Trang chủ Đức Phật Nhân cách đức Phật Ứng thân Phật trong phạn ngữ

Ứng thân Phật trong phạn ngữ

Đã đọc: 3613           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Ứng thân Phật, phạn ngữ gọi là nirmāṇakāya. Thuật ngữ nirmāṇakāya được ghép từ chữ निर्माण nirmāṇa và काय, kāya.

Bảng biến hóa thân từ của  nirmāṇakāya ở dạng nam tính :

Nam tính

Số ít

Số hai

Số nhiều

Chủ cách

nirmāṇakāyaḥ

nirmāṇakāyau

nirmāṇakāyāḥ

Hô cách

nirmāṇakāya

nirmāṇakāyau

nirmāṇakāyāḥ

Cách trực bổ

nirmāṇakāyam

nirmāṇakāyau

nirmāṇakāyān

Cách dụng cụ

nirmāṇakāyena

nirmāṇakāyābhyām

nirmāṇakāyaiḥ

Cách gián bổ

nirmāṇakāyāya

nirmāṇakāyābhyām

nirmāṇakāyebhyaḥ

Cách tách ly

nirmāṇakāyāt

nirmāṇakāyābhyām

nirmāṇakāyebhyaḥ

Cách sở hữu

nirmāṇakāyasya

nirmāṇakāyayoḥ

nirmāṇakāyānām

Cách vị trí

nirmāṇakāye

nirmāṇakāyayoḥ

nirmāṇakāyeṣu

 

निर्माण, nirmāṇa là từ được ghép từ chữ nirmā và thân kép-na. निर्माण, nirmāṇa có những nghĩa được biết như sau : Sự xây dựng, sự giải thích, sự vẽ hình, sự dựng hình, sự sáng tạo, sự sáng tạo, sáng tác tác phẩm, sự thiết lập, sự hình thành, sự tạo thành, sự lập nên, hệ thống tổ chức (xã hội), cơ cấu, sự cấu tạo, sự hợp thành, sự cấu thành, thành phần, bài sáng tác, tác phẩm, sự pha trộn, sự hỗn hợp, tư chất, bản chất, tính, tâm tính.

Bảng biến hóa thân từ của  nirmāṇa ở dạng trung tính :

Trung tính

Số ít

Số hai

Số nhiều

Chủ cách

nirmāṇam

nirmāṇe

nirmāṇāni

Hô cách

nirmāṇa

nirmāṇe

nirmāṇāni

Cách trực bổ

nirmāṇam

nirmāṇe

nirmāṇāni

Cách dụng cụ

nirmāṇena

nirmāṇābhyām

nirmāṇaiḥ

Cách gián bổ

nirmāṇāya

nirmāṇābhyām

nirmāṇebhyaḥ

Cách tách ly

nirmāṇāt

nirmāṇābhyām

nirmāṇebhyaḥ

Cách sở hữu

nirmāṇasya

nirmāṇayoḥ

nirmāṇānām

Cách vị trí

nirmāṇe

nirmāṇayoḥ

nirmāṇeṣu

 

निर्मा, nirmā là động từ thuộc nhóm 3, thân của nó được ghép từ chữ nis  và thân kép -mā_1.  निर्मा, nirmā có những nghĩa được biết như sau : Đo, đong, lường, đo được, cân nhắc, đắn đo, liệu chừng, xây dựng, kiến thiết, đóng, vẽ, dựng, đẽo thành hình, tạc thành hình, đào luyện, dạy dỗ, tập quen, làm ra, chế tạo, bịa, đặt bày, sáng tạo, tạo ra, gây ra, thiết lập, thành lập, lập, bổ nhiệm, sinh ra, sinh lợi, xuất trình, đưa ra, gây nguyên nhân, xác định, quyết định, khiến cho quyết định, gây dựng, tác thành, chứng minh, xác lập.

निस् , nis là biến cách hay tiền tố ngữ thường thấy như : nir, niś, niṣ, niḥ, và निस् , nis có những nghĩa được biết như sau : Ngoài tầm, ngoài tầm ở trên cao, bên ngoài của cái gì đó, biến mất, mất quyền tư hữu của cái gì đó, không có, phủ định, phủ nhận.

Động từ căn √ मा mā_1 là động từ thuộc nhóm 3. √ मा mā_1 có những nghĩa được biết như sau : Đo, đong, lường, đo được, cân nhắc, đắn đo, liệu chừng, vạch ranh giới, định ranh giới, ấn định phạm vi, đánh dấu, ghi, để dấu lại, để vết lại, làm nổi, biểu lộ, tỏ rõ, so sánh.

Do sự đa dạng trong đường tu của Đức Phật trước kia đã hành, mà người ta đã diễn đạt thuật ngữ Nirmāṇakāya, bằng những ngôn từ khác nhau trong việc học Phật. Nirmāṇakāya trong Kinh Phật Việt Nam, thường thấy những danh từ như : Ứng thân Như lai, Ứng hóa thân, Ứng hoá pháp thân… Ứng thân Phật thường được hiểu như : Hóa thân hay hiện thân của Đức Phật được tạo ra trong thời gian và không gian, để ứng vào căn cơ của chúng sanh bằng nhân cách và tùy thuộc vào căn cơ hoàn cảnh thích hợp với của mỗi người mà giáo hóa.

Ứng thân Phật là sự ứng dụng trí tuệ của Đức Phật, thu đạt từ những cái nhìn có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần được nâng lên rõ rệt, dựa trên nền tảng căn bản đạo đức và trí tuệ, để đáp ứng yêu cầu phát triển với xã hội.

Ứng thân Phật là hiện thân thành tựu đạt được của sự Tỉnh thức hoàn toàn và trí tuệ siêu việt, mà Thái tử Siddhārtha Gautama, một con người, sanh và sống trong nhân gian, đã cố gắng hướng hết tâm trí và khả năng của chính mình, đem ứng dụng vào sự thực hành tu tập trong việc cầu đạo, nhằm giúp cho con người có một cuộc sống an lạc, qua sự tự biết rèn luyện  và sống theo giáo pháp của một Bậc đã hoàn toàn Giác ngộ.

Ứng Thân, hay biến hóa thân, là thân của Đức Phật, chuyển hóa theo quá  trình trãi qua trong cuộc một đời của một con người, nhưng là một con người biết khắc phục mọi phiền não, bằng sự hàm dưỡng tu tập quán sát nội tại trong thân tâm để vượt qua những trở ngại, mang phẩm chất lợi tha toàn diện và một con người đã biết dựng đứng lại những gì bị quăng bỏ, bị quên lãng, trong khả năng trí giác thẩm thấu thật tánh của các pháp nhân sinh vũ trụ, sẳn có ở mỗi người.

Từ bảy bước chân đi, một tay chỉ lên trời, tay kia chỉ xuống đất và nói sau khi chào đời của Thái tử Siddhārtha Gautama tại vườn Lâm tỳ ni :

Pali                                         Ý Việt

Aggo ham asmi lokassa       Ta là người cao quý nhất thế gian. 
Jetto ham asmi lokassa       Ta là người giỏi nhất thế gian.
Setto ham asmi lokassa       Ta là người kiệt xuất nhất thế gian.
Ayam
antimā jāti                  Đây là lần tái sinh cuối cùng.
Natthi
dāni punabbhavo      Bây giờ không còn tái sinh!.

Đây là việc nói lên sự Ứng Hiện của bậc đại thánh ở thế gian và đã sanh ra ở thế gian này. Bảy bước chân và mỗi bước có hoa sen đỡ chân cho Thái tử Siddhārtha Gautama lúc vừa đản sanh, là hình ảnh biểu đạt con đường đi đến sự tỉnh thức hoàn toàn, qua bảy quá trình tu tập, được biết sau ngày thành đạo của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni như sau : Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát Thánh đạo.

Mỗi bước chân đi của Đức Phật, là sự làm chuyễn hóa hiện hạnh nguyện : Từ, Bi, Hỷ, Xả, bằng trí tuệ, để đem tình yêu và hạnh phúc đến cho muôn loài.

Aggo ham asmi lokassa       Ta là người cao quý nhất thế gian. 

Jetto ham asmi lokassa       Ta là người giỏi nhất thế gian.

Setto ham asmi lokassa       Ta là người kiệt xuất nhất thế gian.

Đây cũng là những hình ảnh, sau này được người ta diễn đạt trong "Hồi ức hay chánh niệm của Đức Phật", để chỉ hành động của lòng sùng kính, tôn thờ, ngợi khen và suy niệm về Ngài qua những danh xưng dưới đây :

"Itipi so Bhagava. Thật vậy, Ðức Thế Tôn có :

Araham : Ứng Cúng

Samma sambuddho : Chánh Biến Tri.

Vijja carana sampanno : Minh Hạnh Túc.

Sugato : Thiện Thệ.

Lokavidu : Thế Gian Giải.

Anuttaro : Vô Thượng Sĩ.

Purisadammasarathi : Ðiều Ngự Trượng Phu .

Sattha devamanussanam : Thiên Nhân Sư.

Buddho : Phật.

Bhagavati : Thế Tôn."

Trong Phạn ngữ, cũng có ghi những danh xưng để tôn kính Ngài như sau :

Tathāgata : Như Lai, là người đã đến như thế hay người đã đến từ cõi Chân như.

Arhat : Ứng Cung, là người đáng được cúng dường, đáng được tôn kính.

Samyak saṃbuddha : Chính Biến Tri hay Tam miệu tam Phật đà, là người hiểu biết đúng tất cả các pháp.

Vidyā caraṇa saṃpanna : Minh Hạnh Túc, là người có đủ trí huệ và đức hạnh.

Sugata : Thiện Thệ, là người đã đi một cách tốt đẹp.

Loka vid : Thế Gian Giải, là người đã thấu hiểu thế giới.

Anuttara puruṣa : Vô Thượng Sĩ, là Đấng tối cao, không ai vượt qua.

Puruṣa damya sārathi : Điều Ngự Đại Trượng Phu, là người đã điều chế được mình và nhân loại.

Deva manuṣyānāṃ śāstṛ : Thiên Nhân Sư, là Bậc thầy của cõi người và cõi trời.

Bhagavān : Phật Thế Tôn, là Bậc giác ngộ được thế gian tôn kính.

Mười Danh Hiệu Phật trong Thi Ca Việt Nam được Thầy Minh Đức thi hóa :

 

Như Lai đúng thật không hai

Điểm tâm ứng cúng Như lai chính mình

Chính tri vạn pháp phân minh

Huệ từ đức hạnh quả tình viên dung

Lời nguyền lai động không trung

Thế gian tỉnh thức khắp cùng đẹp thay

Không còn mê ngộ đúng sai

Giữ mình trong sạch ở ngay dương trần

Người đời ghi tạc thượng nhân

Thế tôn giác ngộ chuyên cần noi theo

 

 

Ayam antimā jāti                 Đây là lần tái sinh cuối cùng.

Natthi dāni punabbhavo      Bây giờ không còn tái sinh!.

Hai câu này là hình ảnh chân thật hiển nhiên của Đức Phật, trong chu trình : Sanh, Lão, Bịnh, Tử, của một đời người được sinh ra và sống trong vũ trụ này cũng như tất cả vạn vật. Nhưng không phải dùng nó để chỉ bày cái lý không thay đổi.

Hai câu này là hình ảnh nói lên cái nguyên lý chân thật của tất cả pháp và thể hiện cái tánh trường tồn của nó, mà Đức Phật là một con người toàn hảo, một con người có khả năng vô hạn để chứng minh những giá trị của thể tánh thường hằng, không sanh không diệt của vạn pháp và Ngài cũng chính là sự đan kết giữa hiện tượng và bản thể. Đức Phật là một bậc đã giác ngộ như vậy, như thế đó. Phiền não của lúc ban đầu tự chính nó, cũng là sự giác ngộ ở lúc cuối cùng.

Còn tiếp

Kính bút

TS Huệ Dân

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

5.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập