Trang chủ Giáo dục Phật giáo và mục tiêu giáo dục công bằng xã hội trong kinh điển nguyên thủy

Phật giáo và mục tiêu giáo dục công bằng xã hội trong kinh điển nguyên thủy

Đã đọc: 3886           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Chính vai trò của đức Phật trong sự hình thành nền giáo dục Phật giáo và sự giáo dục của đó đã góp phần xây dựng xã hội công bằng trên phương diện ứng xử giữa cá nhân đối với các mối quan hệ gia đình và xã hội, sự công bằng trên phương diện bình đẳng giới, bình đẳng giai cấp, không kỳ thị xuất thân và tôn giáo, đặc biệt là áp dụng năm nguyên tắc đạo đức trong đời sống con người để xã hội càng tốt đẹp hơn.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Phật giáo được xem là một tôn giáo lớn của thế giới, có tầm ảnh hưởng nhất đối với xã hội loài người. Nhờ một hệ thống giáo lý trong Tam tạng kinh điển, mà nổi bậc là những tư tưởng về triết học; chính trị; văn hóa; xã hội; nghệ thuật, v.v… trên tất cả các lĩnh vực ấy thì giáo dục Phật giáo cũng là một lĩnh vực đóng góp không nhỏ. Một hệ thống giáo dục đa chiều không chỉ đứng trên khía cạnh tôn giáo mà còn bao trùm rất nhiều lĩnh vực trong cuộc sống của con người.

Giáo dục là một thiết chế xã hội, có chức năng cung cấp kiến thức và đào tạo một con người hoàn thiện về nhân cách; đạo đức cũng như lối sống chuẩn mực. Giáo dục con người chính là phát huy những điều thiện mà con người đã sẵn có và từ bỏ những điều bất thiện trong tâm thức. Giáo dục Phật giáo không chỉ xây dựng một con người thánh thiện, định hướng cho một xã hội mà còn hướng con người đến sự giải thoát khỏi sanh tử luân hồi trên tinh thần công bằng xã hội. Những điều này được thể hiện trong kinh điển Phật giáo Nguyên thủy. Vì thế người viết đã chọn đề tài: “Phật giáo và mục tiêu giáo dục công bằng xã hội trong kinh điển Nguyên thủy”. Chính vai trò của đức Phật trong sự hình thành nền giáo dục Phật giáo và sự giáo dục của đó đã góp phần xây dựng xã hội công bằng trên phương diện ứng xử giữa cá nhân đối với các mối quan hệ gia đình và xã hội, sự công bằng trên phương diện bình đẳng giới, bình đẳng giai cấp, không kỳ thị xuất thân và tôn giáo, đặc biệt là áp dụng năm nguyên tắc đạo đức trong đời sống con người để xã hội càng tốt đẹp hơn.

II. SỰ HÌNH THÀNH NỀN GIÁO DỤC PHẬT GIÁO

1. Vai trò của đức Phật trong bối cảnh lịch sử

Khi đức Phật chưa xuất hiện thì xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ đã có đến 96 ngoại đạo và 72 bàng môn[1], tuy nhiên trong Kinh Phạm Võng đã đưa ra luận thuyết của 62 ngoại đạo[2] lúc bấy giờ, dân chúng cả tin vì không am hiểu chân lý. Sự xuất hiện của đức Phật trong bối cảnh lịch sử như một nhà cách mạng cải cách về tư tưởng đã in sâu vào xã hội Ấn Độ bởi bộ luật Manu[3] và kinh điển Veda[4].

Xuất thân là một thái tử với tên gọi Siddhārtha Gotama thuộc bộ tộc Sakya, là con của vua Suddhodana và hoàng hậu Maya tại Kapilavastu, thuộc Nepan ngày nay. Vì nhận ra cảnh vô thường của sanh; già; bệnh; chết, ngài đã từ bỏ cuộc sống xa hoa; quyền lực cùng vợ đẹp; con ngoan để đi tìm chân lý. Với trí tuệ siêu việt từ sự chứng ngộ, ngài đã nhìn thấy sự khổ; nguyên nhân của khổ; sự diệt tận khổ đau và con đường đưa đến sự diệt khổ: “Này các Tỳ kheo, đó là Khổ Thánh đế, Khổ tập Thánh đế, Khổ diệt Thánh đế và Khổ diệt đạo Thánh đế”.[5] Ngài thấy rõ tất cả các pháp do nhân duyên hợp và cũng do duyên mà tan rã; sự vô thường của kiếp sống cũng như sự vô thường của tất cả các sự vật hiện tượng của vũ trụ. Chính sự thấy biết của ngài là thật, là chân lý khách quan nên ngài đã không ngại những khó khăn mà đi rao giảng chánh pháp để khai ngộ cho chúng sanh. “Người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc”.[6] Ngài đã đánh đổ những điều bất hợp lý từ truyền thống đã áp đặt lên thân phận con người, những bất công trong chế độ phân chia giai cấp được nhìn nhận theo nghiệp lực chứ không phải do huyết thống. Ngài chỉ cho mọi người thấy con đường thọ sanh của chúng sanh qua sáu nẻo luân hồi.[7] Những quan điểm sống, những định kiến xã hội sai lầm đã đè nặng lên kiếp người được ngài dựng đứng lại khi chúng bị quăng ngã xuống từ lâu. Ngài thấu hiểu những quy luật chi phối con người[8] và vũ trụ[9]. Ngài chỉ cho mọi người phương pháp thấy rõ bản chất của cuộc sống một cách chân thực để từ đó có cách ứng xử đúng đắn giữa con người với nhau trong đời sống, tránh đi những lầm lạc và tu tập để đạt đến sự an lạc trong hiện tại cũng như vị lai.

Trong suốt bốn mươi chín năm, ngài đã không quản ngại sự khó khăn của hoàn cảnh, sự khắc nghiệt của khí hậu, sự nguy hiểm khi phải đối mặt với những định kiến; truyền thống xã hội mà thuyết pháp cho không ít người. Ngài là một nhà giáo dục vĩ đại, không những truyền trao kiến thức mà còn cả sự nhận chân được cuộc sống và giác ngộ tâm linh. Với sự đau khổ trong kiếp sống và sự tái sanh trong luân hồi nên đức Phật đã khuyến khích mọi người tu tập để được sự giác ngộ:

                  “Không bệnh lợi tối thắng

                  Niết-bàn lạc tối thắng

                  Bát chánh là độc đạo

                  An ổn và bất tử”.[10]

Sự giác ngộ của chúng sanh bằng cách thực hành con đường Bát chánh, đức Phật dạy: “Đây là con đường đưa đến Khổ diệt, này các Tỳ-kheo, chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định[11] để đạt được những quả vị chứng đắc là Tứ quả Thanh văn.[12] Điều đó chứng minh cho lời ngài dạy là có hiệu nghiệm. Trong đó thánh quả A la hán được miêu tả là: “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, các việc cần làm đã làm xong, đã đặt gánh nặng xuống, từ nay không trở lại trạng thái này nữa”.[13] Có nghĩa là một vị A la hán vấn đề sanh tử đã đoạn tận, những quy chuẩn đạo đức đã viên mãn, gánh nặng về năm uẩn[14] không còn đè nặng và đây là kiếp cuối cùng không còn tái sanh nữa. Điều này thể hiện sự lợi ích từ việc giáo dục của Phật. Sự cứu giúp chúng sanh ra khỏi đau khổ luân hồi là một cách giáo dục siêu việt nhất mà không ai có thể làm được.

Giáo pháp của ngài trở thành những lời dạy vi diệu nhất, có giá trị nhất trong hơn hai mươi lăm thế kỷ. Ngài dạy: “Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu xem cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này tự ngã của tôi”.[15] Để từ đó không còn bám víu, không còn chấp thủ những điều huyễn hoặc. Những giáo lý như Tứ diệu đế, Vô thường, Vô ngã, Thập nhị nhân duyên, Thiền định… đã giúp con người từ phàm phu trở nên một bậc thánh. Những quan điểm bình đẳng giai cấp, bình đẳng nam nữ, quyền con người, những lối sống, cách ứng xử trong gia đình và xã hội đã giúp cho con người và xã hội Ấn Độ thoát khỏi những định kiến ràng buộc. Cho đến nay những lời dạy của ngài để lại là một kho tàng vô giá.

2. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT

Trong kinh điển Nguyên thủy, đức Phật nhiều lần cho rằng “Như Lai chỉ là người chỉ đường[16]. Ngài đã chỉ ra những quan điểm sống lỗi thời và đưa ra những tư tưởng đúng đầy tính hiện thực. Ngài không phải là “huyễn thuật sư” không sử dụng “huyễn thuật lôi cuốn[17] người khác mà chỉ dùng chân lý khách quan mà ngài đã chứng ngộ được để giúp cho chúng sanh nhận chân giá trị thực của cuộc sống. Những bài pháp được ngài trình bày một cách rõ ràng, tỉ mỉ từ đại cương cho đến chi tiết. Dù có thuyết giảng cho một hội chúng đông; hay cho một vài người; hoặc chỉ khi có một người nào đó thì ngài đều tìm cách để họ thấy được những gì họ chưa thấy, biết được những gì họ chưa biết và làm phát triển những điều thiện trong họ. Những lời dạy của ngài mang tính khách quan làm cho người nghe tự nhận định chứ ngài không áp đặt, không giáo điều, không buộc người khác phải chấp nhận. Ngài đưa ra một khái niệm với nhiều yếu tố và trình bày tư tưởng ấy dưới dạng liệt kê qua những con số, chẳng hạn như: “Này các Tỷ-kheo, người đàn bà có năm sức mạnh này. Thế nào là năm? Sức mạnh sắc đẹp, sức mạnh tài sản, sức mạnh bà con, sức mạnh con trai, sức mạnh giới hạnh[18] hay “Này các Tỳ kheo, đầy đủ năm đức tính này, một người đàn ông hoàn toàn không khả ý đối với nữ nhân. Thế nào là năm? Không có nhan sắc (dung mạo), không có tài sản, không có giới hạnh, lười biếng và không có khả năng sinh con”.[19]

Ngài thường sử dụng phép ẩn dụ, so sánh một sự vật hiện tượng này với một sự vật hiện tượng khác để diễn giảng về điều ngài đang nói. Ví dụ khi ngài nói đến sự nguy hiểm của dục lạc, ngài so sánh qua các hình ảnh: “Các dục lạc của thế gian như khúc xương khô; như miếng thịt; như bó đuốc cỏ khô; như hố than hừng; như cơn mộng; như vật dụng cho mượn; như trái cây; như lò thịt; như gậy nhọn; như đầu rắn, vui ít; khổ nhiều; não nhiều, do vậy nguy hiểm còn nhiều hơn”.[20] Từ những hình ảnh so sánh đó để nói lên rằng sự tạm bợ của các dục lạc ở thế gian và con người đụng vào nó là sẽ gặp nhiều đau khổ. Với lối sử dụng hình ảnh hiện thực để nói lên ý nghĩa của chân lý, ngôn từ ngắn ngọn, súc tích tạo cho người nghe dễ hiểu và từ đó cảm nhận chân lý qua hình ảnh.  

Đức Phật không bác bỏ quan điểm của người khác, không chê bai, mà chỉ đặt những câu hỏi để cho đối phương tự trả lời. Sự khéo léo của ngài là đã sắp xếp những câu hỏi theo tiến trình của tư duy một cách logic để đối phương trả lời và nhận định nó mà từ bỏ những ý kiến của họ lúc ban đầu. Chân lý không phải do ngài áp đặt mà nó luôn hiện hữu trong đời sống và người nghe có thể chấp nhận chân lý ấy nếu những câu trả lời của ngài hợp lý.

Phương pháp giáo dục của Đức Phật là đề cao sự thực hành, chính sự thực hành mới thấy được chân lý hiện hữu ngay trong đời sống thực tại. Có thực hành mới có thể thực nghiệm được chân lý. Do con người cứ phải bám víu những điều hư vọng, không thật mà bỏ quên cuộc sống hiện tại. Nếu làm được như thế này thì con người sẽ không rơi vào đau khổ, Ngài dạy: 

                  “Không than việc đã qua,

                  Không mong việc sắp tới,

                  Sống ngay với hiện tại,

                  Do vậy, sắc thù diệu.

                  Do mong việc sắp tới,

                  Do than việc đã qua,

                  Nên kẻ ngu héo mòn,

                  Như lau xanh lìa cành.[21]

Đức Phật còn sử dụng những nghề nghiệp, những công việc hằng ngày, những sự vật, hiện tượng thực tế để thí dụ, để thuyết giảng cho những người làm nghề ấy, như hình ảnh người nông dân, người dân chài, kẻ bắt rắn, kẻ bị trúng tên, v.v… giúp họ tiếp cận chân lý một cách dễ dàng, thuận lợi. Đây là những nghề nghiệp thực tế và chân lý hiện lên trong từng nghề nghiệp của quần chúng. Thính chúng nghe xong tự cảm nhận điều đó hợp với thực tế mà hiểu về giá trị của cuộc sống cũng như tâm linh.

Đức Phật thường lập đi lập lại nhiều lần để người nghe nhớ đến mức thuộc lòng và tóm tắt những bài giảng của ngài bằng những bài kệ ngắn để thính giả nếu không nhớ được nguyên bài kinh thì ít ra cũng nhớ được bài kệ mà theo đó hành trì.

Ngài thường dùng tiếng bản xứ Màgadhi (Ma-kiệt-đà) để thuyết giảng cho quần chúng vì ngôn ngữ này phổ cập và được sử dụng nhiều hơn là dùng tiếng Sanskrit của giới thượng lưu trí thức, nhưng cũng có vài thuyết cho rằng Phật dùng tiếng địa phương của từng vùng để thuyết giảng cho dân cư bản địa. Sự thuyết giảng của ngài làm cho người nghe bị thuyết phục và tự nguyện xin quy y Phật, Pháp, Tăng để hướng đến con người giải thoát, chứ không tranh giành; không dụ dỗ đệ tử của ai; không áp đặt ai phải nghe theo mình.

3. ĐỐI TƯỢNG GIÁO DỤC CỦA ĐỨC PHẬT

Phải nói rằng, đối tượng nghe pháp của Phật đầu tiên là năm anh em ông Kiều Trần Như đã được Phật chọn lựa một cách đúng đắn vì họ đã thực hành về tâm linh, tu tập khổ hạnh, rèn luyện trong tâm linh nên dễ dàng chấp nhận những điều của Phật nói. Họ là những người có khả năng khai ngộ, và Phật biết được khả năng của họ có thể lĩnh hội và chứng ngộ được giáo pháp của ngài nên ngài đã thuyết giáo cho họ đầu tiên. Đây là một cách giáo dục tùy theo khả năng của người nghe mà Phật thuyết giảng chứ không giống như giáo dục của thế gian là dạy gì học đó, người nghe chỉ biết ngồi đó tiếp thu bài dù có thích hay không thích. Còn sự giáo dục của Phật thì ngài dùng trí tuệ chứng ngộ của mình để quán chiếu căn cơ thính chúng.

Ngài khai ngộ tâm linh cho người đã trưởng thành để họ dễ dàng tiếp nhận, lúc đó sự giáo dục của ngài chỉ hưởng đến Tăng chúng. Sau khi đức Phật đã tiếp độ được 60 Tỳ kheo A-la-hán ngài đã khuyến khích: “Này các Tỳ kheo!... hãy lên đường  vì lợi lạc của nhiều người, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của trời và người. Các ông hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một hướng, hãy đi mỗi người một ngả, hãy truyền bá chánh pháp... Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện trí, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu, hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác; được vậy, là các ông đã hoàn tất nhiệm vụ”.[22] Như vậy Phật khuyến cáo các vị Tỳ kheo đi rao giảng những gì mà các vị đã chứng được, đã thể nghiệm được đến với mọi người, giúp người khai mở trí tuệ có sẵn mà từ vô thỉ đã bị vô minh che lấp. Lúc này sự giáo dục của Phật giáo đã hướng đến những thành phần khác trong xã hội.

Có một điều khác biệt với những đạo sư đương thời là mỗi buổi sáng Phật đều quán chiếu xem ai là người có duyên để được ngài độ. Phật đã tùy duyên hóa độ với nhiều thành phần, địa vị, giai cấp, tôn giáo, nghề nghiệp, giới tính… từ vua chúa, quan lại, hoàng thân quốc thích, ngoại đạo, thương gia, cho đến nông dân, dân chài, tướng cướp, gái bán hoa… tất cả với tâm bình đẳng và tùy theo phương tiện. Không chỉ với con người mà Phật còn thuyết pháp cho chư thiên, phi nhân, và ma vương. Những ai có duyên nghe được những lời dạy của ngài đều lợi lạc trong đời hiện và cả vị lai.

III. PHẬT GIÁO VÀ MỤC TIÊU GIÁO DỤC CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG KINH ĐIỂN NGUYÊN THỦY

Công bằng xã hội là một trong những mục tiêu mà xã hội loài người luôn hướng đến. Phải chăng từ khi xã hội loài người được hình thành thì đã không có công bằng? Những cuộc chiến tranh từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn cuối cùng để tìm sự công bằng cho cuộc sống. Tuy nhiên công bằng không có nghĩa là san bằng tất cả, công bằng không phải ai cũng như ai. Sự công bằng ở đây được đề cập trên những phương diện: quyền con người, quyền làm chủ thân thể, quyền sở hữu tài sản, quyền được học hành, được cống hiến, được phát huy khả năng vốn có của mình, quyền được yêu thương… Con người còn được công bằng trước pháp luật, chính trị, xã hội, tư tưởng, văn hóa và nhu cầu hưởng thụ vật chất cũng như tinh thần, đúng với năng lực của mình làm ra một cách chính đáng.

Giáo dục Phật giáo đã đưa ra những tư tưởng đóng góp cho sự công bằng của xã hội trên phương diện cá nhân đối với các mối quan hệ gia đình và xã hội, sự phân biệt giai cấp; tôn giáo, bình đẳng giới, mà đặc biệt là sự thực hành năm nguyên tắc đạo đức[23] thông qua những lời dạy trong kinh điển Nguyên thủy.

1. Công bằng giữa cá nhân với các mối quan hệ gia đình và quyến thuộc

Mỗi người được sinh ra trong xã hội loài người thì ai cũng phải có nghĩa vụ và quyền lợi nhất định. Việc thực hiện nghĩa vụ một cách đúng đắn sẽ tạo nên một cá nhân chuẩn mực về phương diện đạo đức, lối sống, cách ứng xử với những người chung quanh. Mỗi người tự có trách nhiệm với bản thân mình, hoàn thiện nhân cách và làm tròn bổn phận với gia đình và xã hội. Vì bổn phận cũng xem như là nghĩa vụ mà mỗi cá nhân phải thực hiện đối với những mối quan hệ trong gia đình, cũng như ngoài xã hội một cách đúng mực. Việc thực hiện tốt các nghĩa vụ giúp cho cá nhân dễ đạt được quyền lợi một cách tốt nhất. Tất cả phải được dựa trên nền tảng của sự công bằng. Sự công bằng trong các mối quan hệ được duy trì trên sự hỗ tương, bình đẳng và cùng có lợi từ cả hai phía chứ không phải một chiều.

Trong kinh Giáo thọ Thi Ca La Việt, đức Phật dạy có năm điều con cái nên phụng dưỡng cha mẹ: “Được nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ; tôi sẽ làm tròn bổn phận đối với cha mẹ; tôi sẽ giữ gìn gia đình và truyền thống; tôi sẽ bảo vệ tài sản thừa tự; tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời”.[24] Và khi được phụng dưỡng như vậy cha mẹ cũng có lòng thương tưởng đến con cái theo năm cách như sau: “Ngăn chặn con làm điều ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề nghiệp; cưới vợ xứng đáng cho con; đúng thời trao của thừa tự cho con”.[25]

Ở đây ta thấy, trách nhiệm không phải chỉ ở một chiều thuộc về cha mẹ đối với con cái mà con cái cũng phải có trách nhiệm lại đối với cha mẹ. Đây là sự công bằng trong giáo dục của Phật giáo Nguyên thủy trên phương diện ứng xử trong gia đình. Con người phải bình đẳng và công bằng đối với trách nhiệm của bản thân mình và với người thân. Con cái không phải chỉ đòi hỏi với cha mẹ mà không có trách nhiệm và bổn phận đối với cha mẹ và ngược lại cha mẹ cũng phải có trách nhiệm và bổn phận đối với con cái, đây là sự công bằng, cũng là đạo đức và đạo lý mà con người cần phải thực hiện.

Đối với mối quan hệ vợ chồng, trong kinh Giáo thọ Thi Ca La Việt đưa đưa ra năm cách người chồng đối xử với người vợ: “Kính trọng vợ, không xem thường vợ, chung thủy với vợ, giao quyền hành cho vợ, sắm đồ nữ trang cho vợ”.[26] Bên cạnh đó người vợ cũng phải có lòng thương tưởng đến chồng theo năm cách: “Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình, khéo tiếp đón bà con, chung thủy với chồng, khéo giữ gìn tài sản của chồng, khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc”.[27]

Muốn có một cuộc sống vợ chồng tốt đẹp thì cả người vợ lẫn người chồng đều phải ý thức trách nhiệm của mình để vun xén hạnh phúc cho nhau, chứ không phải riêng trách nhiệm một ai. Sự công bằng trong cuộc sống vợ chồng khiến cho người vợ cũng như người chồng cảm thấy được tôn trọng, được yêu thương. Nhiều cặp vợ chồng sống không hạnh phúc, bao nhiêu đau khổ xảy ra như bạo lực gia đình, những áp lực của cuộc sống, sự không hiểu biết về kiến thức cuộc sống gia đình, sự khác nhau về quan điểm sống, phong tục tập quán, văn hóa, tôn giáo… cũng đã dẫn đến sự đổ vỡ một cách trầm trọng. Trước khi lập gia đình họ không tìm hiểu nhau kỹ càng; không chuẩn bị tâm lý; không chịu nỗi áp lực, đến nỗi cuộc sống vợ chồng đổ vỡ; gây nên nhiều hệ lụy. Nếu như người vợ cũng như người chồng đều thực hành đúng như những điều này thì cuộc sống quả thật là hạnh phúc và con cái cũng được hưởng một chút ân đức từ cha mẹ của chúng.

2. Công bằng giữa cá nhân với các mối quan hệ xã hội

Con người không chỉ công bằng với những người trong gia đình hay quyến thuộc mà đối với các mối quan hệ ngoài xã hội cũng phải công bằng và thực hiện một cách đúng mực. Các mối quan hệ như thầy trò, bạn bè, chủ tớ, vua tôi… được xây dựng trên sự bình đẳng và công bằng giữa hai bên thì mối quan hệ đó mới bền vững.

Đối với mối quan hệ thầy trò, trong kinh Giáo thọ Thi Ca La Việt đã đưa ra năm cách đệ tử phụng dưỡng các bậc thầy của mình như sau: “Đứng dậy để chào, hầu hạ thầy, hăng hái học tập, tự phục vụ thầy, chú tâm học hỏi nghề nghiệp”.[28] Đệ tử phụng dưỡng thầy với năm cách như thế thì các bậc sư trưởng cũng có lòng thương tưởng đến đệ tử theo năm cách: “Huấn luyện đệ tử những gì mình được khéo huấn luyện, dạy cho bảo trì những gì mình được khéo bảo trì, dạy cho thuần thục các nghề nghiệp, khen đệ tử với các bạn bè quen thuộc, bảo đảm nghề nghiệp cho đệ tử về mọi mặt”.[29]

Tình nghĩa thầy trò là một tình cảm thiêng liêng, nhưng theo tình hình hiện nay cho thấy sự gần gũi giữa thầy và trò hết sức rời rạc, thiếu thân tình và gần gũi. Có lẽ, xã hội ngày càng phát triển, con người ta phải lo toan nhiều cho chính bản thân mình và gia đình nên không có đủ sức để lo tiếp cho ai nữa, nhất là tình thầy trò vì trong lớp học có khá nhiều học sinh, giáo viên không thể nào quan tâm hết được mà chỉ chú ý đến một hai cá nhân nào đặc biệt.  

Không những Phật dạy trách nhiệm giữa thầy và trò mà còn dạy cách đối xử giữa bạn bè với nhau, cách đối xử giữa người chủ với đầy tờ và người đày tớ đối với chủ, cách ứng xử giữa tu sĩ với tín đồ và bổn phận của tín đồ đối với tu sĩ, tất cả được dựa trên tinh thần bình đẳng, công bằng từ hai phía.[30] Không ai được phép lợi dụng ai mà cùng sống, cùng làm việc để đem lại lợi ích cho cả hai thì mối quan hệ đó mới bền chặt.

Phật giáo Nguyên thủy còn đề cập đến an nguy của quốc gia qua việc tư cách của nhà lãnh đạo. Một xã hội bất công với sưu cao thuế nặng, dân chúng lầm than dưới tay của những người cầm nắm vận mệnh của một đất nước đã khiến cho người dân khốn khổ. Sự bất minh của các nhà cầm quyền và sự thiếu đạo đức đã đưa các quốc gia đó suy vong. Nhìn thấy được những cảnh đó, trong kinh Bổn Sanh đã nói lên tư đức của một vị vua để giúp vua cai trị đất nước: “Vị vua đó phải cởi mở không ích kỷ; có đạo đức và phẩm hạnh tốt đẹp; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân để phục vụ an sinh của quần chúng; phải thành thật và ngay thẳng; phải dịu dàng và giàu lòng nhân ái; phải sống giản dị để làm gương cho dân chúng; phải vượt lên mọi hận thù; biết áp dụng tinh thần bất bạo động; phải có đủ khả năng nhẫn nại và chịu đựng mọi thử thách; tôn trọng ý kiến của dân, phát triển hòa bình và hòa hợp với dân chúng”.[31]

Mười đức tính của một nhà vua mà kinh điển Phật giáo Nguyên thủy đã đề cập là tiêu chuẩn xây dựng nền tảng đạo đức của một người lãnh đạo một quốc gia. Sự giáo dục Phật giáo hướng đến một quốc gia thịnh trị qua tư cách đạo đức của một người nắm chính quyền để cho thấy rằng dù ai ở bất cứ địa vị xã hội nào cũng phải làm tròn trách nhiệm với địa vị mình đã có. Đó là sự công bằng và nếu như ai cũng được ảnh hưởng từ nền giáo dục Phật giáo thì cuộc sống sẽ rất bình an, dân chúng được ấm no hạnh phúc.

3. Công bằng trên phương diện bình đẳng giai cấp

Phật giáo không chỉ giáo dục cho con người trên phương diện các mối quan hệ giữ cá nhân và xã hội trong đời sống thế gian mà còn dạy cho con người biết thoát ra khỏi những sự ràng buộc của định kiến, những giá trị truyền thống lỗi thời. Đối với xã hội Ấn Độ thời Đức Phật, bộ luật Ma-nu đã phân chia con người thành bốn giai cấp: Bà-la-môn (còn gọi là Phạm chí), Sát-đế-lợi, Phệ-xá và Thủ-đà-la. Giai cấp Bà-la-môn là những vị lãnh đạo tâm linh, phụ trách về những nghi lễ. Họ cho rằng mình được sinh ra từ miệng của Phạm Thiên và là trung gian giữa thần thánh với con người. Họ có địa vị cao nhất trong xã hội lúc bấy giờ vì có học vấn, có gia sản. Giai cấp Sát-đế-lợi là giai cấp vua quan, lãnh đạo quốc gia, họ có quyền sinh sát đối với một kẻ nào thuộc hai giai cấp dưới làm cho họ phật lòng. Họ cho rằng mình được xin ra từ cánh tay của Phạm Thiên nên nắm quyền lực cai trị đất nước. Họ có tài sản và tự hào về huyết thống là dòng dõi vua chúa. Giai cấp Phệ-xá là những người thương gia nhỏ, họ buôn bán trong lãnh thổ của mình hoặc buôn bán qua những lãnh thổ khác. Giai cấp Thủ-đà-la là những người làm những nghề nghiệp thấp hèn trong xã hội như hớt tóc, gánh phân, nông dân, chài lưới… họ là người không có tài sản gì ngoài việc làm thuê, làm mướn. Hai giai cấp Phệ-xá và Thủ-đà-la không được học hành, không được can dự vào chuyện quốc gia. Mỗi người sinh ra ở đâu được giữ yên tại chỗ đó, dù họ có giỏi cũng không thể nào thay đổi được số phận của họ.[32]

Thuyết bốn giai cấp đã in sâu vào xã hội Ấn Độ từ lâu đời và mọi người chấp nhận với giai cấp của mình. Cho đến khi Phật xuất hiện, ngài đánh đổ sự phân chia giai cấp với câu nói:

                  “Bần tiện không vì sanh.

                  Phạm chí không vì sanh,

                  Do hành, thành bần tiện,

                  Do hành thành Phạm chí”.[33]

Đây là sự cải cách tư tưởng vượt bậc của Phật đối với xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ. Con người bị kèm kẹp, bị ngạt thở, không thể ngẩng mặt lên vì sự phân chia giai cấp này.

4. Công bằng trên phương diện bình đẳng giới

Sự bất công giữa nam và nữ trong xã hội Ấn Độ cũng là vấn đề nan giải. Người nữ phải chịu những bất công từ gia đình cho đến xã hội. Ở nhà phải thờ cha mẹ chăm lo, gia đình, thờ cha mẹ chồng, lo cho chồng con, an phận thủ thường, không được can dự vào những việc chính sự cũng như xã hội. Sự tiếp độ nữ giới xuất gia của Phật lúc đó cũng tạo nên một sự bứt phá rõ rệt. Phật độ kế mẫu của mình là bà Maha Pajapati Gotami (Kiều Đàm Di) và năm trăm người nữ thuộc hoàng thân quốc thích của dòng họ Sakya xuất gia và đưa ra Bát kỉnh pháp[34] là một sự ưu ái lớn đối với người nữ trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ. Đây là một sự giải phóng người nữ ra khỏi những kiềm kẹp của định kiến. Người nữ cũng có thể phát huy những khả năng của họ, mà đặc biệt là người nữ cũng có thể tu tập giác ngộ như người nam. Bằng chứng là sự chứng ngộ của các vị nữ giới trong Trưởng lão ni kệ thuộc kinh Tiểu Bộ.[35]

5. Khoan dung và tạo cơ hội cho những người lầm lỗi

Trong giáo dục Phật giáo Nguyên thủy còn thể hiện ở sự khoan dung và tạo cơ hội cho những người có quá khứ lỗi lầm, nói khác hơn là sự khiếm khuyết trong đạo đức hoặc tội lỗi mà một người đã tạo. Dù là người thánh thiện hay kẻ tàn ác, dù là người cao thượng cho đến xấu xa, nhưng nếu biết ăn năn hối cải thì đều được tạo cơ hội hướng thiện để tái hòa nhập. Sự tiếp độ những người lỗi lầm đã minh chứng cho sự khoan dung, từ bi của giáo dục Phật giáo. Như trường hợp của tướng cướp Angulimala đã giết hại rất nhiều người, đến khi chuẩn bị giết mẹ của mình thì Phật xuất hiện. Khi nghe Phật giáo hóa Angulimala đã từ bỏ gươm đao, theo Phật tu tập và chứng đắc quả vị A-la-hán.[36] Liên Hoa Sắc cũng là một người có quá khứ đau thương. Nàng từng là gái bán hoa nổi tiếng, định dùng sắc đẹp của mình quyến rũ ngài Mục Kiền Liên nhưng được ngài Mục Kiền Liên giáo hóa và đưa về ra mắt đức Phật. Sau khi quy y và trở thành vị Tỳ kheo ni, nàng tinh tấn tu hành, chứng quả A-la-hán và được tôn xưng là Thần thông đệ nhất trong hàng ni chúng.

6. Không kỳ thị về xuất thân hay tôn giáo

Trong tăng đoàn đã có những người xuất thân từ giai cấp hạ tiện như người gánh phân Nan-đề, thợ hớt tóc Ưu-ba-ly, … giúp cho họ tu hành và chứng được thánh quả. Đây là sự công bằng trên phương diện giải thoát giác ngộ, dù mọi người có ở giai cấp nào nếu bước vào con đường tu tập Phật pháp thì đều có cơ hội giải thoát như nước trong bốn biển chỉ có một vị là vị mặn và giáo lý của Phật cũng chỉ có một vị là giải thoát.

Trong giáo đoàn của Phật không có sự phân biệt sự xuất thân hay tôn giáo, tất cả đều được tôn trọng dựa trên phạm hạnh của người đó. Như người thợ hớt tóc Ưu-ba-ly xuất thân từ giai cấp Thủ-đà-la nhưng khi ngài trở thành người xuất gia tu tập giữ gìn giới luật tinh nghiêm và chứng đắc quả vị A-la-hán được tôn xưng là “Trì giới đệ nhất[37]. Trong giáo đoàn của Phật có rất nhiều người xuất thân từ hoàng tộc như ngài Anada, Anurudha[38]. Còn có những vị khi chưa xuất gia là giáo chủ ngoại đạo như Uruvela-Kassapa là giáo chủ của đạo thờ lửa với năm trăm người đệ tử cùng theo quy y Phật. Bên cạnh đó cũng có những đệ tử ngoại đạo của các đạo khác như ngài Sariputta, Moggallana[39] khi xuất gia theo Phật giáo đã trở thành những bậc xuất chúng, có uy tín và tầm ảnh hưởng lớn trong giáo đoàn.

Đối với sự giải thoát tất cả con người đều bình đẳng và công bằng với nhau, ai cũng có thể tu tập được và ai cũng có thể lĩnh hội tùy theo căn cơ. Sự giáo dục của Phật giáo giúp cho con người đạt được thánh quả, thành tựu tuệ giác và giải thoát khỏi sanh tử luân hồi. Ai cũng có khả năng ấy, không bất luận là nam hay nữ[40], không bất luận là tôn giáo nào, không bất luận giai cấp nào, không bất luận địa vị xã hội nào, nếu có lòng quyết tâm và phương pháp hành trì đúng thì sẽ đạt được an lạc trong đời sống hiện tại với sự công bằng không phân biệt.

7. Công bằng trên tinh thần giữ gìn ngũ giới

Theo Phật giáo sự giữ gìn năm giới cấm của cá nhân cũng đã đem lại sự an ổn cho chính bản thân mình và không làm tổn hại đến người khác cũng như gia đình và xã hội. Nếu tất cả mọi người đều thực hành tốt ngũ giới, cũng là năm nguyên tắc đạo đức thì xã hội loài người đúng nghĩa là một xã hội công bằng. Mục đích Phật chế giới nhằm để tránh những điều tổn hại đến cá nhân; gia đình và xã hội, giúp cho cuộc sống của con người được bình yên và công bằng hơn.

- Không sát sanh: Đã là con người ai chẳng muốn mua cầu hạnh phúc, ai cũng biết quý trọng thân thể. Thân thể là tài sản quý nhất mà bất cứ ai cũng không có quyền xâm phạm. Vì vậy hành động hủy diệt đời sống của chúng sanh khác là không thể chấp nhận. Những hành động đó phải được lên án mạnh mẽ và ngăn chặn kịp thời, như kinh Pháp Cú có câu:

                  “Mọi người sợ hình phạt

                  Mọi người sợ tử vong

                  Lấy mình làm ví dụ

                  Không giết không bảo giết”.

                                                      (Pháp Cú 129)[41] 

Không những sát hại chúng hữu tình lớn như con người mà đạo Phật còn khuyến khích mọi người ăn chay là cách để tôn trọng và bảo vệ quyền sống cho những chúng sanh khác.

- Không lấy của không cho[42]: Không chỉ thân thể là tài sản quý giá mà những tài sản do con người tạo ra bằng mồ hôi nước mắt một cách chân chánh cũng đáng quý vô cùng. Những của cải vật chất ấy, không ai được phép chiếm đoạt, cướp bóc. Cho đến những việc lừa gạt, tham ô, tham nhũng, bớt xén cũng được xem là hình thức trộm cướp. Những hiện tượng này đối với xã hội ngày nay vẫn còn tồn tại và gây nên những bức xúc. Ai cũng mong muốn giữ gìn của cải của mình, ai cũng sợ mất mát thì không nên tự mình lấy hoặc không bảo người khác lấy. Mình sợ mất của thì người khác cũng sợ mất của, lấy tâm mình để suy ra tâm người và vì sự công bằng của cá nhân mình cũng như xã hội mà tôn trọng vật sở hữu của người khác. Muốn xã hội không có cảnh người lo sợ, nhà đề phòng, người nghèo đói, kẻ trộm cướp thì mỗi người không xâm phạm đến của cải của người khác.

- Không tà hạnh[43]: Việc xây dựng đời sống gia đình hạnh phúc bằng cách không tà hạnh cũng là nguyên tắc đạo đức rất quan trọng. Đã lập gia đình phải giữ sự thủy chung, dù là vợ hay chồng, không được tà hạnh với người khác ngoài vợ hay chồng mình. Là người ai chẳng mong có một gia đình hạnh phúc, vợ hiền, chồng giỏi, con ngoan, trong ấm ngoài êm cho nên việc xây dựng một cuộc sống vợ chồng chung thủy là mong muốn của bao người. Sự đổ vỡ của gia đình đem đến những hậu quả khó lường. Nếu chỉ vì thỏa mãn dục vọng đang tâm phá hoại hạnh phúc gia đình của người khác, đi ngược với tiêu chuẩn đạo đức và luân thường đạo lý đó là điều không công bằng. Vì sự công bằng của con người cũng như xã hội không ai có quyền xâm hại gia cang của người khác. Để xây dựng một gia đình hạnh phúc nên xây dựng chế độ một vợ một chồng, biết tiết chế trong sự quan hệ để bảo vệ sức khỏe và nuôi dạy con cái tốt hơn.

- Không nói dối[44]: Con người luôn tôn trọng sự thật, vì sự thật còn biểu hiện cho chân lý. Mọi người ai cũng chán ghét sự giả dối vì không ai muốn mình là người bị người khác lọc lừa, gian dối. Chính vì vậy lời nói dối gây mất lòng tin, mất đoàn kết, gây chia rẽ hận thù, gây chiến tranh giữa người này với người khác. Trong đời sống của con người thì dối trá được xem là một hoạt động sống. Nó thể hiện trong ý nghĩ và bộc lộ trong lời nói. Chính lời nói dối trá, dua nịnh, đâm thọc, gièm pha đã tạo nên một xã hội mất niềm tin, con người phải dè dặt lẫn nhau, lúc nào cũng thủ thế cho mình vì sợ nguy hiểm, các mối quan hệ dần khép lại vì không ai còn đủ sức tin tưởng người khác, không ai còn dám chia sẻ những bí mật của đời mình. Vì thế mọi người phải nói lời ái ngữ, khuyên bảo người khác làm những điều lành, an ủi họ khi họ gặp điều không may… thì xã hội này đẹp biết bao, hơn là suốt ngày đi nói xấu; châm chọc; chê bai; trách móc; chửi mắng người khác. Nếu ai cũng thực hiện đúng nguyên tắc đạo đức thứ tư là không nói dối, không nói ỷ ngữ, không nói sai sự thật, không thêu dệt và không đâm thọc thì xã hội này đầy ấp những tiếng cười vì ai ai cũng mở lòng với nhau, cùng sống chan hòa trong niềm hạnh phúc vô biên.

- Không uống rượu và sử dụng các chất gây nghiện[45]: Con người muốn có một cuộc sống an ổn và hạnh phúc cũng cần có một sức khỏe tốt, đây là một yếu tố rất quan trọng. Vì sức khỏe được xem là một thứ tài sản vô giá và bệnh tật là một nỗi ám ảnh lớn của đời người. Việc phá hoại sức khỏe của con người bị cho là một sự phá hoại to tát nhất. Thế nên những nghề nghiệp liên quan đến sự tàn phá sức khỏe của con người phải bị lên án một cách gay gắt, như buôn bán rượu bia, ma túy, thuốc lắc,… Vì đó không chỉ tàn phá sức khỏe cho con người mà còn tạo ra những hệ lụy và tệ nạn cho xã hội. Người được giáo dục Phật giáo tự ý thức rằng những thứ độc hại này gây tổn hại đến sức khỏe, tiền bạc và lu mờ trí tuệ nên tuyệt đối không buôn bán, không tự mình đụng vào hoặc bắt ép người khác phải thử. Vì sự công bằng của mình và của người nên tôn trọng giá trị sống của sinh mạng và sức khỏe mà tránh sử dụng những chất say, những chất kích thích để không gây đau khổ cho mình, phiền não cho gia đình và hệ lụy của xã hội.

Sự giáo dục Phật giáo trên phương diện giữ gìn ngũ giới để bảo vệ bản thân mình trước vòng xoáy nguy hiểm là điều hết sức quan trọng cho xã hội ngày nay.

IV. KẾT LUẬN

Phật giáo Nguyên thủy đã xây dựng và định hướng về một xã hội thuần lương thông qua những lời dạy mang tính đạo đức. Những quy tắc mang tính hiện thực cũng giúp cho con người có lối sống đúng đắn cho bản thân mình, cách cư xử chuẩn mực đối với gia đình và xã hội. Tất cả mọi người đều được công bằng trước sự giáo dục của Phật giáo trên nhiều phương diện. Mục đích của giáo dục Phật giáo là muốn cải thiện đời sống con người, vạch ra phương hướng cải tạo thân tâm để đưa con người sống an lành hơn. Đây là con đường mà mọi người nên nghiên cứu và phát triển nó một cách nghiêm túc và phải được phổ cập rộng rãi cho tất cả mọi người.

Trong xã hội hiện đại, những giá trị giáo dục của Phật đã để lại là giải pháp tốt cho những vấn đề xã hội như đạo đức, lối sống, chính trị, văn hóa, môi trường, tư tưởng, hòa bình, bình đẳng, nhân quyền, tự do, dân chủ được hiện rõ hơn bao giờ hết. Hy vọng rằng mọi người đều được tiếp cận sự giáo dục như thế và sống trong sự giáo dục này thì cuộc sống quả thật là một cảnh giới an lành.

 

***

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Kinh điển

Kinh Pháp cú, Thích Minh Châu dịch, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2006.

Kinh Tiểu Bộ I, Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên Cứu Phật Học (VNCPH) ấn hành, Thành phố Hồ Chí Minh (TpHCM), 1998.

Kinh Tiểu Bộ III, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, TpHCM, 1998.

Kinh Tương ưng bộ I, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, TpHCM, 1993.

Kinh Tương ưng bộ II, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, TpHCM, 1993.

Kinh Tương ưng bộ IV, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, TpHCM, 1993.

Kinh Tương ưng bộ V, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, TpHCM, 1993.

Kinh Trung bộ I, Thích Minh Châu dịch, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2012.

Kinh Trung bộ I, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, TpHCM, 1992.

Kinh Trung bộ II, Thích Minh Châu dịch, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2012.

Kinh Trung bộ III, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, TpHCM, 2001.

Kinh Trường A Hàm, Bộ A Hàm 1, Pháp Bảo Đại Tạng Kinh, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, 1998.

Kinh Trường bộ, Thích Minh Châu dịch, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2013.

II. Nghiên cứu

Hoài Khanh, Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống, NXB Ca Dao, 1993.

Lê Hoàng Thanh Dân, Các vấn đề giáo dục, NXB Trẻ, 1970.

Ngô Văn Lê, Giáo dục và tiến bộ xã hội, bài phát biểu tại hội thảo Giáo dục Phật giáo ấn hành,1995.

Nguyễn An, Giáo dục học đại cương, lưu hành nội bộ, 1998.

Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, 2011.

Thích Chơn Thiện, Giáo dục Phật giáo, Ban Giáo Dục Tăng Ni ấn hành, 1997.

Thích Chơn Thiện, Lý thuyết về nhân tính qua kinh tạng Pàli, VNCPH ấn hành, TpHCM, 1999.

Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, Ban Giáo Dục Tăng Ni ấn hành, 1993.

Thích Chơn Thiện, Tăng già thời Đức Phật, VNCPH ấn hành, TpHCM, 1991.

Thích Nhất Hạnh, Ðạo Phật hiện đại hóa, NXB Lá Bối, 1968.

 


[1]. Tuyên Hóa, Ý nghĩa chân chính của quy y, http://www.dharmasite.net/QuyY.htm.           

[2]. Kinh Trường bộ, Kinh Phạm võng, Thích Minh Châu dịch, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2013, tr 15-54.    

[3]. Bách khoa tri thức: Luật Manu là một trong những bộ luật cổ nhất của phương Đông. Theo huyền thoại của cư dân Ấn Độ thì bộ luật này do thủy tổ loài người dựng nên, nhưng trên thực tế nó là một tập hợp những quy định; điều răn mang tính pháp quyền và màu sắc tôn giáo. Nội dung trên được truyền khẩu, ghi thành văn bản và được sửa chữa qua nhiều thế hệ. Đến đầu công nguyên bộ luật được hoàn chỉnh với 12 chương và 2685 điều. http://www.bachkhoatrithuc.vn/encyclopedia/164-123-633386830048437500/Nhung-Bo-Luat-co-noi-tieng-the-gioi/Luat-Manu.htm.           

[4]. Bách khoa toàn thư mở: Kinh điển Vệ đà được xem là cội gốc của Bà-la-môn giáo và có vị trí quan trọng trong nền văn minh Ấn Độ. Gồm bốn tạng: Rig Veda: thi tụng cái biết, ca ngợi các vị thần; Sama Veda: ca vịnh thần chú, các giai điệu dùng trong tụng ca hiến tế; Yayur Veda: các công thức hàm chứa những nghi lễ; Atharva Veda: triển khai ý nghĩa ba bộ trên. Thời đại Veda kéo dài trong khoảng 1200 năm trước Công nguyên đến 800 sau Công nguyên. http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_V%E1%BB%87-%C4%91%C3%A0.       

[5]. Kinh Tương ưng bộ V, chương 12, phẩm II, kinh Chuyển pháp luân, Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên Cứu Phật Học (VNCPH) ấn hành, Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM), 1993, tr. 611.         

[6]. Kinh Trung bộ I, Kinh Hạnh con chó, Thích Minh Châu dịch, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2012, tr 479. (Đoạn này được nói đến trong rất nhiều bài kinh trong Kinh Trung bộ).             

[7]. Thiên, Nhơn, A tu la, Súc sanh, Ngạ quỷ, Địa ngục.          

[8]. Nhân sinh quan.        

[9]. Vũ trụ quan.               

[10]. Kinh Trung bộ I, Kinh Màgandiya, Thích Minh Châu dịch, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2012, tr 623.      

[11]. Thích Minh Châu dịch (1993) Tương Ưng bộ kinh V, tr. 612.       

[12]. Tứ quả Thanh Văn:

- Tu-đà-hoàn (Sotapatti) hay Sơ quả, vị đã đoạn trừ ba hạ phần kiết sử: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Quả Tu-đà-hoàn còn được gọi là Nhập lưu (dự vào dòng Thánh) hay Thất lai, có nghĩa là còn tái sanh nhiều nhất là bảy lần nữa để gọt sạch những phiền não trong tâm thức sau đó mới có thể chứng A-la-hán.

- Tư-đà-hàm (Sakadagami) hay còn gọi là Nhất lai, vị này đã đoạn trừ được ba hạ phần kiết sử đầu và làm muội lược hai kiết sử tham và sân (nghĩa là tham và sân mỏng nhạt dần, hay nói cách khác là vẫn còn tham, sân nhưng ở góc độ vi tế), sẽ còn một lần sanh tử nữa để tu tập mới chứng quả A-la-hán.

- A-na-hàm (Anagami): vị này đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử (thân kiến, nghi, giới cấm thủ, tham, sân). A-na-hàm còn được gọi là Bất lai, có nghĩa là không còn trở lại cõi người nữa mà tái sanh ở cõi Sắc giới hay Vô sắc giới, từ đó tu hành và đạt quả tối thắng.

- A-la-hán (Arahat): vị đã đoạn trừ hoàn toàn mười kiết sử là năm hạ phần kiết sử nói trên và năm thượng phần kiết sử: hữu ái, vô hữu ái, mạn, trạo cử còn gọi là trạo hối), vô minh. Hữu ái: thích hiện hữu ở cõi Sắc. Vô hữu ái: thích hiện hữu ở cõi Vô sắc. Mạn: lòng kiêu mạn, chấp thấy có chứng đắc. Trạo cử: mối xao động, bối rối. Vô minh: còn mê mờ vì do còn năm thượng phần kiết sử ngăn che. Vị A-la-hán còn được gọi là Vô sanh (hay Bất sinh: không còn tái sanh, chấm dứt luân hồi) là sự chứng ngộ rốt ráo, Niết-bàn.             

[13]. Kinh Trung bộ III, Kinh Sáu Thanh Tịnh, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, Tp.HCM, 2001, tr.161.   

[14]. Thân thể của con người được hợp thành bởi năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Sắc thuộc về phần vật chất còn thọ, tưởng, hành và thức thuộc về tinh thần.

- Sắc (Rùpa, Forme) được cấu tạo bởi bốn đại: đất, nước, gió và lửa. Những phần nào thuộc về chất cứng như tóc, răng, da, thịt, xương, gân… là chất đất. Những chất lỏng như: mồ hôi, nước mắt, máu, mủ, nước tiểu… thuộc về nước. Về chất lửa như những món ăn có sức nóng để làm ấm áp trong thân và làm tiêu hoá những vật mà ta ăn uống vào. Về chất khí: những món thường lay chuyển và có hơi thở như hơi thở ra hơi thở vào. Sắc nói rộng ra là ngũ căn, ngũ trần và những vật hữu hình.

- Thọ (Vesdana, Sensation): là cảm giác, khi sáu căn tiếp xúc với sáu cảnh mà sanh ra cảnh thọ. Có ba loại cảm thọ: khổ thọ, lạc thọ vả bất khổ bất lạc thọ.

- Tưởng (Sanjnâ, Perception): là sự tưởng tượng trong tâm, khi đối cảnh thì nhận ra sự đen, trắng, nhỏ, to, ngắn dài, v.v…

- Hành (Samskâras, Impression) là hành động thông qua việc làm của thân, khẩu và ý, cũng chính hành này là hành động để tạo thành nghiệp.

- Thức (Vijnâna, Conscience) là sự nhận biết, khi tâm đối với cảnh liền nhận thức, phân biệt được sự vật, hiện tượng.       

[15]. Kinh Tương ưng bộ II, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, TpHCM, 1993, tr 428.      

[16]. Kinh Trung bộ III, Kinh Ganaka Moggallana, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, Tp.HCM, 2001, tr 116.           

[17]. Kinh Trung bộ I, Kinh Ưu-ba-ly, Thích Minh Châu dịch, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2012, tr 458.           

[18]. Kinh Tương ưng bộ IV, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, TpHCM, 1993, tr 393.     

[19]. Thích Minh Châu dịch (1993), Kinh Tương Ưng Bộ IV, tr 384.    

[20]. Trung bộ kinh I, Kinh Ví dụ con rắn, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, Tp.HCM, 1992, tr 295 -322.   

[21]. Kinh Tương ưng bộ I, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, Tp.HCM, 1993, tr. 18.        

[22]. Mahàvagga – Đại Phẩm, Luật tạng, chương Trọng yếu, tụng phẩm thứ 2, đoạn 32. Xem bản dịch của Indacanda Nguyệt Thiên, http://www.budsas.org/uni/u-luat-daipham/dp-00.htm.            

[23]. Năm nguyên tắc đạo đức thực chất là tên gọi khác của năm giới cấm trong đạo Phật: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.          

[24]. Kinh Trường bộ, Kinh Giáo thọ Thi Ca La Việt, Thích Minh Châu dịch, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2013, tr 627-628.       

[25]. Thích Minh Châu dịch (2013), 628.    

[26]. Thích Minh Châu dịch (2013), 628.    

[27]. Thích Minh Châu dịch (2013), 628.

Cùng với nội dụng kinh Giáo thọ Thi Ca La Việt hệ Pali thì Kinh Thiện Sinh trong hệ Hán Tạng được dịch từ Sanskrit có phần khác hơn. Người chồng đối đãi với vợ có năm điều: “1. Lấy lễ đối đãi nhau; 2. Oai nghiêm không nghiệt; 3. Chao ăn mặc phải thời; 4. Cho trang sức phải thời; 5. Phó thác việc nhà”. Chồng đối đãi với vợ theo năm cách ấy thì vợ cũng lấy năm việc để cung kính đối với chồng: “1. Dậy trước; 2. Ngồi sau; 3. Nói lời hòa nhã; 4. Kính nhường tùy thuận; 5. Đoán trước ý chồng”. (Pháp Bảo Đại Tạng Kinh, Bộ A Hàm 1, Trường A Hàm, Kinh Thiện Sinh, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, 1998, tr 338-339). Ở đây ta thấy có sự khác biệt giữa hai bản kinh hệ Pali và hệ Sanskrit. Nhưng xét thấy thì hệ Pali tư tưởng thoáng hơn, còn hệ Sanskrit do người Hán dịch bị ảnh hưởng bởi Nho giáo nên có mang tính phong kiến. Nhưng dù sao cũng nói lên trách nhiệm cụ thể của từng người.

[28]. Thích Minh Châu dịch (2013), 628.    

[29]. Thích Minh Châu dịch (2013), 628.    

[30]. Xem thêm Kinh Trường bộ, Kinh giáo thọ Thi Ca La Việt, Thích Minh Châu dịch, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2013.         

[31]. K.S. Dhammananda, Đạo Phật và Chính trị, Bình Anson lược dịch, http://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbpha012.htm.              

[32]. Xem thêm Kinh Trường bộ, Kinh Khởi Thế Nhân Bổn số 27, Thích Minh Châu dịch, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2013, tr 545-557. Bài kinh này nói về nguyên nhân hình thành thế giới và thuyết bốn giai cấp của Ấn Độ cổ đại.             

[33]. Kinh Tiểu Bộ I, Kinh Kẻ bần tiện, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, TpHCM, 1998, tr 504-505.          

[34]. Bát kỉnh pháp

1-Một Tỳ kheo ni, dầu có trăm tuổi hạ khi gặp thầy Tỳ kheo mới thọ giới Cụ túc cũng phải chào hỏi, đảnh lễ và thực hành tất cả những bổn phận thích nghi đối với vị Tỳ kheo.

2- Một Tỳ kheo ni không được khiển trách hay nặng lời đối với một vị Tỳ kheo trong bất kỳ trường hợp nào.

3- Tỳ kheo ni không được ngăn Tỳ kheo xét tội, thuyết giới, tự tứ hay nói lỗi của Tỳ kheo. Trái lại, Tỳ kheo được quyền cử tội Tỳ kheo ni.

4- Muốn thọ trì Cụ túc giới phải thông qua hai bộ Tăng: Tỳ kheo ni và Tỳ kheo

5- Nếu Tỳ kheo ni phạm tội hữu dư (Tăng tàn) thì phải đến trước hai bộ Tăng thực hành pháp Ý hỷ (Ma na đỏa) trong thời gian nửa tháng.

6- Nửa tháng phải đến bên Tỳ kheo tăng cần cầu dạy bảo.

7- Không được an cư kiết hạ ở địa phương nào không có Tỳ kheo ở.

8- Khi an cư xong, phải đến Tỳ kheo tăng cầu ba sự tự tứ: thấy, nghe và nghi.

(Theo Thích Minh Thông, Bát kỉnh pháp, http://giacngo.vn/thuvien/2009/12/20/5F464B/)      

[35]. Xem thêm Kinh Tiểu Bộ III, Trưởng lão Ni kệ, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, Tp.HCM, 1998, tr 540-716.   

[36]. Xem thêm Kinh Trung bộ II, Kinh Angulimala số 86, Thích Minh Châu dịch, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2012.  

[37]. Thích Chơn Thiện, Tăng già thời Đức Phật, VNCPH ấn hành, TpHCM, 1991, http://www.budsas.org/uni/u-tanggia-thoiphat/tanggia-08.htm.  

[38]. Thích Chơn Thiện (1991), http://www.budsas.org/uni/u-tanggia-thoiphat/tanggia-08.htm.   

[39]. Thích Chơn Thiện (1991), http://www.budsas.org/uni/u-tanggia-thoiphat/tanggia-08.htm.   

[40]. Xem thêm Kinh Tiểu Bộ III, Trưởng lão Tăng kệ - Trưởng lão Ni kệ, Thích Minh Châu dịch, VNCPH ấn hành, TpHCM, 1998.  

[41]. Kinh Pháp cú, Phẩm hình phạt thứ 5, Thích Minh Châu dịch, NXB Tôn giáo, 2006, tr 40.    

[42]. Trong kinh Nikaya của Thích Minh Châu dịch giới thứ hai là “lấy của không cho”, các văn bản Hán Việt gọi là “Không trộm cắp”.               

[43]. Các văn bản Nikya của Thích Minh Châu dịch là: “không tà hạnh trong các dục” các văn bản trong Hán Việt dịch là “không tà dâm”.    

[44]. Trong thập thiện nghiệp thì giới thứ tư này được chia thành bốn giới về khẩu: không nói dối; không ác khẩu (không nói lời thô ác); không ỷ ngữ (không nói lời phù phiếm để hại người); không nói lưỡi đôi chiều (không từ bên người này nói xấu người kia hoặc ngược lại để gây tạo hiểu lầm hay tranh đấu từ hai phía).               

[45]. Các văn bản Nikaya gọi giới thứ năm này là “không uống rượu men, rượu nấu”. Tuy nhiên thời Phật không có các chất gây nghiện như ma túy, cần sa, thuốc lắc,… nhưng xét cho cùng đây cũng là những chất gây hại cho sức khỏe của con người và để lại hậu quả khôn lường cho cá nhân, gia đình và xã hội nên những chất này được đưa vào giới thứ năm cho phù hợp với đời sống hiện đại.      

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

5.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập