sau cử ăn chiều,

Bỗng trời chớp nhoáng, bóng xiêu,

Chị ta hoảng sợ, hét liều lên ngay :

‘ Kinh khủng thay ! Có con quỷ dữ

Đi theo để trừ khử tôi đây ! ’.

Nghe nói vậy, con bảo ngay :

 

– “ Này chị ! Chớ sợ. Tôi đây cơ mà !

Là Tỷ Kheo trải qua khất thực ”.

 

Con lập tức bị chửi tức thì :

 

– “ Cha Tỷ Kheo hãy chết đi !

Mẹ Tỷ Kheo hãy chết đi cho rồi !

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  452

Này Tỷ Kheo ! Theo tôi nghĩ tới

Thật tốt hơn đối với ông đây

Hãy lấy dao bén hằng ngày

Của người đồ tể , cắt ngay bụng mình .

Còn hơn vì bụng mình, khất thực

Trong ban đêm rất mực tối tăm”.

 

Khi nhớ như vậy, tự tâm

Con đã nghĩ đến ân thâm Cha Lành .

Sự suy nghĩ bỗng nhanh khởi phát :

‘ Đấng Đại Giác thật sự chính là

Mang nhiều lạc pháp cho ta,

Diệt bất thiện pháp cho ta rõ ràng,

Thật sự mang cho ta thiện pháp ’.

 

– “ Tuy vậy, vẫn phức tạp thị phi

Ở đây, này Ưu-Đà-Di !

Có một số kẻ ngu si độn đần

Nghe Ta nói : ‘ Phải cần từ bỏ

Ăn phi thời, đừng có ăn chiều ’.

Họ liền phản đối, nói liều :

 

– “ Sá gì việc nhỏ xíu xiu như vầy

Sa-môn này cấm đoán đoạn giảm

Quá nặng nề, kiềm hãm người ta ”.

 

Họ không từ bỏ, lìa xa

Những điều cấm giới mà Ta ban hành .

Họ bất mãn rồi thành chống đối,

Chống Ta và chống với những ai

Muốn thực hành học giới này .

 

Này U-Đa-Dí ! Việc đây chẳng lành !

Đối với họ , trở thành trói buộc

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  453

Thật mạnh mẽ, trói buộc kiên cường,

Trói buộc vững chắc phi thường,

Nó không mục nát , nó dường gỗ to .

Ta ví dụ để cho rõ vậy :

Có con chim cáy mái ốm teo

Bị tấm lưới bằng dây leo

Trói chặt lấy nó dính đeo lưới này.

Có thể bị chết hay bắt nhốt .

 

Nếu có ai đó thốt như vầy :

‘Tuy con chim cáy mái này

Bị tấm lưới trói chặt ngay tức thì .

Bị lâm nguy, có khi mất mạng,

Nhưng với chim, chẳng đáng lo chi !

Lưới yếu ớt, chẳng chắc gì,

Lưới không cứng chắc, lại vì mục hư ’.

 

U-Đa-Dí ! Nếu như người đó

Nói vậy, có chân chánh hay không ? ”.

 

– “ Thưa không, bạch đức Thế Tôn !

Sự việc như thế tuyệt không thể vầy .

Chim cáy mái nhỏ gầy ắt hẳn

Bị tấm lưới chắc chắn phủ vây

Không thể nào thoát lưới này,

Bảo lưới yếu, mục … như vầy nói ngoa ”.

 

– “ Cũng như vậy, điểm qua sự kiện

Một số người ngụy biện, ngu si

Nghe Ta nói : ‘Hãy dứt đi !

Ăn chiều, ăn tối, ăn phi thời này ’.

Liền nói ngay : ‘Sá gì chuyện đó

Việc tiểu tiết, chuyện nhỏ mọn này.

Vị Sa-môn (Kiều-Đàm) đây

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  454

Cấm đoán đoạn giảm gắt gay, nặng nề  ! ’.

Không từ bỏ , hành về cấm giới,

Họ chống đối Ta và những ai

Muốn thực hành học giới này .

Nhưng với họ, sẽ có đầy sầu lo .

 

Ưu-Đà-Di ! Cũng do điều đó

Những người có hiểu biết, nhu hòa

Một số Nam tử Thiện gia

Phát biểu : ‘ Việc nhỏ mọn mà, sá chi !

Khiến đấng Chánh Biến Tri quan ngại

Dạy là phải từ bỏ, đoạn trừ ’.

 

Thế rồi họ đã đoạn trừ,

Không hề bất mãn , cũng như họ đều

Không chống Ta & Tỷ Kheo các vị,

Muốn thực hành hoan hỷ giới đây .

Sau khi từ bỏ như vầy,

Họ sống lắng dịu, ít bày lăng xăng,

Tùy thuộc vào tín-nhân bố thí,

Sống với tâm được ví thú rừng .

Như vậy, với người đã từng

Tuân theo giới luật, không ngừng thực thi,

Sự trói buộc ấy thì không chắc,

Mục nát, rất yếu ớt, đáng chi !

 

Ví như, này Ưu-Đà-Di !

Một con voi lớn uy nghi, ngà dài

Của nhà vua, thuộc loài chiến tượng,

Được nuôi dưỡng, chiến địa làm nhà .

Nếu bị trói bởi nịt da

Rất vững chắc . Nhưng voi ta lẫy lừng

Nó chỉ cần chuyển thân, ra sức

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  455

Là bứt đứt tất cả nịt da .

Nếu có ai đó nói là :

‘ Ngự tượng cao lớn, có ngà dài to

Như cán cày, được so sánh vậy.

Nếu voi ấy bị trói buộc ngay

Bằng nịt da rất chắc, dày.

Chỉ chuyển động mạnh, voi này bứt phăng

Những trói buộc nó bằng da nịt,

Để tới lui tùy thích đó đây .

Tuy vậy, với con voi này

Với sự trói buộc ở đây kiên cường,

Sự trói buộc vô phương bứt đứt,

Hay như khúc gỗ thực lớn thay ! ’.

 

Ưu-Đà-Di ! Ai nói vầy

Có phải xác thực, lời này chánh chân ? ”.

 

– “ Bạch Phật ! Không chánh chân lời ấy .

Với sức voi rất lẫy lừng này

Nó có thể bứt đứt ngay

Sự trói buộc đó chẳng tày vào đâu ! ”.

 

– “ Cũng vậy, như nói vào duyên sự

Các Thiện gia nam tử nhu hòa

Khi nghe lời dạy của Ta

Phát biểu : ‘ Việc nhỏ mọn mà, sá chi !

Khiến đấng Chánh Biến Tri quan ngại

Dạy là phải từ bỏ, đoạn trừ ’.

 

Thế rồi họ đã đoạn trừ,

Không hề bất mãn , cũng như họ đều

Không chống Ta & Tỷ Kheo các vị,

Muốn thực hành hoan hỷ giới đây .

Sau khi từ bỏ như vầy,

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  456

 

Họ sống lắng dịu, ít bày lăng xăng,

Tùy thuộc vào tín-nhân bố thí,

Sống với tâm được ví thú rừng .

Như vậy, với người đã từng

Tuân theo giới luật, không ngừng thực thi

Sự trói buộc ấy thì không chắc,

Mục nát, rất yếu ớt, đáng chi !

 

Ví như, này Ưu-Đà-Di !

Người nghèo khổ, không vật gì có qua.

Vật sở hữu chỉ là chòi lá

Hư nát, mở cho quạ chui vào,

Chòi không đẹp mắt chút nào ,

Một giường mục nát ; xiết bao cơ cầu !

Một ít gạo chứa vào chum nhỏ,

Chum không có đẹp mắt tí gì ,

Một bà vợ chẳng đẹp chi !

 

Người ấy chợt thấy một vì Tỷ Kheo

Tay chân đều sạch trong, nho nhã

Sau khi đã thọ thực ngon lành

Đang ngồi dưới bóng cây xanh

Tăng thượng tâm, vị ấy nhanh hướng vào .

Người ấy nghĩ : ‘ Thanh cao, hoan hỷ !

An lạc thay ! Vị Tỷ Kheo này !

Với Sa-môn-hạnh đủ đầy .

Tại sao ta chẳng từ rày xuất gia ?

Cạo râu tóc, ca-sa hãy đắp,

Lìa gia đình, chỗ thấp hèn ni ’.

 

Nhưng gã không thể rời đi

Cái chòi rách nát, giường thì mục hư,

Không thể từ bỏ bà vợ xấu …

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  457

Để tìm đạo, thực hiện xuất gia,

Cạo râu tóc, đắp ca-sa,

Không gia đình, sống lánh xa ái hà ,

Gã không thể vượt qua trói buộc,

Sự trói buộc đeo dính nghèo hèn,

Cả đời không thoát vận đen .

Nếu có ai đó nói lên như vầy :

‘ Dù người này đã bị trói buộc

Sự trói buộc ấy không vững bền,

Nó yếu ớt, mục nát liền ’.

Này U-Đa-Dí ! Ai lên tiếng vầy

Cách nói này có phải chân chánh ? ”.

 

– “ Bạch Phật ! Không chân chánh lời này.

Người kia bị trói buộc hoài

Vào những ràng buộc ở đây, chẳng rời

Cái chòi thời mục hư, rách nát,

Còn cái giường hư nát, cũ xì

Cùng bà vợ xấu quá đi !

Tài sản thời chẳng có gì đáng đâu !

Nhưng gã không thể nào từ bỏ

Để xuất gia và thọ giới lành,

Sống không gia đình, tịnh thanh .

Đối với người ấy, thấy nhanh như vầy :

Trói buộc này kiên cường, vững chắc,

Khiến gã bị dính mắc, níu trì .

 

– “  Cũng vậy, này Ưu-Đà-Di !

Có một số kẻ ngu si độn đần

Khi nghe Ta nói rằng : ‘ Từ bỏ

Ăn phi thời, đừng có ăn chiều .

Họ liền phản đối, nói liều :

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  458

– “ Sá gì việc nhỏ xíu xiu như vầy

Sa-môn này cấm đoán đoạn giảm

Quá nặng nề, kiềm hãm người ta ”.

Họ không từ bỏ, lìa xa

Những điều cấm giới mà Ta ban hành .

Họ bất mãn rồi thành chống đối,

Chống Ta và chống với những ai

Muốn thực hành học giới này .

 

Này U-Đa-Dí ! Việc đây chẳng lành !

Đối với họ , trở thành trói buộc

Thật mạnh mẽ, trói buộc kiên cường,

Trói buộc vững chắc phi thường,

Nó không mục nát , nó dường gỗ to .

 

Ưu-Đà-Di ! Ta cho ví dụ :

Một gia chủ hay con người này

Giàu có, tài sản dẫy đầy

Vô số vàng bạc, gia tài khuếch trương,

Nhiều đất đai, ruộng nương vô số,

Nhiều thê thiếp, vô số nữ tỳ,

Đầy tớ nam chẳng thiếu gì !

 

Người ấy chợt thấy một vì Tỷ Kheo

Tay chân đều sạch trong, nho nhã

Sau khi đã thọ thực ngon lành

Đang ngồi dưới bóng cây xanh

Tăng thượng tâm, vị ấy nhanh hướng vào .

Người ấy nghĩ : ‘ Thanh cao, hoan hỷ !

An lạc thay ! Vị Tỷ Kheo này

Với Sa-môn-hạnh đủ đầy .

Tại sao ta chẳng từ rày xuất gia ?

Cạo râu tóc, ca-sa hãy đắp,

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  459

Lìa gia đình để gấp ra đi ’.

Sau đó vị ấy từ ly

Xuất gia, từ bỏ những gì dính đeo,

Bỏ tài sản vừa nêu to tát,

Từ bỏ các thê thiếp, gia nhân,

Gia sản kết sù không cần .

Nếu có ai đó nói rằng : ‘ Chuyện đây,

Gia chủ này hay con ông ấy

Tài sản giàu như vậy hằng sa,

Có thể từ bỏ, xuất gia

Cạo bỏ râu tóc, ca-sa đắp liền.

Nhưng với riêng người này, sự kiện

Bị trói buộc vĩnh viễn kiên cường,

Vững chắc, vùng vẫy vô phương,

Không hề mục nát, nó dường gỗ to ’.

Ưu-Đà-Di ! Nếu do câu nói,

Có phải nói chân chánh hay không ? ”.

 

– “ Thưa không, bạch đức Thế Tôn !

Ai nói như vậy, thật không đúng rồi !

Đối với người quyết tâm từ bỏ

Tài sản lớn, cả vợ con mình,

Sự trói buộc ấy rung rinh

Nó không vững chắc, tự mình tan ngay ”.

 

– “ Ưu-Đà-Di ! Ở đây cũng thế

Người có thể hiểu biết, nhu hòa

Khi nghe lời dạy của Ta

Phát biểu : ‘ Việc nhỏ mọn mà, sá chi !

Khiến đấng Chánh Biến Tri quan ngại

Dạy là phải từ bỏ, đoạn trừ ’.

Thế rồi họ đã đoạn trừ,

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  460

Không hề bất mãn , cũng như họ đều

Không chống Ta & Tỷ Kheo các vị,

Muốn thực hành hoan hỷ giới đây .

Sau khi từ bỏ như vầy,

Họ sống lắng dịu, ít bày lăng xăng,

Tùy thuộc vào tín-nhân bố thí,

Sống với tâm được ví thú rừng .

Như vậy, với người đã từng

Tuân theo giới luật, không ngừng thực thi,

Sự trói buộc ấy thì không chắc,

Mục nát, rất yếu ớt, đáng chi !

 

Trên đời, này Ưu-Đà-Di !

Hạng người có bốn . Cái gì bốn đây ?

*  Có người sống hướng ngay đến sự

Diệt sanh y, trừ khử sanh y .

Nhưng khi diệt, bỏ sanh y

Khởi lên tư niệm, tư duy các điều

Liên hệ nhiều sanh y hiện tại .

Vị này lại chấp nhận chúng ngay

Không trừ, bỏ những điều này,

Không chấm dứt, cũng không rày diệt đi .

 

Ưu-Đà-Di ! Người này bị trói,

Không phải không bị trói buộc vầy .

Vì sao vậy ? Vì ở đây

Sai biệt căn tánh, người này sẵn mang ,

Đã được Ta hoàn toàn biết rõ .

 

*  Nhưng cũng có người sống hướng ngay

Sự đoạn trừ sanh y này,

Nhưng khởi tư niệm, khởi rày tư duy

Liên hệ đến sanh y hiện đó,

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  461

Nhưng không có chấp nhận điều này,

Chấm dứt, tiêu diệt chúng ngay .

Ta nói rành mạch : ‘ Người này bên trong

Bị trói, không phải không trói buộc .

Sai biệt thuộc căn tánh người này

Được Ta biết rõ như vầy’.

 

*  Này U-Đa-Dí ! Ở đây có người

Hướng đến diệt, tức thời từ bỏ

Về sanh y . Nhưng họ đồng thì

Khởi lên tư niệm, tư duy

Điên đảo, tùy lúc hoặc tùy thời thôi .

Niệm khởi lên lơi lơi tiệm tiến,

Vị này đoạn trừ niệm ấy nhanh,

Chấm dứt, diệt niệm khởi sanh .

Này U-Đa-Dí ! Rõ rành ví như :

Một người nhỏ từ từ vài giọt

Nước lạnh, rớt vào miếng sắt nung

Nóng đỏ như đang cháy bùng ,

Các giọt nước ấy tiêu tùng thật mau .

 

Cũng vậy, người hướng vào từ bỏ

Và chịu khó đoạn trừ sanh y,

Trong khi muốn diệt sanh y

Khởi lên điên đảo những gì nói trên .

Ta nói liền : ‘ Người này bị trói,

Không phải không bị trói buộc’ vầy.

Vì sao vậy ? Vì ở đây

Sai biệt căn tánh, người này sẵn mang,

Đã được Ta hoàn toàn biết rõ ’.

 

*  Nhưng cũng có người nghĩ như sau :

‘ Sanh y – nguồn gốc khổ đau ’.

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  462

 

Sau khi biết vậy, đã mau trở thành

Vô-sanh-y , rồi nhanh giải thoát

Sự đoạn diệt với các sanh y .

Cho nên, này Ưu-Đà-Di !

Ta nói : ‘ Người ấy không chi buộc ràng ,

Không phải đang bị trói buộc lại ’.

Vì sao vậy ? Vì sai biệt rày

Về căn tánh trong người này

Đã được Ta biết rõ ngay tức thì .

 

Ưu-Đà-Di ! Năm dục trưởng dưỡng .

Dục trưởng dưỡng thế nào là năm ?

Sắc do mắt nhận thức thầm,

Khả ái, khả hỷ, trong tâm thích liền,

Vừa ý riêng, kích thích lòng dục .

 

Tiếng do tai nhận thức du dương ,

Mũi lại nhận thức mùi hương,

Vị do lưỡi nhận thức, thường thích yêu,

Xúc do thân thường chiêu cảm xúc,

Kích thích khiến lòng dục khởi ra .

Ưu-Đà-Di ! Đó chính là

Năm dục trưởng dưỡng trải qua mọi thì .

 

Phàm có lạc & hỷ gì phát khởi

Do duyên với dục trưởng dưỡng này,

Được gọi là ‘dục-lạc’ đây,

Phàm-phu & ô-uế-lạc , đầy xấu xa,

Phi Thánh-lạc, chớ mà tu tập !

Chớ phổ cập, chớ để mạnh đầy ,

Lạc ấy đáng sợ hãi thay !

Này U-Đa-Dí ! Tâm rày duyên theo

Ly ác pháp, Tỷ Kheo ly dục,

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  463

Chứng và trú vào mục Nhất Thiền

Trạng thái hỷ lạc, an nhiên

Sinh do ly dục, có riêng Tứ, Tầm .

 

Diệt tứ, tầm ; Nhị Thiền chứng, trú

Trạng thái đủ hỷ lạc, định sanh,

Nội tĩnh nhất tâm, an lành .

]

Ly hỷ trú xả, thực hành tiếp theo

Vị Tỷ Kheo chánh niệm tỉnh giác,

Thân cảm sự thọ lạc trải qua

Mà các bậc Thánh gọi là

‘Xả niệm lạc trú’, chứng qua Tam Thiền .

 

Vị ấy liền xả lạc, xả khổ

Diệt hỷ ưu cảm thọ trước đây

Chứng và trú Tứ Thiền ngay

Xả niệm thanh tịnh, tâm đầy an nhiên,

Không khổ, lạc . Gọi liền đầy đủ :

Yểm-ly-lạc, độc-trú-lạc đây,

Tịch-tịnh & chánh-giác-lạc này,

Cần phải thực hiện, cần ngay tu trì ,

Cần phát huy, làm cho sung mãn,

Lạc không đáng sợ hãi, lo gì .

 

Ở đây, này Ưu-Đà-Di !

Tỷ Kheo chứng, trú phạm vi Nhất Thiền,

Ta nói rằng chưa yên, dao động .

Cái gì khiến dao động như vầy ?

Do ‘tầm, tứ’ chưa diệt ngay,

Dao động vì vẫn còn đây Tứ, Tầm .

 

Khi Tỷ Kheo hành thâm, chứng, trú

Đệ Nhị Thiền đầy đủ . Tuy nhiên

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  464

 

Tình trạng dao động liên miên :

Chính do ‘hỷ lạc’ chưa liền diệt đi .

Ưu-Đà-Di ! Tỷ Kheo chứng, trú

Tam Thiền đủ, dao động còn đây.

Chính do ‘xả lạc’ điều này

Tình trạng dao động do vầy kéo theo .

 

Vị Tỷ Kheo xả lạc, xả khổ

Chứng và trú vào chỗ Tứ Thiền

Thiền này chính thật vui yên

Không có dao động, an nhiên tu trì .

 

Ưu-Đà-Di ! Chứng Thiền thứ Nhất

Ta nói : ‘ Thật chưa hoàn toàn đâu !

Hãy từ bỏ, vượt qua mau ’.

Vị ấy cần vượt qua mau cái gì ?

 

Ưu-Đà-Di ! Nhị Thiền chứng, trú

‘Cũng chưa đủ, chưa hoàn toàn đâu !

Hãy từ bỏ, hãy vượt mau’.

 

Tam Thiền chứng, trú – chưa sao hoàn toàn .

Đệ Tứ Thiền chứng, an trú đấy,

Nhưng như vậy chưa hoàn toàn đâu !

Hãy từ bỏ, vượt qua mau .

Vị ấy cần vượt qua mau cái gì ?

 

Ưu-Đà-Di ! Vượt mọi Sắc-tưởng

Chướng-ngại-tưởng mọi thứ diệt mau,

Không tác ý dị tưởng nào ,

Tỷ Kheo này nghĩ nhằm vào Hư không

Là vô biên, chứng xong, an trú

Vào Không Vô Biên Xứ an hòa

Đây là điều phải vượt qua .

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  465

 

Ta nói : ‘ Thiền ấy chưa là mục tiêu,

Chưa hoàn toàn, kiếm điều dứt nó .

 

Tỷ Kheo đó vượt mọi Hư Không

Vô Biên Xứ , rồi nhủ lòng :

‘Thức vô biên’, chứng, trú trong nơi này.

Thức Vô Biên Xứ đây cần vượt,

Nên Thiền này chưa được hoàn toàn .

 

Tỷ Kheo tiếp tục vượt sang

Nghĩ : ‘Không có vật gì’ ràng buộc đâu,

Chứng, trú vào Vô Sở Hữu Xứ.

Đây là điều phải tự vượt qua,

‘Chưa hoàn toàn’, Ta nói ra

‘Hãy từ bỏ’, ‘Hãy vượt qua’ nơi này .

Rồi vượt ngay Vô-sở-hữu Xứ .

Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đây

Tỷ Kheo chứng và trú ngay .

Nhưng vị ấy phải điều này vượt qua .

‘Chưa hoàn toàn’ ! Lời Ta nói đó

‘Hãy từ bỏ’, ‘Hãy vượt qua đi’.

Ở đây, này Ưu-Đà-Di !

Vị ấy cần vượt qua đi cái gì ?

 

Tỷ Kheo phải tức thì vượt khỏi

Mọi Tưởng-xứ Phi-tưởng-phi-phi,

Chứng, trú Diệt Thọ Tưởng ni

Đây là điều phải cấp kỳ vượt ngay .

 

Ưu-Đà-Di ! Định này đích thị

Ta nói kỹ sự diệt tức thì

Tưởng-xứ Phi-tưởng-phi-phi .

Này U-Đa-Dí ! Ông thì thấy chăng ?

Kiết sử gì nhỏ hay lớn thiệt,

Trung Bộ (Tập 2)  Kinh VÍ DỤ CON CHIM CÁY      MLH –  466

 

Ta chưa nói sự diệt trừ đi ,

Hiểu thế nào, Ưu-Đà-Di ?”.

 

– “ Thưa không, bạch Chánh Biến Tri Phật Đà ! ”.

 

Nghe Thế Tôn từ hòa thuyết giảng

Pháp viên mãn, cao thượng, diệu vi,

Vị Tôn-giả U-Đa-Di

Hoan hỷ tín thọ , khắc ghi lời Ngài .

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật  (3L )

(  Chấm dứt  Kinh số 66 : Kinh  VÍ  DỤ CON CHIM CÁY

–   Latukikopama  Sutta   )

67. Kinh CÀTUMÀ

( Càtumà  sutta )

Như vậy, tôi nghe :

 

Một thời, Đấng Thế Tôn du hóa,

Địa phương Cha-Tu-Má (1) dừng chân

Rừng cây Mi-Rô-Ba-Lăng  (2)

Trú tại đó với Chúng Tăng tịnh, hòa .

 

Ngài Sa-Ri-Pút-Ta (3) Tôn-giả

( Hay ngài Xá-Lợi-Phất cũng là )

Cùng ngài Mốc-Gá-La-Na  (4)

( Mục-Kiền-Liên cũng chính là ngài đây )

Lúc bấy giờ , hai ngài Thượng thủ

Dẫn năm trăm Phích-Khú, cùng qua

Đến tịnh địa Cha-Tu-Ma

Để được yết kiến Phật Đà tại đây .

 

Các Tỷ Kheo nơi này chào đón

Các vị đến . Rồi dọn sàng tòa,

Các y bát được cất qua ,

Nên tiếng náo động khởi ra ồn ào .

 

Đức Thế Tôn hướng vào Tôn-giả

A-Nan-Đa , hỏi đã xảy ra

Chuyện gì náo động như là

Tiếng phường đánh cá trải qua tranh dành

______________________________

( ) :  Địa phương tên  Càtumà .

(2) :  Rừng cây Myrobalam  ( Kha-lưu-lạc ) .

(3) :  Tôn giả Sariputta  ( Xá-Lợi-Phất ) được Phật tuyên bố là

Đại-đệ-tử tay mặt của Ngài , vị Trí Tuệ đệ nhất .

(4) :  Tôn giả Moggallana  ( Mục-Kiền-Liên ) là Đại-đệ-tử tay

trái của Phật , vị Thần thông đệ nhất .

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh CÀTUMÀ                       MLH –  468

Khi thuyền về, tranh dành chia cá ?

A-Nan-Đa Tôn-giả thưa qua

Nguyên nhân sự việc xảy ra .

Thế Tôn liền bảo ngài A-Nan-Đà :

– “ Nhân danh Ta, hãy đi tìm họ

Bảo Đạo Sư gọi họ gặp Ngài ”.

– “ Bạch Thế Tôn ! Con đi ngay ”.

Rồi Tôn-giả chuyển lời Ngài y theo .

Tất cả vị Tỷ Kheo mới đến

Cùng đi đến hương thất Thế Tôn,

Chí thành đảnh lễ Thế Tôn

Một bên ngồi xuống nhu ôn cạnh Ngài .

 

Đấng Như Lai liền lên tiếng hỏi

Hướng về mọi Tỷ Kheo ngồi gần :

 

– “ Các Tỷ Kheo ! Có nghĩ chăng

Có tiếng náo động như hàng ngư dân

Tranh dành cá vang rân náo động ? ”.

 

– “ Bạch Thế Tôn ! Náo động do là

Năm trăm Tỷ Kheo từ xa

Vừa đến tại Cha-Tu-Ma nơi này

Do hai ngài : Sa-Ri-Pút-Tá

Và Mốc-Ga-La-Ná  dẫn đầu

Chư Tăng tại đây đón chào

Dọn sàng tọa, y bát mau cất vào,

Nên có tiếng ồn ào như vậy ”.

 

– “ Các Tỷ Kheo ! Mau hãy đi đi !

Ta đuổi các ông phải đi .

Chớ gần Ta . Hãy cấp kỳ đi ra ! ”.

– “ Bạch Phật Đà ! Xin vâng lời dạy ”.

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh CÀTUMÀ                       MLH –  469

 Các Tỷ Kheo đứng dậy tức thì

Đảnh lễ đấng Chánh Biến Tri

Hữu nhiễu quanh Phật rồi thì đi ra .

Dọn dẹp lại sàng tòa như cũ

Lấy y bát , ủ rủ đi ra .

Lúc ấy, Thích-tử Thích Ca

Các vị tạm trú tại Cha-Tu-Mà,

Đang hội họp bàn qua công vụ

Tại giảng đường đang trú nơi đây.

Bỗng thấy các Tỷ Kheo này

Từ xa đi đến, mặt mày buồn hiu .

Các Thích-tử thấy điều như vậy

Hòi các Tỷ Kheo ấy như sau :

– “ Nay chư Tôn-giả đi đâu ? ”.

– “ Chư Huynh ! Cả bọn phạm vào điều sai ,

Bị Như Lai đuổi đi như vậy ”.

 

– “ Chư vị hãy ngồi lại nơi này

Chúng tôi sẽ xin với Ngài ”.

– “ Thưa vâng, xin các Huynh đài giúp cho ”.

 

Các Thích-tử này do sốt sắng

Đến, đảnh lễ Chánh Đẳng Như Lai,

Rồi ngồi xuống một bên Ngài .

( Các vị Thích-tử ở đây chính là

Sát-Đế-Lỵ Thích Ca tộc hệ  (1)

Thuộc Ca-Tỳ-La-Vệ (1) nước này )

Các Thích-tử bạch Phật ngay :

____________________________

(1) : Bộ tộc Sakya  – Thích Ca thuộc giai cấp Khattiya (Sát-Đế- Lỵ ) thuộc Tiểu quốc Kapilavatthu  ( Ca-Tỳ-La-Vệ ) lúc ấy dưới sư trị vì của Vua Tịnh Phạn (Suddhodana – là cha của  Thái Tử Sĩ-Đạt-Ta , tức Đức Phật ) .

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh CÀTUMÀ                       MLH –  470

 – “ Bạch đấng Thiện Thệ ! Xin Ngài thứ tha,

Xin Phật Đà từ bi hoan hỷ

Với các vị Tỷ Kheo lỗi lầm .

Trước kia, Ngài với từ tâm

Tiếp độ, hướng dẫn  họ tầm đường tu

Nay xin giúp Phích-Khu (1) các vị

Trong số họ, có vị mới tu

Thân tâm chưa được hòa nhu

Xuất gia mới mẻ, công phu chưa nhiều,

Pháp và Luật họ đều sơ lược .

Nếu không được yết kiến Phật Đà

Có thể họ đổi khác ra,

Có thể biến chất hoặc là lầm đi .

Bạch Thế Tôn ! Giống y hạt giống

Không tưới nước, sức sống sẽ suy

Có thể chúng biến dạng đi

Hoặc chúng đổi khác, còn tùy xảy ra .

Bạch Phật Đà ! Bê con được ví

Với nó, chỉ có mẹ mà thôi,

Nếu bò mẹ bị tách rời

Có thể bê biến dạng rồi đổi thay .

Cũng như vậy, xin Ngài hoan hỷ

Lượng thứ cho các vị Tỷ Kheo .

Đây có những tân Tỷ Kheo

Xuất gia mới mẻ, chưa theo Luật điều .

Nếu Thế Tôn dùng nhiều cách phạt,

Họ có thể đổi khác, càng sai,

Xin Phật tiếp đón Chúng này

Xin hãy hoan hỷ, xin Ngài từ bi ”.

_______________________________

 

(1) : Bhikkhu – Tỳ-Khưu hay Tỷ-Kheo , có nghĩa là Khất-sĩ .

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh CÀTUMÀ                       MLH –  471

 

Vị Sa-Hăm-Pá-Ti  (1), thường trú

Cõi Phạm Thiên . Là chủ Ta-Bà,

Với tâm của mình, biết qua

Tâm của Đại Giác Phật Đà trí minh .

Như lực sĩ tạo hình, dễ dãi

Duỗi cánh tay co lại của mình,

Phạm Thiên biến mất thình lình

Khỏi Phạm-Thiên-giới, an bình hiện ra

Trước mặt đức Phật Đà tự tại

Đắp thượng y vai trái nghiêm trang

Chắp tay hướng Phật, bạch rằng :

– “ Bạch đức Điều Ngự ! Ngài hằng từ bi .

Hãy hoan hỷ với Tỳ-Khưu Chúng,

Hãy tiếp đón, gặp Chúng Tăng này .

Ví như Thế Tôn trước đây

Tiếp độ, giúp họ , tâm đầy thương yêu .

Trong số họ, có nhiều Phích-Khú

Mới xuất gia, chưa đủ oai nghi,

Vừa đến trong Pháp & Luật ni,

Không được yết kiến Phật thì buồn thay !

Có thể vì điều này thối thất,

Rồi đổi khác, biến chất, lầm đi .

Kính bạch đấng Chánh Biến Tri !

Hạt giống thiếu nước sẽ suy yếu liền,

Như bê con tách riêng bò mẹ …

Các Tỷ Kheo này sẽ lạc đường

Bạch đấng Thiện Thệ Pháp Vương !

Xin Ngài hoan hỷ, hãy thương Chúng này ”.

Do trình bày thiết tha, tuần tự

________________________________

 (1) : Đại Phạm Thiên Sahampati   tại Cõi Trời Phạm Thiên .

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh CÀTUMÀ                       MLH –  472

 Các Thích-tử và Đại Phạm Thiên

Sá-Hăm-Pá-Tí , là duyên

Để đấng Đại Giác bỏ phiền làm vui ,

Với ví dụ để nuôi hạt giống

Hay sự sống mất mẹ của bê .

Khi đã giải quyết vấn đề

Sá-Hăm-Pá-Tí trở về Phạm Cung

Các Thích-tử cũng cùng từ giã .

Ngài Mốc-Ga-La-Ná bấy giờ

Bảo các Tỷ Kheo ngồi chờ :

 

– “ Chư Hiền ! Đứng dậy ! Nhân cơ hội này

Đại Phạm Thiên, các ngài Thích-tử

Đã xin đấng Điều Ngự thứ tha,

Phật đã vui lòng bỏ qua .

Lấy y bát, hướng Phật Đà đến ngay ! ”.

Các vị này vâng theo Tôn-giả

Từ chỗ ngồi đứng cả lên ngay

Đến gặp Phật, đảnh lễ Ngài,

Một bên ngồi xuống, lòng đầy hân hoan .

Phật nhìn sang Sa-Ri-Pút-Tá ,

Hỏi : “ Này Xá-Lợi-Phất ! Nghĩ gì

Khi Ta đuổi bọn họ đi ? ”.

 

– “ Bạch Phật ! Các Tỷ Kheo ni lỗi lầm

Bị Ngài đuổi, con thầm nghĩ ngợi :

‘ Vậy thuận lợi, ít bận rộn Ngài,

Trú an hiện-tại-lạc này .

Chúng con cũng vậy, từ rày được an ”.

 

– “ Xá-Lợi-Phất ! Hãy khoan nói thế,

Chớ có để tư tưởng như vầy

Khởi lên từ nơi ông đây ”.

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh CÀTUMÀ                       MLH –  473

Mục-Kiền-Liên lại được Ngài hỏi qua :

– “ Này Mốc-Gá-La-Na ! Ông nghĩ

Về các vị bị đuổi thế nào ? ”.

– “ Bạch Thế Tôn ! Con nghĩ mau :

Nay sự bận rộn, ồn ào mất đi,

Hiện-tại-lạc Phật thì an trú,

Từ nay tự con và Pháp-huynh

Sa-Ri-Pút-Tá , tận tình

Lãnh đạo Tăng Chúng nghiêm minh, an lành ”.

– “ Lành thay ! Này Mốc-Ga-La-Ná !

Chỉ có Ta và cả hai là :

Tay mặt, Sa-Ri-Pút-Ta,

Tay trái, Mốc-Gá-La-Na – tận tình

Mới có thể nghiêm minh lãnh đạo

Chúng Tỷ Kheo y giáo hành trì ”.

 

Sau đó, đức Chánh Biến Tri

Cho gọi Tăng Chúng tức thì vào ngay .

 

Ngài thuyết giảng : “ Hỡi này Tăng Chúng !

Bốn điều cũng đáng sợ như nhau

Chờ đợi ai lội nước sâu .

Thế nào là bốn ?  –  Sợ vào sóng to ,

–  Sợ và lo cá sấu làm hại ,

–  Sự sợ hãi nước xoáy giữa dòng ,

–  Sợ hãi cá dữ tấn công .

Bốn điều sợ hãi chẳng mong gặp này

Luôn chờ đợi những ai lội nước .

Cũng vậy, bốn điều được nêu ra

Chờ đợi những người xuất gia

Luôn đáng sợ hãi, trải qua sớm chiều .

Thế nào là bốn điều đáng sợ

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh CÀTUMÀ                       MLH –  474

Cũng tương tợ : cá sấu, sóng to,

Nước xoáy, cá dữ đáng lo .

Các ông ! Sợ hãi nguyên do thế nào ?

 

*  Sự sợ hãi ra sao về sóng ?

Các Tỷ Kheo ! Đang sống tại gia

Một Thiện-nam-tử an hòa

Vì lòng tin, đã xuất gia, lìa nhà,

Bỏ gia đình, tránh xa thế tục .

Trong tỉnh thức, vị ấy nghĩ suy :

“ Ta bị già, chết, sầu, bi,

Sanh, khổ, ưu, não … mọi thì chẳng buông,

Khổ áp bức, khổ luôn chi phối .

Tuy vậy, ta mong đợi như vầy :

Dứt toàn bộ khổ uẩn này ”.

Xuất gia, vị ấy đêm, ngày, ngoài, trong

Được các vị là đồng-phạm-hạnh

Giảng dạy điều chân chánh, khuyên bày :

‘ Ông cần thực hiện hằng ngày :

Ngó tới như vậy, như vầy ngó quanh,

Đi và về an lành như vậy,

Co & duỗi tay cũng phải oai nghi.

Phải mang Tăng-già-lê y,

Mang bát như vậy, mọi thì hóa duyên ’.

 

Vị ấy liền nghĩ theo việc đó :

‘ Trước kia, ta chưa có xuất gia,

Chính ta giảng dạy người ta,

Khuyến giáo người khác thật là nhiều thay !

Nay họ đây hãy còn ít tuổi

Đáng vào tuổi con cháu của ta

Lại muốn giảng dạy cho ta,

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh CÀTUMÀ                       MLH –  475

Lên mặt khuyến giáo với ta đủ điều ’.

 

Do tâm tư có nhiều bất mãn

Vị ấy nản, hoàn tục, về nhà .

Các Tỷ Kheo ! Như vậy là

Vị ấy từ bỏ, lánh xa tu hành .

Gọi đích danh là người sợ hãi

Sự sợ hãi về sóng tấn công .

Các Tỷ Kheo ! Phải hiểu thông :

Sợ hãi sóng – phẫn não : đồng nghĩa nhau .

 

*  Còn thế nào sợ hãi cá sấu ?

Thấy phiền não đời sống tại gia,

Một Thiện-nam-tử trải qua

Lòng tin sâu nặng, xuất gia tu hành,

Tâm chí thành muốn trừ dứt khổ .

Nhưng tại chỗ trú xứ, hằng ngày

Được đồng-phạm-hạnh các ngài

Giảng dạy, khuyến giáo vị đây ân cần :

 

“ Ông không nên nhai, ăn cái đó !

Không nên có cách nếm, uống này !

Nên nhai, ăn, nếm như vầy !

Nên uống như vậy ! Phải đầy oai nghi .

Ông nên ăn những gì cho phép,

Không cho phép thì chẳng nên ăn !

Nhai, nếm hay uống cũng hằng

Theo sự cho phép & cấm ngăn giới này .

Phải đúng thời nếm, nhai, ăn, uống,

Không nếm, nhai, ăn, uống phi thời ”.

 

Vị ấy suy nghĩ tức thời :

‘ Trước kia khi sống cuộc đời tại gia

Cái gì muốn thì ta thực hiện,

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh CÀTUMÀ                       MLH –  476

 

Nếu không muốn, ta miễn làm ngay ,

Sự ăn, uống, nếm, nhai này

Đúng thời, ta uống, ăn, nhai đã đành

Phi thời cũng thực hành điều đó .

 

Như nay có gia-chủ tín thành

Cúng dường món ăn ngon lành,

Hình như bị chận tại vành miệng ta ! ”.

Bất mãn do chỉ là vật thực

Y lập tức hoàn tục, về nhà .

Các Tỷ Kheo ! Như vậy là

Vị ấy từ bỏ, lánh xa tu hành .

Gọi đích danh là người sợ hãi

Sự sợ hãi cá sấu tấn công .

Các Tỷ Kheo ! Phải hiểu thông :

Tham ăn – sợ cá sấu : đồng nghĩa nhau .

 

*  Còn thế nào sợ hãi nước xoáy ?

Thiện nam ấy chán đời tại gia

Từ bỏ gia đình, xuất gia

Do nghĩ : ‘ Khổ áp bức ta mọi thời,

Khổ chi phối cuộc đời ta mãi,

Ta mong phải dứt khổ uẩn này ’.

Sống đời xuất gia, hằng ngày

Với đồng-phạm-hạnh các ngài tại đây.

Khi vị này đắp y mang bát

Vào thị trấn hoặc các thôn làng

Khất thực ; nhưng y hoàn toàn

Thân không phòng hộ, mọi đàng dễ duôi,

Không phòng hộ, dễ duôi lời nói,

Không có mọi niệm-an-trú cần,

Lại không chế ngự các căn .

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh CÀTUMÀ                      MLH –  477

 

Vị này thấy các chủ-nhân các nhà

Đời sống họ thật là đầy đủ

Được hưởng thụ năm dục tăng gia,

Thấy hoan hỷ ; nên nghĩ là :

‘ Khi chưa nhập chúng thì ta cũng vầy

Cũng hưởng thụ đủ đầy năm dục

Trong mọi lúc, hoan hỷ trải qua .

Ta có tài sản trong nhà

Có thể hưởng thụ với gia tài mình,

Vừa có thể tự mình làm phước ’.

Rồi lui bước, hoàn tục, về nhà .

Các Tỷ Kheo ! Như vậy là

Vị ấy từ bỏ, lánh xa tu hành .

Gọi đích danh là người sợ hãi

Sự sợ hãi nước xoáy mênh mông .

Các Tỷ Kheo ! Phải hiểu thông :

Năm dục tăng trưởng cũng đồng nghĩa đây

Với nước xoáy người này sợ hãi .

*  Còn sợ hãi cá dữ là sao ?

Có một Thiện-nam-tử nào

Vì lòng tin quá dồi dào, xuất gia

Bỏ gia đình, tránh xa thế tục .

Trong tỉnh thức, vị ấy nghĩ suy :

“ Ta bị già, chết, sầu, bi,

Sanh, khổ, ưu, não … mọi thì chẳng buông,

Khổ áp bức, khổ luôn chi phối .

Tuy vậy, ta mong đợi như vầy :

Dứt toàn bộ khổ uẩn này ”.

Xuất gia nhập chúng, ngày ngày vui thay !

Khi vị này đắp y mang bát

Vào thị trấn hoặc các thôn làng

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh CÀTUMÀ                      MLH –  478

 

Khất thực ; nhưng y hoàn toàn

Thân không phòng hộ, mọi đàng dễ duôi,

Không phòng hộ, dễ duôi lời nói,

Không có mọi niệm-an-trú cần,

Lại không chế ngự các căn .

 

Vị này nhìn thấy nữ nhân các nàng

Y phục họ hở hang phất phới

Không đoan chánh, khiêu gợi dục tâm

Khiến vị này khởi tà dâm

Dục tình liền phá hoại tâm vị này .

Do dục vọng xéo dày như vậy

Nên vị ấy hoàn tục, về nhà .

Các Tỷ Kheo ! Như vậy là

Vị ấy từ bỏ, lánh xa tu hành .

Gọi đích danh là người sợ hãi

Sự sợ hãi cá dữ tấn công .

Các Tỷ Kheo ! Phải hiểu thông :

Phụ nữ & sợ cá dữ : đồng nghĩa nhau .

 

Bốn điều này trước sau Ta giảng

Cũng đều đáng sợ hãi, kinh hồn,

Chờ người xuất gia , Sa-môn,

Gia đình từ bỏ, bảo tồn đường tu

Trong Pháp & Luật ; công phu chưa đạt

( Luôn cảnh giác về bốn điều này ) ”.

 

Thế Tôn thuyết giảng như vầy,

Chư Tăng tín thọ, lời Ngài khâm tuân .

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật  (3L )

*   *   *

(  Chấm dứt  Kinh số 67: Kinh CÀTUMÀ  –  Càtumà Sutta )

68. Kinh NALAKAPÀNA

( Nalakapàna  sutta )

 

Như vậy, tôi nghe :

 

Một thời, Đức Thế Tôn vô ngại

An trú tại xứ Kô-Sa-La  (1)

( Còn có tên Câu-Tát-La )

Tại Na-La-Ká-Pa-Na (2) nơi này,

Trong rừng cây tên Pa-Lá-Sá (2)

Cùng với Chúng Săng-Gá (3) tịnh, hòa .

 

Lúc bấy giờ, đã xảy ra

Nhiều Thiện-nam-tử danh gia, sang giàu,

Cùng nhiều vị thanh cao vương-tử

Vì lòng tin Điều Ngự Phật Đà,

Từ bỏ gia đình, xuất gia,

Như ngài A-Nậu-Lâu-Đà ôn nhu

( Cũng chính là A-Nu-Rút-Thá )

Kim-Bi-Lá và Nan-Đi-Da ,

Pha-Gu , Kun-Đá-Thá-Na ,

Rê-Va-Tá , A-Nan-Đà … kể qua .

_____________________________

 

( ) : Vương quốc Kosala  (Câu-Tát-La  hay Kiều-Tất-La ) có Kinh đô là Savatthi ( Xá Vệ ) dưới sự cai trị của vua Pasanadi – Ba- Tư-Nặc .( Kỳ Viên Tinh Xá cũng nằm trong địa phận Thành Xá Vệ này) . Tiều quốc Kapilavathtu (Ca-Tỳ-La-Vệ) của Đức Phật cũng đặt dưới sự bảo hộ của Vương quốc Kosala .

 (2) : Địa phương tên Nalakapàna , rừng cây tên Palasa .

(3) : Sangha  phiên âm Tăng-Già , là Chúng Tỷ Kheo đệ tử Phật. Bản chất Tăng-Già là thanh tịnh và hòa hợp .

(4) : Bảy vị cùng xuất gia : Anuruddha  (A-Nậu-Lâu-Đà hay A-Na- Luật ), Kimbila , Nandiya , Bhagu , Kundadhana , Revata (Ly- Bà-Đa ) và Ananda ( A-Nan ).

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh NALAKAPÀNA               MLH –  480

 Cùng số khác Thiện-gia nam-tử

Có danh tiếng ; tuần tự xuất gia .

 

Bấy giờ, Thế Tôn Phật Đà

Đang  ngồi giữa Chúng Tăng Già vây quanh

Giữa bãi cỏ, trời xanh gió mát .

Đức Phật nhân vì các vị này

( Các Thiện-gia nam-tử đây )

Hỏi Tỷ Kheo Chúng : “ Các thầy Tỷ Kheo !

Thiện-nam-tử họ theo Ta cả,

Vì lòng tin Ta, đã xuất gia,

Sống không gia đình, lìa nhà,

Này Tỷ Kheo Chúng ! Trải qua như vầy

Thiện-gia nam-tử này các vị

Có hoan hỷ trong Phạm-hạnh chăng ? ”.

 

Nghe Phật hỏi, nhưng Chư Tăng

Vẫn ngồi im lặng, không hằng nói chi .

Lần thứ hai, rồi thì ba bận

Các Tỷ Kheo cũng vẫn lặng yên .

Đức Thế Tôn suy nghĩ liền :

‘ Chi bằng Ta hãy hiện tiền hỏi qua

Chính các vị Thiện-gia nam-tử ’.

 

Rồi Điều Ngự câu hỏi đặt ra

Cho nhóm A-Nú-Rút-Tha

( Ngài dùng “A-Nậu-Lâu-Đà” gọi chung ) :

– “ Này các ông A-Nu-Rút-Thá !

Các ông đã xuất gia, toại lòng,

Có hoan hỷ Phạm-hạnh không ? ”.

– “ Rất hoan hỷ, bạch Thế Tôn Phật Đà ! ”.

– “ Lành thay ! Những thiện-gia nam-tử !

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh NALAKAPÀNA               MLH –   481

Vì lòng tin nên tự xuất gia,

Sống không gia đình, ly gia

Hoan hỷ trong Phạm-hạnh và siêng tu .

 

Các A-Nu-Rút-Tha ! Trong lúc

Tuổi trẻ đẹp, hạnh phúc, vui luôn,

Tóc đen nhánh, tuổi thanh xuân,

Có thể hưởng thụ, sống buông lung đời .

Nhưng các ông quyết rời, từ bỏ,

Lìa cửa nhà, giòng họ, gia đình,

Tự nguyện sống không gia đình .

 

Không vì mệnh lệnh buộc mình xuất gia,

Không bị vua sai mà làm thế,

Không vì kẻ trộm cướp bức thân,

Không vì sợ hãi , nợ nần,

Không vì thất nghiệp hay cần nương thân .

Có phải rằng các ông suy nghĩ :

‘ Ta đang bị già, chết, sầu, bi,

Sanh, khổ, não … những mối nguy

Áp bức, chi phối mọi thì, mọi nơi .

Nhưng ta thời luôn mong sẽ đạt,

Chấm dứt các khổ uẩn vây ta ’.

Này các A-Nú-Rút-Tha !

Có phải do vậy, xuất gia tu hành ? ”.

– “ Thưa vâng, bạch Trọn Lành Thiện Thệ ”.

 

– “ Và như thế, theo các ông thì

Các ông cần phải làm gì ?

*  Ly bất thiện pháp và ly dục liền !

Nếu không chứng an nhiên hỷ lạc

Hay một trạng thái khác , tịnh yên,

Dục tham chiếm, trú tâm liền .

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh NALAKAPÀNA               MLH –  482

Rồi sân, trạo cử, thụy miên hôn trầm …

Xâm chiếm tâm và an trú đấy .

Hối quá, nghi, giải đãi, bất an …

Xâm chiếm tâm và trú an .

 

Khi nào chưa được hoàn toàn trải qua

Ly bất thiện pháp và ly dục,

Thời các vị không lúc nào an .

Khi nào ly dục hoàn toàn

Ly bất thiện pháp, mọi đàng tịnh thanh

Thì vị ấy chứng nhanh hỷ lạc

Hay một trạng thái khác tịnh yên,

Thời các triền-cái nói trên

Không chiếm tâm được, không liền trú qua .

 

Các A-Nú-Rút-Tha ! Ly dục,

Bất thiện pháp cùng lúc cũng ly,

Thì chứng hỷ lạc tức thì

Hay trạng thái khác phát huy, tịnh hòa .

 

Các A-Nậu-Lâu-Đà ! Thường nghĩ

Về Như Lai trong trí thế nào ?

Như về các lậu-hoặc nào

Liên hệ phiền não có sau khởi vầy,

Đáng sợ hãi, đưa ngay lập tức

Đến quả khổ dị thục này đây,

Hướng sanh, già, chết tương lai,

Lậu-hoặc chưa được Như Lai đoạn trừ .

Nên sau khi suy tư, phân tích

Ta thọ dụng một pháp , an như .

Sau khi phân tích, suy tư

Nhẫn thọ một pháp, rồi trừ bỏ đi .

Rồi sau khi suy tư phân tích

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh NALAKAPÀNA               MLH –  483

Lại một pháp trầm nịch diệt xong,

Các ông nghĩ thế phải không ? ”.

 

– “ Bạch Đại Giác ! Chúng con không nghĩ vầy.

Mà nghĩ ngay : “ Với Ngài Thiện Thệ

Các lậu-hoặc liên hệ não phiền

Sanh khởi hậu hữu , căn nguyên

Đáng sợ hãi, đưa khổ liền đến nhanh

Quả dị thục, hướng sanh, già, chết,

Trong tương lai ; diệt hết điều này .

Các lậu-hoặc được Như Lai

Đoạn trừ tất cả, mảy may không còn .

 

Khi Thế Tôn suy tư phân tích

Một pháp tích cực chọn thọ dùng .

Sau khi nghĩ, phân tích cùng,

Nhẫn thọ một pháp . Không dùng trừ đi

Một pháp khác . Nghĩ suy phân tích

Một pháp thuộc chướng nghịch diệt ngay ”.

 

– “ Này các ông ! Thật lành thay !

Những điều vừa được nói đây, rõ ràng

Các lậu-hoặc liên quan phiền não

Sanh khởi hậu hữu đáng sợ thay !

Đưa quả khổ dị thục ngay,

Hướng đến già, chết tương lai như vầy

Được Như Lai đoạn trừ, trốc rễ

Ví như thể thân cây Sa-la

Bị cắt tận gốc rễ, và

Không thể sanh khởi, trải qua chết dần .

Hoặc như phần ngọn cây vừa kể

Bị chặt đứt, không thể lớn thêm .

Này các ông ! Đoạn diệt êm

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh NALAKAPÀNA               MLH –  484

 

Lậu-hoặc liên hệ ngày đêm não phiền,

Được Như Lai diệt liền tận rễ

Nó không thể sanh khởi tương lai .

Do vậy, sau khi Như Lai

Suy tư, phân tích, pháp nay thọ dùng.

Sau khi dùng phân tich, nghĩ ngợi

Nhẫn thọ với một pháp ở đây,

Rồi từ bỏ, đoạn trừ ngay

Một pháp, khi đã giải bày, suy tư .

Vậy theo như các ông nghĩ đó

Do thấy rõ mục đích thế nào

Ta giải thích tái sanh vào

Của các đệ tử khi sau từ trần ,

Mà nói rằng : ‘ Vị này sinh lại

Ở chỗ kia , vị ấy chỗ này ”.

– “ Bạch Phật ! Với chúng con đây

Y pháp, nương tựa bậc Thầy Thế Tôn,

Hướng Thế Tôn, Ngài là lãnh đạo

Các Pháp-bảo căn bản dựa Ngài .

Bạch Thế Tôn ! Tốt lành thay !

Nếu được Ngài giảng ý này rõ ra ,

Sau khi nghe Phật Đà giảng giải

Các Tỷ Kheo theo vậy thọ trì ”.

– “ Này các ông ! Phải nhớ ghi :

Như Lai thuyết giáo không vì lợi riêng,

Không hề chuyên gạt lừa quần chúng,

Không sử dụng nịnh hót lấy lòng,

Mục đích tài lộc cũng không,

Không vì trọng vọng, chẳng mong lợi quyền .

Không phan duyên theo ý nghĩ quấy :

‘ Làm như vậy, quần chúng biết ta ’.

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh NALAKAPÀNA               MLH –  485

 

Nên Như Lai giải thích ra

Tái sinh đệ tử đã qua từ trần,

Mà nói rằng : ‘ Vị này sinh lại

Ở chỗ kia , vị ấy chỗ này ”.

Có những Thiện-nam-tử đây

Tín thọ cao thượng do đầy lòng tin

Với hoan hỷ thật tình cao thượng

Sau  khi nghe, sẽ hướng tâm qua

Sự ‘như thật’ – Ta-tha-ta .

Này các A-Nú-Rút-Tha ! Như vầy

Là hạnh phúc và đầy an lạc,

Hưởng lâu đời cho các vị này .

 

*  Các A-Na-Luật ! Ở đây

Tỷ Kheo nghe nói một thầy Tỷ Kheo

Đã mệnh chung, tên nêu như thế .

Đấng Thiện Thệ tuyên bố : “ Vị đây

An trú Chánh Trí sâu dày ”.

Khi nghe về Tôn-giả này như sau :

‘ Có giới hạnh thanh cao như vậy,

Có trí tuệ như vậy, rỡ ràng

Có pháp như vậy, minh quang

An trú & giải thoát nghiêm trang như vầy,

Tỷ Kheo này mỗi khi nhớ tới

Lòng tin tưởng, hạnh giới chánh chân,

Bố thí, trí tuệ, đa văn,

Của vị Tôn-giả, thì hằng chú tâm

Trên ‘như thật’, và thầm cảm thụ

Tỷ Kheo sống lạc trú trải qua .

 

*  Này các A-Nú-Rút-Tha !

Vị Tỷ Kheo có nghe qua như vầy :

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh NALAKAPÀNA               MLH –  486

‘Một Tỷ Kheo mới đây đã mất

Có tên thật được biết rõ ràng .

Phật nói về vị này rằng :

“ Diệt kiết sử năm hạ phần đích danh,

Vị ấy đã hóa sanh, nhập diệt,

Không có việc trở lại đời này ”.

*  Lại có Tỷ Kheo ở đây

Mệnh chung, được đức Như Lai nói là :

“ Sau khi đã diệt ba kiết sử,

Sau khi tự làm nhẹ bớt đi

Cả ba độc : Tham, sân, si,

Chứng Nhất Lai, phải trải đi một lần

Sinh trở lại cõi trần, tu tiếp

Rồi mãn nghiệp, diệt tận khổ đau ”.

*  Lại nữa, vị Tỷ Kheo nào

Mệnh chung, Phật dạy với câu nói là :

“ Sau khi đã diệt ba kiết sử,

Quả Dư Lưu đã tự chứng vào

( Cũng gọi Thất Lai thanh cao )

Bảy lần vị ấy sinh vào thế gian,

Không còn nữa con đàng đọa lạc,

Chắc chắn chứng Chánh Giác sau này ”.

Khi Chúng Tỷ Kheo ở đây

Được nghe các Tôn-giả này như sau :

‘ Có giới hạnh thanh cao như vậy,

Có trí tuệ như vậy, rỡ ràng

Có pháp như vậy, minh quang

An trú & giải thoát nghiêm trang như vầy,

Chúng Tỷ Kheo mỗi khi nhớ tới

Lòng tin tưởng, hạnh giới chánh chân,

Bố thí, trí tuệ, đa văn,

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh NALAKAPÀNA               MLH –  487

Của các Tôn-giả, thì hằng chú tâm

Trên ‘như thật’, và thầm cảm thụ

Chúng Tỷ Kheo lạc trú trải qua .

 

*  Này các A-Nậu-Lâu-Đà !

Về phần Ni Chúng tịnh, hòa – cũng y .

Khi có Tỷ Kheo Ni nào mất

Được Đức Phật tuyên bố đặc thù :

“ Vị ấy đã chứng an như

Bốn tầng Thánh quả - từ Tu-Đà-Hoàn,

Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm quả,

A-La-Hán - bậc đã Vô Sanh ”.

 

Đức Phật tuyên bố đành rành .

Tỷ Kheo Ni đó phong thanh nghe là :

‘ Tôn Ni giới hạnh bà như vậy,

Có trí tuệ như vậy, rỡ ràng

Có pháp như vậy, minh quang

An trú & giải thoát nghiêm trang như vầy,

Chúng Ni này mỗi khi nhớ tới

Lòng tin tưởng, hạnh giới chánh chân,

Bố thí, trí tuệ, đa văn,

Của Tôn Ni ấy, thì hằng chú tâm

Trên ‘như thật’, và thầm cảm thụ

Chúng Ni ấy lạc trú trải qua .

 

*  Này các A-Nú-Rút-Tha !

Cũng vậy, đối với Nam và Nữ nhân

Là Cư Sĩ – mãn phần, quá cố

Phật cũng có tuyên bố lên rằng :

“ Một số Cư Sĩ tinh cần,

Chuyên tu, cũng chứng như Tăng, Ni vầy ”.

Chính điều này, Nữ, Nam Cư Sĩ

Trung Bộ (Tập 2)    Kinh NALAKAPÀNA               MLH –  488

 

Nhớ những vị tín, giới chánh chân,

Bố thí, trí tuệ, đa văn .

Chú tâm trên ‘như thật’ –  hằng trú an .

 

Và như vậy, bốn hàng đệ tử

Cũng được dự bậc Thánh uy nghi .

Này các ông ! Phải nhớ ghi :

Như Lai thuyết giáo không vì lợi riêng,

Không hề chuyên gạt lừa quần chúng,

Không sử dụng nịnh hót lấy lòng,

Mục đích tài lộc cũng không,

Không vì trọng vọng, chẳng mong lợi quyền .

Không phan duyên theo ý nghĩ quấy :

‘ Làm như vậy, quần chúng biết ta ’.

Nên Như Lai giải thích ra

Tái sinh đệ tử đã qua từ trần,

Mà nói rằng : ‘ Vị này sinh lại

Ở chỗ kia , vị ấy chỗ này ”.

 

Có những Thiện-nam-tử đây

Tín thọ cao thượng do đầy lòng tin

Với hoan hỷ thật tình cao thượng

Sau  khi nghe, sẽ hướng tâm qua

Sự ‘như thật’ – Ta-tha-ta .

 

Này các A-Nú-Rút-Tha ! Như vầy

Là hạnh phúc và đầy an lạc,

Hưởng lâu đời cho các vị này ”.

Thế Tôn thuyết giảng như vầy

Chúng Tăng tín thọ , lời Ngài khâm tuân .

 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật  (3L )

*   *   *

(  Chấm dứt  Kinh số 68: Kinh NALAKAPÀNA   Sutta )

69. Kinh GULISÀNI

( Gulisàni  sutta )

Như vậy, tôi nghe :

Một thời, Đức Thế Tôn Giác Giả

Trú Vương Xá – Rá-Chá-Ga-Ha  (1)

Trúc Lâm – Vê-Lú-Va-Na  (1)

( Được dâng cúng bởi Tần-Bà-Sa-La )

Ka-Lanh-Đa-Ka-Ni-Va-Pá  (1)

( Chỗ vốn đã nuôi sóc thường kỳ ).

 

Lúc ấy, Gu-Lí-Sa-Ni  (2)

Là một Phích-Khú (3) tu trì tại nơi

Vùng rừng núi, tánh thời lỗ mãng

Hảnh động dạng thô tháo, lỗi lầm,

Đến gặp Tăng Chúng Trúc Lâm .

 

Tại đây, Tôn-giả thâm trầm uy nghi

Xá-Lợi-Phất – nhân vì vị ấy

Đã khuyên dạy Tăng Chúng nơi đây :

 

– “ Chư Hiền ! Vị Tỷ Kheo này

Sống quen rừng núi, nhưng nay trú cùng

Với Chúng Tăng – phải dùng pháp kính

Phải tôn trọng, cung kính tỏ bày

Với đồng-Phạm-hạnh các ngài .

 

Nếu Tỷ Kheo nọ sống ngay núi rừng

Đến giữa Tăng, không từng trọng thị,

Không cung kính các vị đáng tôn .

___________________________

 ( ) : Xem chú thích ở Kinh số 58 : Vương Tử Vô Úy , trang 92 .

(2) : Tỷ Kheo tên Gulisàni .

(3) : Bhikkhu  – Tỳ-Khưu hay Tỷ Kheo .

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh GULISÀNI                  MLH –  490

 

Thời có người sẽ nói dồn :

“ Tốt lành gì với vị Tôn-giả này !

Quen sống ở rừng dày núi thẳm

Sống một mình với lắm tật riêng,

Làm theo sở thích, chẳng kiêng

Chẳng biết cung kính, mối giềng tôn ty

Với các vì là đồng-phạm-hạnh ”.

 

Nếu Tỷ Kheo sống lánh núi rừng,

Đến giữa Tăng để trú cùng,

Phải biết cung kính, phục tùng Chúng Tăng .

Tỷ Kheo hằng sống nơi rừng rú

Nay đến trú giữa Chúng Tăng, thời

Phải khéo léo về chỗ ngồi .

Nghĩ rằng : ‘Ta sẽ không ngồi trái ngang

Để chiếm chỗ các hàng Thượng Tọa,

Không chiếm cả chỗ niên-thiếu Tăng’.

 

Sơn Tăng đến trú giữa Tăng

Nếu mà không khéo xử phân chỗ ngồi

Thì sẽ có những lời chỉ trích :

“ Chỉ làm theo sở thích của mình,

Không biết ‘như pháp’ thực hành ”.

Do vậy, vị sống rừng xanh xa vời

Về chỗ ngồi phải biết khéo xử

Khi đến trú giữa Chúng Tăng đây .

 

Chư Hiền ! Vị sơn tăng này

Đến trú giữa Chúng Tăng đầy Luật nghiêm :

–  Không nên tìm vào làng sớm quá,

Và trở về khi đã xế trưa .

–  Không biết gia chủ ăn chưa

Không nên đến lúc họ vừa mới ăn,

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh GULISÀNI                  MLH –  491

Hay trước lúc bữa ăn của họ .

Vì sẽ có chỉ trích không chừng :

‘ Vị này quen sống núi rừng,

Thời giờ phí phạm, không ngừng đi rong ’.

 

Vị Tỷ Kheo sống nơi rừng rú

Nay đến trú giữa Chúng Tăng, thời :

–  Không nói tạp nhạp, nhiều lời .

 

–  Là người thiện-hữu, là người dễ nghe

( Người dễ bảo và nghe lời thiện,

Sống hòa hợp, thuộc diện bạn lành )

Cần phải thủ hộ các căn,

Tiết độ trong sự uống ăn của mình,

 Cần giữ gìn, chú tâm cảnh giác .

Phải tinh tấn, không nhác lười thây ,

 Chánh niệm tỉnh giác đêm ngày,

Phải có Thiền định sâu dày công phu .

 

–  Phải siêng tu, phải có trí tuệ .

–  Pháp thực tế A-Phí-Đam-Ma  (1)

( Thắng Pháp Vi Diệu cũng là )

Cùng A-Phi-Ví-Na-Da  (2)  hai điều,

Là Thắng Luật - Phải đều thực tập .

Để nếu gặp ai hỏi, trả lời .

 

–  Tịch tịnh giải thoát pháp, thời

Cần phải thực tập . Vượt rời khỏi xa

Sắc pháp và các vô sắc pháp .

Nếu ai hỏi sẽ đáp từng phần .

_________________________

( ) : Abhidhamma  – Vi Diệu Pháp hay Thắng Pháp .

(2) : Abhivinaya  – Thắng Luật  .

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh GULISÀNI                  MLH –  492

–  Phải thực tập các pháp cần

Tịch tịnh giải thoát chánh chân, đó là

Sanh-Ta-Vi-Mô-Kha (1) thiện pháp,

Vượt Sắc & Vô-sắc-pháp các phần .

 

–  Thực tập các pháp thượng nhân .

Chư Hiền ! Phích-Khú cô thân độc hành,

Sống tu hành núi non, rừng rú

Đã đến trú giữa Chúng Tăng vầy,

Khi được hỏi những pháp này

Nếu không đáp được, có ngay phê bình :

“ Tỷ Kheo này một mình đã sống

Chốn núi rừng , hành động buông lơi,

Lại nói tạp nhạp, nhiều lời

Là người ác-hữu , là người khó nghe,

Cũng không hề các căn thủ hộ,

Không tiết độ trong sự uống ăn,

Chú tâm tỉnh giác không hằng,

Không có tinh tấn, bản thân biếng lười,

Không chánh niệm, không thời Thiền định,

Không trí tuệ , tịch tịnh cũng xa .

Thắng Pháp – A-Phí-Đam-Ma

Và Thắng Luật , không trải qua thực hành .

Giải thoát pháp an lành tịch tịnh (1)

Vượt khỏi chính Sắc-pháp, cùng là

Các vô-sắc-pháp lánh xa .

Các thượng-nhân-pháp phải qua thực hành ”.

 

Nghe Tôn-giả đành rành giảng giải,

Vị Tôn-giả Mốc-Gá-La-Na

_______________________________

(1) : Santavimokha – Pháp tịch tịnh giải thoát .

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh GULISÀNI                  MLH –  493

Hỏi ngài Sa-Ri-Pút-Ta :

– “ Hiền-giả ! Các pháp vừa qua trình bày

Cần phải chấp trì ngay, thực hiện

Chỉ phương tiện cho các Tỷ Kheo

Sống ở rừng núi đèo heo,

Hay cho tất cả Tỷ Kheo sống gần

Các thôn làng hay gần thành thị ? ”.

 

– “ Này Hiền-giả ! Không chỉ dành riêng

Các vị ở núi, lâm tuyền

Cần chấp trì, thực tập chuyên chú đều,

Mà cho cả Tỷ Kheo các vị

Gần thôn làng, thành thị hành trì ”.

 

Duyên do Gu-Lí-Sa-Ni

Ngài Xá-Lợi-Phất thuyết vi pháp này .

 Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật  (3L )

 (  Chấm dứt  Kinh số 69  :   Kinh  GULISÀNI  Sutta  )

70. Kinh KÌTÀGIRI

( Kìtàgiri sutta )

Như vậy, tôi nghe :

 

Một thời nọ, đấng Vô Thượng Sĩ  (1)

Du hành ở Ka-Sí  (2)  kinh kỳ

( Tức thành Ba-Rá-Na-Si ,

Hay Ba-La-Nại , một thì đông dân )

Cùng Chúng Tỷ Kheo Tăng an trú .

Tại đây, đức Điều Ngự (1) dạy rằng :

 

– “ Như vầy, này Tỷ Kheo Tăng !

Như Lai (3) từ bỏ việc ăn ban chiều

Bỏ ăn đêm . Do điều như vậy

Ta cảm thấy ít bệnh, nhẹ nhàng,

Có sức lực và trú an .

Này Tăng Chúng ! Hãy sẵn sàng từ ly

Việc ăn đêm , ăn phi-thời-thực,

Sẽ lập tức ít bệnh, khinh an,

______________________________

 

(1) : Một trong mười danh hiệu người đời xưng tụng Đức Phật :Araham (Ứng Cúng), Sammàsambuddho (Chánh Biến Tri hay Chánh Đẳng Chánh Giác) , Vijjàcaranasampanno (Minh Hạnh Túc) , Sugato (Thiện Thệ), Lokavidù (Thế Gian Giải), Anuttaro (Vô Thượng Sĩ ), Purisadammasàrathi (Điều Ngự Trượng Phu), Satthàdevamanussànam (Thiên Nhân Sư), Buddha  (Phật-Đà), Bhagavà (Thế Tôn) .

(2) : Kasi  tức là Vàrànasì , còn gọi Benares hay Banaras –Ba-La- Nại , thuộc Bang Ultar Pradesh Ấn Độ , Nơi có thánh địa  của Phật-giáo là Vườn Lộc Uyển ( Sarnath ) nơi Đức Phật chuyển Pháp Luân  ( thuyết bài Pháp đầu tiên : Tứ Diệu Đế ).

(3) : Tathàgata  – Như Lai  . Chiết tự của Tathàgata : Tathà + àgata ; có thể được hiểu là :”Người đã đến như thế”. Là  từ tự xưng của Đức Phật một cách khiêm tốn .

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                  MLH –  496

 Có sức khỏe và trú an ”.

 – “ Thưa vâng, bạch Phật, bậc toàn Trí Bi !

 

Các Tỷ Kheo tức thì vâng đáp .

Rồi Đại Giác tiếp tục du hành

Đến một thị trấn an lành

Ki-Ta-Gí-Rí , thuộc thành Ka-Si .

 

Lúc ấy, Át-Sa-Chi Phích-Khú  (1)

Cùng Pu-Náp-Bá-Sú-Ka (2), thì

Đang ở Ki-Ta-Gí-Ri (3).

Số đông Phích-Khú liền đi đến liền

Chỗ hai vị có tên vừa kể

Bảo : “ Chư Hiền ! Thiện Thệ Phật Đà

Ngài vừa mới tuyên bố ra :

‘ Không phi-thời-thực cùng là ăn đêm.

Thực hành vậy, có thêm sức lực

Và quả thực ít bệnh, khinh an ’.

Điều đó lợi ích rõ ràng,

Chư Hiền thực hiện, sẽ mang lợi nhiều ”.

 

Vị Tỷ Kheo Át-Sa-Chí đáp

Thay Pu-Náp-Bá-Sú-Ka, rằng :

 

– “ Chư Hiền ! Chúng tôi thường ăn

Ban đêm, buổi sáng và ăn phi thời .

Do ăn vậy, chúng tôi cảm thấy

Có sức khỏe mà lại khinh an,

Ít bệnh hoạn và trú an .

Sao chúng tôi lại bất toàn tương lai,

Mà bỏ ngay việc làm hiện tại ?

_____________________________

 (1) : Assaji  Bhikkhu : Tỷ Kheo Assaji .

(2) : Punabbasuka .    (3) : Thị trấn  Kìtàgiri  của xứ Kasi .

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  497

 

( Chúng tôi không muốn cãi vả nhiều,

Nhưng chúng tôi vẫn giữ điều

Ăn phi-thời-thực, sáng, chiều, ăn đêm ”.

 

Vì các Tỷ Kheo trên không thể

Làm hai vị đã kể, đó là :

Tỷ Kheo Át-Sa-Chí , và

Sư Pu-Náp-Bá-Su-Ka  chuyển dời,

Nên các vị đến nơi Đức Phật,

Đảnh lễ Phật, ngồi xuống một bên,

Rồi các Tỷ Kheo thưa lên

Với đức Đại Giác việc trên tỏ tường .

 

Nghe xong, đấng Pháp Vương liền gọi

Một Tỷ Kheo và nói như vầy :

 

– “Ông hãy nhân danh Như Lai

Đi ngay đến bảo cả hai vị là

Tỷ Kheo Pu-Náp-Ba-Sú-Ká

Và Át-Sá-Chí Tỷ Kheo này

Là Đạo Sư gọi đến đây ”.

 

– “ Bạch Phật ! Con sẽ đi ngay tức thì ”.

 

Lời Phật dạy những gì, nói lại,

Hai vị ấy lập tức đi qua

Đến gặp, đảnh lễ Phật Đà,

Một bên ngồi xuống, tỏ ra nhu hòa .

Đức Phật Đà hỏi ngay hai vị :

 

– “Át-Sa-Chí ! Chuyện có thật chăng ?

Một số đông Tỷ Kheo Tăng

Đến chỗ ông ở, ân cần nói ra

Điều mà Ta huấn dụ Tăng Chúng :

‘ Không thọ dụng bữa ăn phi thời,

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  498

 Từ bỏ ăn lúc tối trời.

Không ăn chiều nữa – thì người khỏe ra,

Nhẹ nhàng, trú an và ít bệnh ’.

Nhưng những lời thân mến trình bày

Của những vị Tỷ Kheo này

Hai ông từ khước, giữ rày ý riêng,

Vẫn giữ nguyên ăn chiều, ăn tối,

Không chấp hành điều giới, phải không ? ”.

– “ Thưa vâng, bạch đức Thế Tôn ! ”.

– “ Này hai Phích-Khú ! Các ông có tường

Pháp Ta thường đinh ninh dạy đó :

‘ Một cá nhân cảm thọ bất kỳ

Cảm giác lạc hay khổ chi

Hoặc bất lạc bất khổ , thì có ngay

Với người này, các pháp bất thiện

Được đoạn diệt . Các thiện pháp nào

Sẽ được sự tăng trưởng mau ? ”.

– “ Thưa không, bạch đấng thanh cao Phật Đà ! ”.

 

– “ Các Tỷ Kheo ! Trải qua tu tập

Có hiểu Ta đề cập mọi thời :

*  Ở đây, đối với một người

Cảm thọ lạc thọ , tức thời tăng nhanh

Bất thiện pháp chẳng lành như vậy ,

Các thiện pháp ở đấy diệt đi .

 

*  Còn với người khác hành trì

Cảm thọ lạc thọ, tức thì diệt tiêu

Bất thiện pháp mọi điều lập tức ,

Các thiện pháp thì được tăng gia .

 

*  Với một người khác trải qua

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  499

Cảm thọ khổ thọ , vậy là tăng nhanh

Bất thiện pháp chẳng lành các pháp ,

Các thiện pháp thì bị diệt đi .

 

*  Với một người khác hành trì,

Cảm thọ khổ thọ , tức thì diệt tiêu

Bất thiện pháp mọi điều lập tức,

Các thiện pháp thì được tăng gia .

 

*  Đối với một người trải qua

Cảm thọ bất lạc & khổ , đà diệt tiêu

Các thiện pháp mọi điều lập tức,

Bất thiện pháp thì được tăng nhanh .

 

*  Với một người khác thực hành

Cảm thọ bất lạc & khổ , dành diệt tiêu

Bất thiện pháp mọi điều lập tức ,

Các thiện pháp thì được tăng cao .

 

Các ông hiểu đó thế nào ? ”.

– “ Bạch Phật ! Đệ tử điều này hiểu thông  ”.

– “ Lành thay ! Này các ông  ! Nếu việc

Ta không biết, giác, thấy, chứng phần,

Không liễu giải với trí rằng :

‘ Cảm thọ lạc thọ với nhân vật nào

Bất thiện pháp tăng cao, sung mãn ,

Các thiện pháp bị đoạn diệt ngay ’.

Nếu Ta không biết như vầy,

Mà Ta lại nói điều này khư khư :

‘ Hãy diệt trừ lạc thọ như vậy ’.

Và điều ấy xứng với Ta không ? ”.

 

– “ Thưa không , bạch đức Thế Tôn ! ”.

 

– “ Này các Phích-Khú ! Vì trong việc này

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  500

Ta thấy, biết . Ta đây giác, chứng,

Liễu giải chúng với trí tuệ rằng :

‘ Đối với một người thực hành

Cảm thọ lạc thọ, thì nhanh khiến là

Các thiện pháp trải qua tiêu hoại

Bất thiện pháp tăng mãi, dẫy đầy ’.

Do vậy, Ta đã nói ngay :

“ Hãy trừ lạc thọ nếu rày xảy ra ”.

 

Các Tỷ Kheo ! Nếu Ta không thấy,

Không giác, chứng, liễu giải rõ ràng

Với trí tuệ để hiểu rằng :

‘ Cảm thọ lạc thọ của nhân vật nào

Các thiện pháp tăng cao, sung mãn,

Bất thiện pháp bị đoạn diệt ngay ’.

Có thể nào Ta nói vầy :

‘ Hãy chứng, trú lạc thọ đây như vầy ’

Các Tỷ Kheo ! Điều này có xứng

Đối với Ta, tương ứng hay không ? ”.

 

– “ Thưa không ! Bạch đức Thế Tôn ! ”.

 

– “ Này Tỷ Kheo Chúng ! Vì trong việc này

Ta thấy, biết . Ta đây giác, chứng,

Liễu giải chúng với trí tuệ, về

Cảm thọ lạc thọ cận kề

Nên Ta mới nói vấn đề nêu trên :

‘ Hãy chứng và trú yên lạc thọ ’.

 

*  *  *

Cũng thế đó , cảm giác khổ, và

Cảm giác bất lạc & khổ ra

Ta cũng biết, thấy, chứng và giác tri

Liễu giải với diệu vi trí tuệ

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  501

 

Rằng : Được kể đối với một người

Cảm giác khổ thọ chơi vơi,

Hay bất khổ & lạc , thời có ra

- Bất thiện pháp tăng gia kinh dị,

Các thiện pháp thì bị diệt tiêu .

- Hoặc thiện pháp tăng trưởng nhiều

Các bất thiện pháp bị tiêu diệt liền .

Các Tỷ Kheo ! Nếu điều như vậy

Ta không biết, chứng, thấy, giác tri .

Không liễu giải với trí chi,

Mà nói : ‘ Hãy chứng, trú khi thọ vào

Bất khổ & lạc thọ nào như đó,

Điều ấy có xứng đáng Ta không ? ”.

 

– “ Thưa không ! Bạch đức Thế Tôn ! ”.

 

– “ Này các Phích Khú ! Nhưng trong việc này

Ta thấy, biết . Ta đây giác, chứng

Liễu giải chúng với trí tuệ rằng :

‘ Đối với một người thực hành

Cảm thọ khổ thọ cũng nhanh như là

Khi trải qua bất khổ & lạc thọ :

Các thiện pháp thì có tăng mau,

Các bất thiện pháp diệt mau .

Nên Ta phát biểu trong câu nói là :

‘ Hãy chứng và trú trong thọ đó,

Là bất khổ & lạc thọ như ri ’.

Các Tỷ Kheo ! Như Lai thì

Không nói tất cả những Tỳ Kheo nao

Có sự việc cần mau thực hiện

Nhờ tinh tiến không phóng dật gì,  &

Không có việc cần thực thi

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  502

Nhờ không phóng dật . Những Tỳ Kheo đây

Trong hành trình hướng ngay giải thoát

Tâm vị ấy an lạc, sáng trong

Dục-lậu, hữu-lậu thoát xong

Thoát vô-minh-lậu, khỏi vòng trái oan

Cả gánh nặng đã mang, đặt xuống

Đạt lý tưởng mong muốn hàng đầu

Tận trừ hữu-kiết-sử mau

Chánh trí giải thoát , trần lao thoát nàn !

 

Ta nói rằng : ‘ Với hàng Thánh đó

Không thể có phóng dật dính theo ’.

Ở đây, này các Tỷ Kheo !

Đối với ‘hữu học’ Tỷ Kheo tịnh lành,

Tâm chưa được tựu thành, đang hướng

Về cần cầu vô thượng bình an

Khỏi các triền ách trái ngang .

Với những vị ấy, nhờ đang tinh cần

Không phóng dật, việc cần làm đấy !

 

Vì sao vậy ? Cho dẫu trong khi

Các Tôn giả ấy mọi thì

Thọ dụng sàng tọa đúng y pháp rồi,

Thân cận nơi bạn lành các vị,

Chế ngự kỹ các căn chánh chân,

Các vị ấy cũng phải cần

Thượng trí chứng ngộ, nhờ nhân tự mình .

Trú an bình ngay trong hiện tại,

Tâm hướng lại vô thượng mục tiêu

Của Phạm-hạnh, hành sớm chiều .

Vì mục đích ấy nên điều xảy ra :

Các Thiện gia nam tử chân chánh

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  503

 

Đã xuất gia, Phạm-hạnh thực hành,

Ly gia, sống không gia đình

Do vậy, với những tịnh lành Tỷ Kheo

Vì thấy quả duyên theo của việc

Không phóng dật . Ta thiệt nói rằng :

‘ Có sự việc cần thực hành

Nhờ không phóng dật ’, sẵn dành vị đây .

 

Các Tỷ Kheo ! Có ngay bảy hạng

Người sống hướng giải thoát đời này .

Sao là bảy hạng người đây ?

‘Câu phần giải thoát’, như vầy đầu tiên,

‘Tuệ giải thoát’, bậc hiền ‘Thân chứng’,

Bậc ‘Kiến đáo’, và những bậc lành :

Bậc ‘Tín giải thoát’ tịnh thanh,

‘Tùy pháp hành’, ‘Tùy tín hành’ thanh cao .

 

*  Như thế nào ‘Câu phần giải thoát’ ?

Các Tỷ Kheo ! Có các hành nhân

Sau khi chứng đắc tự thân

Tịch tịnh giải thoát các phần trải qua

Vượt khỏi sắc pháp và vô sắc,

Thấy chân thật với trí tuệ rày,

Các lậu hoặc của vị này

Hoàn toàn được đoạn trừ ngay, như vầy

Gọi bậc này ‘Câu phần giải thoát’.

Các Tỷ Kheo ! Với các vị này

Nhờ không phóng dật đêm ngày

Không có sự việc cần ngay phải làm .

 

*  Thế nào là bậc ‘Tuệ giải thoát’ ?

Các Tỷ Kheo ! Mặt khác, có người

Sau khi không chứng đắc nơi

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  504

 

Tịch tịnh giải thoát, các thời trải qua

Nhưng vượt ra khỏi các sắc pháp

Và các vô sắc pháp đồng thời,

Khi với trí tuệ, thấy rồi

Đoạn trừ lậu-hoặc ở nơi vị này .

Lậu-hoặc đoạn trừ ngay như vậy,

‘Tuệ giải thoát’ vị ấy thuộc hàng .

Ta nói vị này hoàn toàn

Không có sự việc cần làm ở đây,

Nhờ vị này giữ không phóng dật,

Không thể thành phóng dật vị này .

 

*  Thế nào bậc ‘Thân chứng’ đây ?

Các Tỷ Kheo ! Sự việc này rõ phân :

Ai sau khi tự thân chứng đạt

Các tịch tịnh giải thoát an lành,

Sắc & vô sắc pháp vượt nhanh,

Thấy với trí tuệ tịnh thanh rõ ràng,

Các lậu-hoặc hoàn toàn trừ dứt,

Vị ấy thực ‘Thân chứng’ gọi vầy .

Đối với các Tỷ Kheo này

Nhờ không phóng dật . Ta đây nói rằng :

‘ Có việc cần phải làm nữa đấy ! ’

 

Vì sao vậy ? Cho dẫu trong khi

Các Tôn giả ấy mọi thì

Thọ dụng sàng tọa đúng y pháp rồi,

Thân cận nơi bạn lành các vị,

Chế ngự kỹ các căn chánh chân,

Các vị ấy cũng phải cần

Thượng trí chứng ngộ, nhờ nhân tự mình .

Trú an bình ngay trong hiện tại,

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  505

 

Tâm hướng lại vô thượng mục tiêu

Của Phạm-hạnh, hành sớm chiều .

Vì mục đích ấy nên điều xảy ra :

Các Thiện gia nam tử chân chánh

Đã xuất gia, Phạm-hạnh thực hành,

Ly gia, sống không gia đình

Do vậy, với những tịnh lành Tỷ Kheo

Vì thấy quả duyên theo của việc

Không phóng dật . Ta thiệt nói rằng :

‘ Có sự việc cần thực hành

Nhờ không phóng dật ’, sẵn dành vị đây .

 

Các Tỷ Kheo ! Ở đây có vị

*  Bậc ‘Kiến đáo’, nghĩa lý thế nào ?

Sau khi không chứng đắc vào

Tịch tịnh giải thoát, mặc dầu gắng qua .

Nhưng vượt ra khỏi các sắc pháp

Và các vô sắc pháp đồng thời,

Khi với trí tuệ, thấy rồi

Đoạn trừ lậu-hoặc ở nơi vị này .

Lậu-hoặc đoạn trừ ngay như vậy,

Gọi bậc ấy ‘Kiến đáo’ thanh cao .

 

*  Bậc ‘Tín giải thoát’ là sao ?

Ở đây, có các vị sau khi hành

Tự chứng đắc tịnh thanh giải thoát,

Vượt khỏi các sắc pháp trần lao,

Các vô sắc pháp vượt mau,

Thấy với trí tuệ thâm sâu rõ ràng,

Các lậu-hoặc hoàn toàn trừ mất,

Đối với Phật, tin tưởng sâu dày

Đả được xác định ở đây .

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  506

 

Sanh từ căn để như vầy trú an .

Các Tỷ Kheo ! Hoàn toàn tịnh lạc

Gọi bậc ‘Tín giải thoát’ vị này .

 

*  Thế nào ‘Tùy pháp hành’ đây ?

Có vị không chứng đắc ngay ngọn ngành

Các thiện lành tịch tịnh giải thoát,

Vượt sắc & vô sắc pháp đồng thời,

Sau khi thấy với trí rồi,

Nhưng các lậu-hoặc lôi thôi chưa trừ .

Và các pháp do Như Lai giảng

Chỉ giới hạn chấp nhận ít thôi,

Vừa với trí tuệ ít oi .

Dẫu cho vị ấy biết rồi ngũ căn :

Tín & tấn & niệm & định căn và tuệ ,

Và như thế, vị ấy gọi là

Người ‘Tùy pháp hành’ trải qua .

 

*  Thế nào ‘Tùy tín hành’ mà nêu đây ?

Các Tỷ Kheo ! Ở đây, vị khác

Tự thân không chứng đạt mối giềng

Tịch tịnh giải thoát, an nhiên .

Các sắc & vô sắc pháp liền vượt qua,

Sau khi đã thấy qua trí tuệ,

Các lậu-hoặc chưa thể đoạn trừ .

Nhưng có lòng tin khư khư

Và lòng kính mến với Như Lai nhiều,

Thời vị này những điều như thể

Tín & tấn & niệm & định & tuệ có ngay.

 

Này các Tỷ Kheo ! Vị này

‘Tùy tín hành’ đó . Ta đây nói rằng :

‘ Có việc cần phải làm nữa đấy ! ’

 Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  507

 

Vì sao vậy ? Cho dẫu trong khi

Các Tôn giả ấy mọi thì

Thọ dụng sàng tọa đúng y pháp rồi,

Thân cận nơi bạn lành các vị,

Chế ngự kỹ các căn chánh chân,

Các vị ấy cũng phải cần

Thượng trí chứng ngộ, nhờ nhân tự mình .

Trú an bình ngay trong hiện tại,

Tâm hướng lại vô thượng mục tiêu

Của Phạm-hạnh, hành sớm chiều .

Vì mục đích ấy nên điều xảy ra :

Các Thiện gia nam tử chân chánh

Đã xuất gia, Phạm-hạnh thực hành,

Ly gia, sống không gia đình

Do vậy, với những tịnh lành Tỷ Kheo

Vì thấy quả duyên theo của việc

Không phóng dật . Ta thiệt nói rằng :

‘ Có sự việc cần thực hành

Nhờ không phóng dật ’, sẵn dành vị đây .

 

Các Tỷ Kheo ! Như Lai không bảo

Trí tuệ hảo lập tức hoàn thành .

Nhưng trí tuệ được hoàn thành

Nhờ học, thực tập và hành khoan thư,

Cứ từ từ, từ từ như thế .

 

Thế nào là trí tuệ hoàn thành

Nhờ học, thực tập và hành

Từ từ, không vội cho nhanh, là gì ?

Các Tỷ Kheo ! Có vì tín-giả

Có lòng tin, và đã đến gần

Vị ấy kính lễ, khởi thân,

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  508

 

Sau khi kính lễ, ân cần lóng tai,

Để nghe pháp, rồi nay trì thọ,

Tiếp theo đó, vị ấy nghĩ suy

Ý nghĩa các pháp thọ trì,

Sau đó chấp thuận pháp tri hành này .

Sau khi các pháp đây chấp thuận

Thì ước muốn sanh khởi tức thì,

Vị ấy nỗ lực mọi thì,

Cân nhắc, tinh tấn . Rồi thì tự thân

Chứng được phần sự thật tối thượng

Với trí tuệ định hướng như vầy

Thể nhập sự thật ấy ngay

Nên vị ấy đã thấy ngay, rõ đều .

 

–  Nhưng này các Tỷ Kheo ! Có phải

Nếu không có như vậy lòng tin,

Không đến gần, chẳng nhiệt tình,

Không hề kính lễ , tự mình không nghe,

Không thọ trì pháp nghe trước đó,

Ý nghĩa pháp không có suy tư,

Thời sẽ có sự kiện như :

Không chấp thuận pháp, rồi từ việc đây

Không ước muốn, không rày nỗ lực,

Không chừng mực cân nhắc, tinh cần .

 

Này các Tỷ Kheo ! Hiểu chăng ?

Con đường phi đạo đã dần hiện ra,

Con đường tà các ông đi mãi,

Thật quá xa , nguy hại cho mình.

Những kẻ ngu do vô minh

Đi trệch khỏi Pháp & Luật minh quang này .

 

Các Tỷ Kheo ! Như vầy nói rõ :

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  509

 

Sự thuyết trình gồm có bốn phần :

( Bốn cú – Cha-Túp-Pa-Đăng )  (1)

Người trí nhờ có bốn nhân thuyết trình,

Không lâu, nhờ tuệ minh biết được

Ý nghĩa đó . Nhưng trước hết là

Ta giảng sự thuyết trình ra,

Và các ông sẽ nhờ Ta hiểu rành ”.

 

– “ Bạch Thế Tôn ! Pháp lành như thế

Con là ai, có thể biết rành ! ”.

 

– “ Các Tỷ Kheo ! Chuyện phát sanh

Đạo Sư một vị sống dành lợi riêng,

Quá trọng vọng bạc tiền, tài vật,

Người thừa tự tài vật, bạc tiền,

Dính mắc tài vật, bạc tiền

Thời có sự việc này liền trải qua

Không xảy ra mua may bán đắt :

 

‘ Chúng tôi thật làm việc như vầy,

Do vì chúng tôi như vầy,

Sẽ không làm việc như vầy ’, nói ra .

Huống chi là Như Lai , vốn dĩ

Là một vị luôn sống tịnh yên,

Không màng tài vật, bạc tiền,

Cũng không liên hệ lợi riêng, vật tài .

Các Tỷ Kheo ! Như Lai đơn cử :

Đối với một đệ tử tin sâu

Giáo pháp Đạo Sư thanh cao,

Thể nhập giáo pháp nhiệm mầu thanh tu .

Thì ‘tùy pháp’ – A-Nu-Đam-Má, (2)

_____________________

(1) : Catuppadam  – Bốn cú .   (2) : Tùy pháp  – Anudhamma .

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  509

 

Được khởi lên : “ Giác Giả Phật Đà

Là bậc Đạo Sư của ta,

Ta thì không biết , Phật Đà toàn tri ”.

Các Tỷ Kheo ! Một khi đưa tới

Một đệ tử đến với lòng tin

Giáo pháp Đạo Sư cao minh,

Thể nhập giáo pháp nhiệt tình an như

Thời giáo pháp Đạo Sư hưng thịnh,

Nhiều sinh lực, nhất định quang huy .

Các Tỷ Kheo ! Như vậy thì

Đối với đệ tử tin vì Đạo Sư,

Tin giáo pháp Đạo Sư chỉ dạy,

Thể nhập giáo pháp ấy sâu xa,

Thời ‘tùy pháp’ này xảy ra :

‘ Dầu chỉ còn có da và xương, gân,

Dầu thịt, máu trong thân khô thực,

Mong có tinh-tấn-lực, kiên trì

Để ta chứng đắc những gì

Ta chưa chứng đắc, tức thì chứng ngay,

Nhờ đủ đầy trượng phu kham nhẫn,

Tinh tấn lẫn cần dõng trượng phu ’.

Những vị đệ tử siêng tu

Tin giáo pháp bậc Đạo Sư nhiệm mầu,

Thể nhập vào giáo pháp lành ấy,

Thời vị đấy sẽ chứng đắc vào

Một trong hai quả như sau :

Chánh Trí ngay hiện tại mau cấp kỳ,

Hoặc nếu có dư y, chứng quả

A-Na-Hàm hay quả Bất Hoàn ”. (1)

___________________________

 

(1) :  A-Na-Hàm ( Anàgàmi ): Bất Hoàn hay Bất Lai quả .

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  511

Nghe Phật thuyết giảng rõ ràng,

Chúng Tăng tín thọ lời vàng , hân hoan .

 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật  (3L )

(  Chấm dứt  Kinh số 70  :  KÌTÀGIRI  Sutta  )

 _________________________________________________

 “ Ye dhammà hetuppabhavà

Tesam hetum Tathàgato

Àha tesan ca yo nirodho

Evam vàdì Mahà Samano ”.

 

“ Vạn pháp tùng duyên sinh

Diệc tùng nhân duyên diệt

Ngã Phật Đại Sa Môn

Thường tác như thị thuyết ”.

 

‘ Vạn pháp theo nhân duyên sinh ’

‘ Theo nhân duyên diệt’ – đinh ninh điều này.

Bậc Đại Sa Môn Như Lai

Thường dạy như vậy ; chính Thầy của tôi .

 * Chú thích xuất xứ bài kệ này :

 

Bài kệ do Tôn-giả Thánh Tăng A-La-Hán ASAJI  (A-Xà-

Chí ), vị trẻ tuổi nhất trong năm vị nhóm Kiều-Trần-Như ,

Trung Bộ (Tập 2 )      Kinh KÌTÀGIRI                 MLH –  512

bạn đồng tu và cũng là năm Đệ tử đầu tiên của Đức Phật

đọc lên cho Ngài Xá-Lợi-Phất khi được hỏi trong lúc Tôn

giả đang thường lệ khất thực tại Thành Vương Xá .

 

Nguyên thời bấy giờ , Ngài Xá-Lợi-Phất ( Sariputta )

cùng với người bạn thân Mục-Kiền-Liên ( Moggallana )

là hai  thanh niên Bà-La-Môn rất nổi tiếng đương thời vì

sức học uyên thâm, tinh thông Tam Vệ-Đà .Nhưng cả hai

vẫn chưa thỏa mãn với những gì Tam Vệ-Đà  chuyển  tải ,

nên ước hẹn với nhau: Ai tìm được vị Đạo Sư khả kính có

thể giải hết những nghi ngờ trong các học thuyết cổ kim ,

thì phải báo với người kia để cùng qui ngưỡng tu tập .

 

Khi lần đầu tiên thấy vị Sa-Môn nghiêm tịnh, thần thái

an nhiên tự tại đang thứ đệ khất thực tại Thành Vương-Xá

Ngài Xá-Lợi-Phất bỗng sinh lòng kính mộ, muốn thưa hỏi

về đường lối tu hành của Tôn-giả, nhưng tôn trọng vì Tôn

giả đang khất thực , nên Ngài cung kính đi theo sau . Khi

thấy vật thực đã đủ , Tôn-giả Asaji tìm một gốc cây, ngồi

xuống thọ thực. Sau khi dùng xong, Ngài Xá-Lợi-Phất đã

thi lễ và đặt câu hỏi với Tôn-giả : Ai là Thầy của Ngài,và

vị ấy đã dạy như thế nào ?

 

Tôn-giả  Asaji  đã đọc lên bài kệ  cô đọng và hàm súc

ấy . Vừa nghe xong, Ngài Xá-Lợi-Phất  vô cùng  hoan hỷ

hoát nhiên đại ngộ . Ngài cáo từ  sau khi  hỏi nơi  trụ xứ

của Đức Phật , rồi vội vàng đi tìm Ngài Mục Kiền Liên ,

đọc lại nguyên văn bài kệ ấy . Ngài  Mục-Kiền-Liên  khi

nghe xong, lập tức đắc Tu-đà-hoàn quả . Cả hai cùng đi

đến Trúc Lâm Tinh-Xá ( Veluvanavihàra ) đảnh lễ  Phật

và cầu xin xuất gia trong Giáo Pháp của Đấng Thế Tôn.

 

Sau khi cả hai lần lượt đắc Thánh quả  A-La-Hán ,

Đức Phật tuyên bố hai Ngài là Hai Đại Đệ Tử của Phật :

Ngài Xá-Lợi-Phất là Đại Đệ Tử tay mặt -Đệ nhất Trí Tuệ

và Ngài Mục-Kiền-Liên là Đại Đệ Tử tay trái  -  Đệ nhất Thần Thông .

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập