Ðọc "Kinh Bốn Mươi Hai Bài"

Đã đọc: 4643           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Kinh điển Phật giáo, như ai cũng biết, vô cùng rộng, vô cùng sâu. Trong biển kinh tạng mênh mông đó, làm sao rút ra 42 lời huấn dụ, vừa ngắn, gọn, dễ hiểu, vừa chứa đựng tinh túy của giáo lý? Chuyện khó đầu tiên của mọi việc trích tuyển là lựa chọn. Ở đây, sự lựa chọn không phải chỉ khó vì kinh điển mênh mông, mà còn khó vì trường phái trăm hoa đua nở.

Phật Học trân trọng giới thiệu với quý độc giả, tác giả ông Cao Huy Thuần là Giáo sư giảng dạy ở một Ðại Học Ðường Paris, đọc qua bài nầy quý độc giả sẽ thấy Giáo sư thâm hiểu giáo lý đạo Phật, hành văn giản dị, trong sáng, Phật Học tin tưởng rằng sẽ được Giáo sư ưu ái dành cho những bài viết giá trị khác.

Ban Biên Tập Nguyệt san Phật Học, Kentucky, USA
tháng 12-1999


Quyển " Kinh Bốn Mươi Hai Bài " do Hòa thượng Trí Quang dịch và chú giải (1). Hòa thượng Thiện Siêu cũng đã dịch kinh này từ năm 1959, nhưng ở xa, tôi không có bản dịch của Hòa thượng Thiện Siêu.

Kinh " Kinh Bốn Mươi Hai Bài " là dịch từ chữ Hán "Tứ Thập Nhị Chương kinh". Kinh này có nhiều bản chữ Hán. Bản lưu hành cho đến gần đây, theo sự ước đoán của Hòa thượng Trí Quang, căn cứ trên văn ngữ và văn phong, chắc ra đời sớm nhất vào khoảng đầu Tống. Hòa thượng tìm ra được bản xưa hơn, có lẽ là xưa nhất, mà Hòa thượng ước đoán đã có mặt từ thời hậu Hán hoặc Tam Quốc. So sánh hai văn bản, Hòa thượng rút ra nhiều nhận xét lý thú. Tôi học theo Hòa thượng để triển khai ba vấn đề mà tôi sẽ trình bày:

  1. Nội dung rất nguyên thủy của "Kinh Bốn Mươi Hai Bài ";
  2. Vài nét đại thừa trong văn bản xưa;
  3. Những thêm thắt của ngữ ngôn Thiền trong bản mới.

I . Nội dung rất "Nguyên thủy"

"Kinh Bốn Mươi Hai Bài", như tôi vừa nói, được Trung Quốc dịch rất sớm, thời Hậu Hán. Có nơi còn ghi rằng "Kinh Bốn Mươi Hai Bài" là kinh đầu tiên ở Trung Hoa. Ðây là bốn mươi hai bài kinh ngắn, rất ngắn, rút ra từ các kinh lớn, chủ yếu là để huấn dụ các vị xuất gia. Tuy vậy, giới tại gia đọc kinh vẫn thấy lợi ích, mỗi ngày đọc một bài thì thấy ngày đó thơm. Ðó là cảm giác của tôi.

Kinh điển Phật giáo, như ai cũng biết, vô cùng rộng, vô cùng sâu. Trong biển kinh tạng mênh mông đó, làm sao rút ra 42 lời huấn dụ, vừa ngắn, gọn, dễ hiểu, vừa chứa đựng tinh túy của giáo lý? Chuyện khó đầu tiên của mọi việc trích tuyển là lựa chọn. Ở đây, sự lựa chọn không phải chỉ khó vì kinh điển mênh mông, mà còn khó vì trường phái trăm hoa đua nở.

Người tuyển chọn đã lấy một quyết định rõ rệt: Nhìn cây từ gốc, và gốc đó hiển nhiên là lý thuyết tứ diệu đế. Tứ diệu đế xuyên suốt quyển kinh, một cách nhất quán, từ đầu đến cuối.

Ngay từ bài đầu tiên:

"Phật nói, từ biệt cha mẹ, xuất gia hành đạo, nên gọi là Sa môn. Thường giữ 250 giới, làm theo tứ đế, bước tới thanh tịnh, thành A-la-hán."

Ngay từ câu đầu tiên, và chỉ một câu đó thôi, lý tưởng tu hành của nguyên thủy đã được xác nhận trong bốn từ ngữ: tứ đế, giới, bước tới, A-la-hán.

Tứ đế , ai cũng biết: khổ, tập, diệt, đạo (khổ, nguyên nhân của khổ, diệt khổ, con đường đưa đến diệt khổ).

Giới: Sự tu dưỡng. Giới thường đi với Ðịnh và Tuệ. Trong quyển kinh này, tôi không thấy nói tới Ðịnh và Tuệ một cách khẩn thiết, mà chỉ thấy nhấn mạnh dai dẳng đến Giới. Có thể vì đây là quyển kinh dành cho các vị xuất gia. Cũng có thể vì ảnh hưởng Phật giáo Nguyên thủy.

Bước tới: Tâm chí bước tới. Quyển kinh nhấn mạnh đến hạnh tinh tấn mà tôi sẽ nói nhiều sau đây.

A-la-hán: Ngay từ câu đầu, quyển kinh đã xác nhận rằng lý tưởng của người tu hành là A-la-hán, nghĩa là lý tưởng của Phật giáo nguyên thủy. Phật cũng chỉ là một A-la-hán. Ðây là điểm mà Ðại thừa bác, là đầu mối của sự phát triển lý thuyết Ðại thừa.

Từ bài 2 trở đi, hầu như tất cả đều nói tới Giới, nghĩa là con đường đưa đến diệt khổ. Chịu khó phân chia tỉ mỉ và gượng ép, tôi thấy các vấn đề sau đây được đề ra:

- Vô ngã: 1 bài
- Vô thường: 2 bài
- Thiện ác: 4 bài
- Sám hối: 1 bài
- Bố thí: 2 bài
- Tinh tấn: ít nhất cũng 7 bài.

Ðề mục được nói nhiều nhất, như chỉ luồn kim từ bài đầu đến bài cuối, là ái dục. Quyển kinh, vì vậy rất nhất quán. Ðây là một lời khuyến cáo, nhắn nhủ khẩn thiết và ân cần: Muốn tu hành được , muốn đắc đạo , phải bỏ ái dục tận gốc.

Tôi lựa chọn một số bài để đọc ra đây, lần lượt theo thứ tự các đề mục vừa trình bày ở trên.

1. Vô ngã: Trong bài 18, và chỉ một bài thôi.

"Phật nói, một cách chín chắn và thuần thục, hãy tự nghĩ nhớ, trong cơ thể, bốn đại đều có tên riêng, không có cái ngã ký sinh ở đó. Ký sinh ở đó đi nữa thì cũng không vĩnh cửu, sự việc chỉ như ảo thuật mà thôi ".

Tứ đại, hiểu một cách thông thường, là đất, nước, gió, lửa, bốn nguyên tố tạo thành cái mà tôi gọi là Tôi. Một trong bốn nguyên tố đó bất thần đình công thì cái mà tôi gọi là Tôi đó chẳng còn thấy đâu nữa. Như đi coi hát xiệc.

2. Vô thường: Ðược nói trong hai bài 16 và 37. Tôi chỉ đọc bài 16:

"Phật nói, nhìn trời đất hãy nhớ vô thường, nhìn núi sông hãy nhớ vô thường, nhìn vạn hữu hình thái phong phú hãy nhớ vô thường. Giữ tâm trí như vậy thì đắc đạo mau chóng".

Bài 37, không cần đọc, ai cũng biết. Phật hỏi một vị Sa môn: Sinh mạng con người tồn tại trong bao lâu. Vị đó nói: "Trong vài ngày", tưởng như vậy là thuộc bài, không ngờ bị Phật chê. Vị thứ hai , láu lỉnh hơn, hạ xuống còn "một bữa ăn". Phật chê. Vị thứ ba sáng tạo tài tình: Sinh mạng con người không dài hơn một hơi thở. Thở ra, rồi không thở vào nữa: Thế là xong một kiếp người! Phật khen: "Hay thay, ông đáng được gọi là người hành đạo".

Tôi nghĩ: Vấn đề không phải là nói cho hay, cho bóng bẩy, vấn đề là nói cho thật. "Vài ngày" là không thật. "Một bữa ăn" là không thật. Trong chúng ta đây, ai cũng lẫm liệt ba bốn mươi năm trở lên. "Một hơi thở" là thật, không có gì thật hơn. Nói "một bữa ăn" hay "vài ngày" là còn thấy cái khối xương thịt này quá to, còn thấy mình quá vĩ đại. Hãy thử đặt con người trong cái vũ trụ vô cùng, trong thời gian vô tận thì nó là cái gì nếu không phải chưa được là hạt bụi? Saint Exupery vẽ một hình ảnh dộc đáo: Ông cho chú bé hoàng tử của ông lạc bước trên một hành tinh, nơi đó chỉ có độc nhất một người ở, và người đó làm mỗi công việc duy nhất là thắp cây đèn duy nhất ngoài đường. Hành tinh xoay một cái là sáng, xoay một cái là tối, vừa sáng vừa tối, cho nên người thắp đèn vừa mới thắp đèn là đã phải tắt đèn, vừa mới tắt đèn là đã phải thắp đèn, thắp, tắt, tắt, thắp liên tục. Sinh mạng con người cũng chỉ thế thôi: Vừa thắp đã tắt.

3. Thiện ác: Ba bài liên tiếp: 3, 5, 6. Bài 3 nói đến mười sự ác, bỏ mười sự ác đó th&