Nhân Cách Và Sự Giáo Dục của Đức Phật

Đã đọc: 5792           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Mục Lục

Lời Nói Đầu

Trích Yếu

PHẦN 1: Đức Phật là một vị Thầy vĩ đại, một nhà nghệ thuật sống, một kỹ sư tâm hồn

PHẦN 2: Nhân cách đặc sắc của Đức Phật

I.       Hiểu rõ học trò

II.      Tinh thông bổn hạnh tri thức và trung thành với chân lý

III.     Không ngừng học tập và niềm cảm mến rộng rãi

IV.     Thái độ giáo dục công tâm dân chủ

V.      Niềm vui giáo dục và nhiệt tâm giáo dục

VI.     Tâm từ bi

VII.    Tinh thông ngôn ngữ và biện tài vô ngại

VIII.  Thân tâm khỏe mạnh và dáng vẻ trang nghiêm

IX.     Đầy đủ kiên nhẫn và niềm tin vững chắc

X.      Lời nói, thái độ sinh động thú vị và tính khôi hài

XI.     Khéo vận dụng các phong thái và động tác

XII.    Phương tiện thiện xảo và khéo dẫn dắt từng bước

XIII.  Những kỹ xảo khác

PHẦN 3: Những đặc sắc về giáo dục của Đức Phật

I.       Nội hàm phong phú

II.      Nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và điểm xuất phát hoàn thiện

III.     Đối tượng giáo dục phổ biến

IV.     Mục tiêu giáo dục cao thượng

V.      Nội dung giáo dục thực dụng và nghiệm chứng

VI.     Nội dung giáo tài chân thật

VII.    Nội dung giáo dục chính xác

VIII.  Phương pháp, tài liệu giảng dạy và khóa trình môn học viên dung

IX.     Nội dung giáo dục

X.      Hoàn cảnh giáo dục và phương pháp giáo dục

XI.     Hiệu quả giáo dục nổi bậc

XII. Nội dung giáo dục cứu cánh nhất

Lời kết

Tài liệu trích dẫn

Lời Nói Ðầu

            Suốt cuộc đời con người, đều ở chỗ dạy và học. Những người xung quanh chúng ta, ai cũng có điều hay để chúng ta học hỏi và ngược lại. Có lúc học điều gì đó với người khác, có lúc tràn đầy lòng nhân ái, âm thầm giúp đỡ người khác hướng thượng. Chăm sóc cha mẹ, anh em, bạn bè, hàng xóm .v.v… đồng thời học hỏi tán thưởng ưu điểm của người khác. Vì chỉ có khi nào chúng ta hòa mình trong chân thiện mỹ nhưng không còn thấy mình đã tồn tại trong chân thiện mỹ, lúc đó chúng ta mới có cuộc sống hạnh phúc an lạc.

            Từ khi học Phật đến nay, những lời dạy trong kinh Phật mang đến cho tôi những mỹ cảm vượt hơn tất cả. Mỗi lần nhìn lại nhân cách vĩ đại, gương mặt hiền từ và phong cách ưu nhã của Ðức Phật, trong lòng tôi tràn đầy niềm vui và dũng khí không gì bằng.

            Dù chúng ta bỏ qua không nói đến những kỳ tích trong kinh điển, tinh thần đạo làm người của Ðức Phật và những thành tựu hiện thực sinh động vẫn đáng cho mọi người ngưỡng mộ học tập noi theo.

            Ðức Phật bất luận ở mục tiêu giáo dục, phương pháp giáo dục và nội dung giáo dục đều có kiến giải độc đáo, mới mẻ. Tuy Ðức Phật không những đã cách chúng ta ngày nay hơn 2500 năm, mà còn trong những tháng năm dài vô tận, người vật đã biến thiên dời đổi rất nhiều; nhưng ngày nay đọc lại những lời của Ðức Phật dạy trong kinh điển, chúng ta vẫn cảm thấy mới mẻ biết bao, thực dụng hoàn thiện biết bao và gợi ra cho chúng ta biết bao niềm vui cuộc sống tâm linh. Nhưng xã hội trước mắt chúng ta lại có bao nhiêu người cần nó!

            Lần đầu tiên đọc kinh Phật, tôi liền bị hấp dẫn bởi nội dung sinh động đặc sắc, đồng thời cũng cảm động và tin phục bởi trí tuệ sáng suốt và nhân từ của Ðức Phật. Ðọc kinh Phật bao nhiêu năm rồi, tôi cảm thấy như mình mới được sinh ra đời trở lại. Tôi phát giác nội tâm mình điềm tĩnh hơn trước, có cuộc sống vui khỏe hơn trước nhiều.

            Trong lãnh vực Phật học, chúng ta khai thác thế giới tâm linh nội tại, giống như mỗi người đều sinh tồn ở mỗi nơi trong vũ trụ. Tôi tin điều Ðức Phật nói trong kinh: Vạn vật vốn đồng nhất thể, tâm tánh của mỗi người đều biến khắp cả vũ trụ mà không bị chướng ngại gì, giống như ánh đèn thông thường tỏa sáng trong một căn phòng. Duy chỉ có phá trừ được ngã chấp, chúng ta mới có thể thể nghiệm được chân lý này, mới có thể là đồng “một thể” trọn vẹn với vạn vật và đạt được cảnh giới “đại ngã” bình đẳng. Tuy tôi không hiểu Phật học nhiều nhưng may thay, mỗi ngày tôi đọc vài phẩm kinh Phật để tăng thêm hơi thở cho sinh mạng bình phàm này và cũng giúp cho tầm nhìn của mình xa hơn một chút.

            Nhưng nguyện quyển sách này là món quà nhỏ chân thành phụng hiến đến chư vị độc giả, đồng thời hy vọng những ai đọc qua quyển sách này đều sinh ra niềm cảm mến (hứng thú) với giáo dục nói chung và giáo dục Phật giáo nói riêng, đồng thời nhiệt tâm theo đuổi chân lý từ bi với vô lượng chúng sanh.

Trích yếu

Nội dung chủ yếu của quyển sách này là ở chỗ căn cứ từ trong kinh điển, gồm 3 phần:

Phần một, nói rõ Ðức Phật là một nhà giáo dục vĩ đại, là một nhà nghệ thuật thật sự hiểu cuộc sống và là một kỹ sư tâm hồn.

Phần hai, nghiên cứu thảo luận, nhân cách đặc sắc của Ðức Phật. Nói rõ Ðức Phật có đầy đủ 13 điều kiện của một vị Giáo sư giỏi, một vị Thầy giỏi: (1) Hiểu học trò, (2) Tinh thông bổn hạnh tri thức và trung thành với chân lý, (3) Niềm cảm mến không ngừng học tập và phổ biến rộng rãi, (4) Thái độ hợp tác công tâm, dân chủ, (5) Nhiệt tình giáo dục và niềm vui giáo dục, (6) Tâm từ bi, (7) Tinh thông ngôn ngữ và biện tài vô ngại, (8) Thân tâm khỏe mạnh và hình dáng trang nghiêm, (9) Ðầy đủ kiên nhẫn và niềm tin vững chắc, (10) Lời nói, thái độ sinh động thú vị và tính khôi hài, (11) Vận dụng linh hoạt các tư thế động tác, (12) Phương tiện thiện xảo và khéo dẫn dắt từng bước, (13) Lấy mình làm gương…và những kỹ xảo khác. Ðồng thời dẫn dụng kết quả nghiên cứu về giáo dục học, tâm lý học ngày nay và kinh nghiệm của bút giả để cùng nhau nghiệm chứng.

Phần ba, nói rõ những đặc sắc về giáo dục của Ðức Phật. Nói cách khác là chỉ ra sự giáo dục của Ðức Phật có gì khác nhau và có những đặc sắc nào so với sự giáo dục của những nhà giáo dục khác hay những nhà triết học có cái nhìn về giáo dục như: Aristokles (Plato), Flaubert, Dewey v.v…

Theo sự nghiên cứu của bút giả, sự giáo dục của Ðức Phật ít nhất có 12 điểm đặc sắc như sau: (1) Nội hàm phong phú, bao gồm: Sinh lý học, địa lý học, bác vật học (vạn vật học), thiên văn học, lịch sử học, triết học, dinh dưỡng học, vệ sinh học, đạo dưỡng sinh, y học, tương lai học, kinh tế học giáo dục, tâm lý học, logic học, luân lý học, chính trị học v.v… (2) Nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, và điểm xuất phát hoàn thiện. (3) Ðối tượng giáo dục phổ biến. (4) Mục tiêu giáo dục cao thượng. (5) Nội dung giáo dục thực dụng và nghiệm chứng. (6) Nội dung giáo dục chân thật. (7) Nội dung giáo dục chính xác. (8) Phương pháp, tài liệu giảng dạy và khóa trình môn học viên dung. (9) Cơ hội giáo dục quý báu. (10) Hoàn cảnh, phương pháp giáo dục kỳ diệu và nội dung giáo dục sâu xa huyền diệu. (11) Hiệu quả giáo dục rõ rệt (nổi bật). (12) Nội dung giáo dục cứu cánh nhất.

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi phát hiện rất nhiều điểm đặc sắc thú vị chen vào. Ví dụ như Ðức Phật rất thông hiểu về cấu tạo và thành phần từng mẩu bắp thịt, từng giọt huyết dịch, từng khúc xương, tủy xương trong cơ thể con người. Thậm chí không những mỗi người có 990 ngàn lỗ chân lông, Ðức Phật biết một cách rất rõ ràng; mà còn tình hình phát triển của một thai nhi từ lúc thọ tinh noãn cho đến khi sanh, Ðức Phật hiểu rõ như lòng bàn tay (xem phần 3 mục 1).

Mỗi quốc gia có bao nhiêu dãy núi sông ngòi; trong núi có những bộ lạc nào; trong rừng có những loại hoa gì, những loại cây gì, những động vật nào; núi cao bao nhiêu, rộng bao nhiêu; tình hình các dãy núi và sông ngòi phân bố như thế nào... Ðức Phật đều nói rất tinh tế tỉ mỉ (xem phần 3 mục 1). Còn rất nhiều điều thú vị khác, tôi không cần nói nhiều. Mời độc giả mở quyển sách này ra thưởng thức sẽ rõ.

PHẤN I

ÐỨC PHẬT LÀ MỘT VỊ THẦY VĨ ÐẠI, MỘT NHÀ NGHỆ THUẬT SỐNG, MỘT KỸ SƯ TÂM HỒN

Những học giả thông thường có hai cách nhìn đối với nhiệm vụ của một người Thầy. Thứ nhất cho rằng nhiệm vụ của người Thầy là ở chỗ gợi mở sự thông minh của học trò hoặc xúc tiến phát triển tiềm năng của học trò. Như Saint Thomas chủ trương “tri thức vốn là sản phẩm của thông minh và học vấn là sự sinh trưởng của hoạt động tự thân. Vì vậy giáo dục không những là truyền dạy hay tiếp nhận mà còn khơi ra, gợi ra, hướng dẫn, dùng tinh thần cổ vũ dưới phương thức chính đáng để vận dụng được năng lực bẩm sinh của học trò”. Cách nhìn khác cho rằng nhiệm vụ của người Thầy là truyền dạy cho học trò hệ thống tri thức, giá trị văn hóa, thái độ đạo đức v.v… Như một học giả người Mỹ W.G.Bagley nghiên cứu giáo dục sư phạm nói: “một người Thầy không những chính bản thân mình có năng lực thông hiểu văn hóa mà còn vận dụng nghệ thuật kỹ xảo và phương pháp hệ thống đem những tinh hoa văn hóa truyền dạy cho tuổi trẻ, giúp chúng phát huy tác dụng dung hòa”.

Hai cách nhìn của hai học phái này, mỗi học phái chấp một bên, trong sử học giáo dục cũng đã tranh luận rất nhiều. Người trước chủ trương giáo dục là một phương thức “đưa ra”, người sau lại chủ trương giáo dục là một quá trình “tiếp nhận”. Trên thực tế hai kiến giải này vốn không có mâu thuẫn với nhau. Vì thiên kiến và chấp trước của mỗi người cho nên trở nên đối lập. Ðức Phật hơn 2500 năm trước đã thấy rằng mỗi người đều có rất nhiều năng lực tiềm tàng. Phát huy những năng lực tiềm tàng này, ngoài những nhân tố do chính mình nỗ lực, chính mình giáo dục ra còn có sự trợ giúp của hoàn cảnh bên ngoài. Hoàn cảnh bên ngoài bao gồm: Thầy hướng dẫn tốt, sách vở, bạn tốt (trong kinh Phật gọi là “Thiện tri thức”), thiết bị học tập v.v… Thậm chí Ðức Phật còn ví dụ học trò là những cây non , mầm non; Thầy cô giáo là những người làm vườn. Mỗi cây non tự nó có thể lớn lên mà còn có thể phát triển thành những hình dạng khác nhau. Nhưng hình dạng thì có đẹp, có xấu, có tươi tốt, có khô héo. Nếu có người làm vườn giỏi đến chăm sóc nó, thường tưới nước, bón phân nó sẽ lớn rất nhanh và tươi tốt. Nói cách khác, tưới nước bón phân là một phương pháp và quá trình giúp cho cây non trưởng thành. Cũng vậy, giáo dục là đem tri thức tinh túy truyền đạt cho học trò và gợi mở tiềm năng của học trò hoàn toàn không có mâu thuẩn với nhau mà còn bổ sung cho nhau (tức phương thức giáo dục “đưa ra” và “tiếp nhận”).

Trong kinh Pháp Hoa phẩm Dược Thảo Dụ, Ðức Phật đã đem căn cơ, tính tình, sở thích của học trò ví dụ như những cây cỏ bậc tiểu, bậc trung và bậc thượng. Những cây cỏ bậc tiểu ví như những học trò có căn cơ thấp, cây cỏ bậc trung ví như những học trò có căn cơ bình thường, cây cỏ bậc thượng ví như những học trò thông minh hơn người. Ðức Phật ví dụ Ðức Phật như một đám mây, giáo pháp Ðức Phật nói là những hạt mưa. Vì căn cơ tư chất bẩm sinh và sở thích của học trò không ai giống ai cho nên Ðức Phật dùng nhiều phương pháp giáo dục khác nhau để thích ứng dẫn dắt học trò, khiến cho học trò mỗi người đều được trưởng thành trong giáo dục một cách tốt đẹp.

Giáo pháp của Ðức Phật nói ra, mỗi học trò vì tư chất bẩm sinh khác nhau và căn cơ không đồng nhau mà cảm nhận của mỗi người cũng không giống nhau. Ðiều này giống như sau khi đám mây đã mưa, tất cả cỏ cây đều được tưới nhuần, mỗi cây hoa cỏ tùy theo nhu cầu hấp thụ của nó mà bảo tồn một lượng nước thích hợp[1].

Theo kinh Phổ Tập và Chỉ Nguyệt Lục quyển 1 ghi rằng: Sau khi thái tử Tất Ðạt Ða xuất gia và trải qua 12 năm tu hành, ngày 8 tháng 12 năm 31 tuổi Ngài giải thoát tất cả phiền não, chứng Ðạo thành Phật, đạt được trí tuệ vô thượng. Sau khi Ðức Phật thành Ðạo, Ngài phát hiện tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật, nhưng vì vọng tưởng và chấp trước cho nên không phát huy được tánh quang minh, tiềm năng vĩ đại và không đạt được trí tuệ viên mãn.

Sau khi chứng Ðạo dưới cội bồ đề, Ðức Phật đã tư duy suốt 21 ngày, làm thế nào đem chân lý mà Ngài đã đạt được truyền dạy cho chúng sanh và làm thế nào giáo hóa những chúng sanh có căn cơ chậm chạp, khiến họ có cuộc sống hạnh phúc an lạc và đạt được trí tuệ cao nhất[2].

Từ đó về sau Ðức Phật bắt đầu thuyết pháp, giáo dục, giáo hóa chúng sanh suốt 49 năm không dừng nghỉ. Ðệ tử càng ngày càng đông, học trò càng ngày càng nhiều và Ðức Phật diễn thuyết đủ loại giáo pháp. Từ trong rất nhiều kinh điển của Ðức Phật chúng ta có thể thấy được Ðức Phật là một vị Thầy vĩ đại: Vì Ðức Phật có thể chữa trị tất cả bệnh tật về thân tâm của chúng sanh, giúp cho con người luôn hạnh phúc, an lạc, giải thoát khỏi những thống khổ của sanh già bệnh chết. Vì vậy trong kinh Phật thường gọi những lời Phật dạy là “Pháp dược”[3].

            Vì giáo pháp của Ðức Phật nói không có gì phá vỡ nổi, đồng thời nó có thể nghiền nát tất cả phiền não của chúng sanh, do đó trong kinh Phật thường gọi đó là “Pháp luân”[4].

            Vì Ðức Phật khéo vận dụng những pháp môn phương tiện để giáo dục học trò mà còn đoạn trừ những nghi hoặc tà kiến của học trò, giải quyết những khó khăn quấy nhiễu học trò, khiến cho học trò sau khi nhận được sự giáo dục đều đạt được niềm vui an lạc không gì sánh bằng, sống một cuộc sống vui khỏe không còn lo lắng, hoài nghi. Cho nên chúng ta tôn xưng Ðức Phật là một “Kỹ sư tâm hồn” và “Nhà nghệ thuật cuộc sống”[5].

Vì sao chúng ta tôn xưng Ðức Phật là Nhà nghệ thuật cuộc sống? Có hai nguyên nhân: Nguyên nhân thứ nhất là căn cứ vào định nghĩa “nhà nghệ thuật” trong quyển giáo dục tâm lý học (Educational Psychology) của nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ H.C.Lingren, nói rằng: cái gọi là “nhà nghệ thuật” chính là người giỏi về xúc tiến quan hệ giao tiếp giữa người và người, đồng thời trong quá trình giải quyết vấn đề có thể tùy cơ ứng biến, tùy nơi, tùy lúc, tùy vật, tùy người, tùy việc để xử lý một cách hợp lý. Nguyên nhân thứ hai là, chúng ta thấy rằng sinh mạng của mỗi người là một khối tài liệu nghệ thuật. Phàm những người giỏi về cuộc sống có thể đem những cảm nhận tốt đẹp nhất mà mình thể hội được truyền trao cho người khác, đều có thể gọi người ấy là “nhà nghệ thuật”. Ðối với người hiểu rõ về chân lý cuộc sống, giỏi về cuộc sống, mỗi hoạt động của người ấy đều là một tác phẩm nghệ thuật.

Lý do chủ yếu để chúng ta tôn xưng Ðức Phật là Kỹ sư tâm hồn: Nhà giáo dục học Addison nói rằng: “Giáo dục là mài giũa tâm linh, giống như nghệ thuật điêu khắc đem hòn đá lớn điêu khắc thành vật trang sức” (what sculpture is to a block of marble, education is to the soul). Và những cảm nhận của chúng ta khi mỗi lần đọc kinh Phật. Vì chúng ta hiểu rằng Ðức Phật giúp cho học trò xây dựng một tâm hồn khỏe mạnh và một cuộc sống vui khỏe an lạc, đồng thời nối liền tình cảm đôi bên, khiến mọi người hòa thuận sống chung với nhau, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, dũng cảm theo đuổi chân lý từ bi yêu thương hết thảy chúng sanh. Nếu Ðức Phật không phải là một Kỹ sư tâm hồn vĩ đại sao có thể làm được những điều này?!

Ðức Phật không những là một vị Thầy tốt mà còn là một nhà giáo dục vĩ đại. Ðức Phật không những là một vị trí giả năng thuyết thiện đạo, mà còn là một người mô phạm lấy mình làm gương. Ðức Phật không những là người chỉ đường mà còn là một người phụ trợ. Ðức Phật không những là một nhà phát hiện có sức quan sát nhạy bén mà còn là một nhà xúc tiến xây dựng phát triển nhân cách cho học trò. Ðức Phật không những là một Vị truyền dạy văn hóa, mà còn là một vị cố vấn và là Người bạn tốt nhất của nhân loại.

Ðức Phật làm việc nghiêm túc, thân thiện hòa đồng. Không những giỏi về hiểu biết tâm ý mọi người mà còn nhiệt tâm làm lợi ích chung. Ðức Phật không những hiểu rõ nguyên lý dạy học mà còn vận dụng đầy đủ kỹ xảo giáo dục có hiệu quả. Ðức Phật không những chú trọng phương pháp và tài liệu giảng dạy giáo dục đúng đối tượng mà còn nhấn mạnh bình xét giám định giáo dục. Ngài không những đem chân lý truyền dạy cho đệ tử mà còn chỉ ra sở trường và tiềm năng của học trò. Ôi một bậc Thầy vĩ đại, một Nhà nghệ thuật sống, một Kỹ sư tâm hồn!                                                    

PHẦN HAI

NHÂN CÁCH ÐẶC SẮC CỦA ÐỨC PHẬT

——Có đủ điều kiện của một Thầy giáo giỏi, một Giáo sư giỏi——

I. HIỂU RÕ (TÌM HIỂU) HỌC TRÒ

            Mỗi người ai cũng hy vọng người khác hiểu mình. Ðặc biệt là những học sinh cô lập, bất mãn hiện thực, thiếu được quan tâm lo lắng, càng là nhu cầu tìm hiểu của Thầy giáo. Như vậy chúng ta làm thế nào để hiểu rõ học trò? Ðức Phật dạy chúng ta rằng: Ðiều này chủ yếu dựa vào kinh nghiệm quan sát và sức quan sát nhạy bén được sinh ra sau khi thiền định. Thông thường, Thầy giáo dựa vào cảm quan của mình để tìm hiểu học trò. Thí dụ như, giáo sư Gilbbert Highet trường đại học Columbia đã trước tác quyển Nghệ thuật dạy học (The Art of the Teaching), phương pháp tác giả đưa ra là: “Quan sát học sinh và cùng nói chuyện với chúng. Sau khi tan học, có lúc có thể cùng vui đùa với chúng một chút. Thường cùng với chúng thảo luận hoặc cùng tham gia những trò chơi của chúng, nghe chúng nói chuyện thoải mái và không nên núp ngoài cửa nghe lén chúng. Từ những lúc nói chuyện tùy thích, từ trong ngữ điệu nói chuyện phiếm, học tìm hiểu trạng thái tình cảm và tình hình phát triển tâm trí của chúng. Còn một phương pháp có thể giúp chúng ta nữa, đó là: Nhớ lại những việc hồi thời thiếu niên của chính chúng ta… nhớ lại thấy càng giống thời niên thiếu của chúng ta, chúng ta càng nhiệt tình, đối với thanh niên chúng ta càng hiểu rõ.” Lại nữa, “Những thanh niên gian khổ nỗ lực làm việc, không ngoài muốn chính mình trở thành một người thật sự thành tựu. Vì vậy, nếu chúng ta muốn ảnh hưởng chúng ở từng phương diện, thì phải để cho chúng biết chúng ta biết rõ chúng từng người một. Bước đầu tiên nhớ tên của từng học trò, nhớ dáng điệu của chúng”.

            Ðức Phật cho rằng vận dụng những cảm quan và phương thức kinh nghiệm ở trên để hiểu học trò chỉ là bên ngoài, chỉ là một phần nhỏ. Chỉ có sức quan sát nhạy bén có được xuyên qua thiền định mới là hoàn toàn, mới là triệt để.

            Trong kinh Phật Ðịa nói rằng, Ðức Phật có Diệu quan sát trí, có thể thấy rõ tính chất, công năng và chân tướng của tất cả mọi người, mọi việc và mọi vật.

            Sức ghi nhớ của Ðức Phật làm mọi người ngạc nhiên. Ðức Phật không những thuộc lòng họ tên của từng học trò, mà còn ghi nhớ nội dung giảng dạy và tuổi tác, quê quán, tướng mạo, tình hình sức khỏe, tình hình phát triển trí tuệ, bối cảnh tâm lý, tình hình giao tiếp xã hội, trình độ tri thức, năng lực ghi nhớ, sức suy đoán và phán đoán, động cơ học tập, hiệu quả học tập, cá tính, tư chất bẩm sinh, thị hiếu đam mê, nguồn gốc gia thế, hoàn cảnh gia đình, tình hình gần đây của song thân của học trò v.v… Trong kinh Phật chúng ta thường có thể thấy được Ðức Phật gọi tên đệ tử rất thân thiết, đồng thời khen ngợi những ưu điểm và sở trường của học trò đúng lúc hợp thời. Ðức Phật không ngừng quan sát tính hướng và ngôn hạnh của học trò, đồng thời lợi dụng những cơ hội thích hợp để giúp đỡ hoặc sửa chữa, uốn nắn cho học trò, Ngài biết ở tình huống nào nên giúp đỡ những học sinh cá biệt, tình huống nào thích hợp cho giáo dục đào tạo tập thể, giúp cho tất cả học trò đều có thể thể hiện hết tài năng của mình, mỗi người triển khai hết năng lực của mình.

            Trong quyển 8 của kinh Ðại Thừa Lý Thú Lục Ba-La-Mật-Ða ghi rằng: Bất luận là đi, đứng, nằm, ngồi, động, tịnh, nói năng, im lặng… tinh thần của Ðức Phật luôn chuyên tâm nhất chí, an nhiên tự tại. Ðức Phật lúc nào cũng nhập định, đồng thời vận dụng trí tuệ do thiền định để hiểu các tình huống của đệ tử, sau đó diễn thuyết chiều sâu đạo lý thích hợp, khế hợp với căn cơ của học trò. Cho nên trong quyển một kinh Vô Lượng Thọ và kinh Diệu Pháp Liên Hoa đều miêu tả Ðức Phật có thể hiểu rõ tư chất bẩm sinh và tập tính quá khứ của đệ tử cho đến những nhu cầu và sở thích hứng thú hiện tại của học trò[6].

            Quyển hai của kinh Ma Ha Bát Nhã nói: Bất luận trong tâm những đệ tử có tạp niệm hay không, có động cơ học tập mạnh hay không, có cảm thọ đặc thù hay không, có sân hận phiền não hay không, có nghi hoặc hay không, có tham ái hay không, có lo lắng hay không, có giải thoát hay không, chuyên tâm hay loạn tâm, tấm lòng rộng rãi hay hẹp hòi, có hoài bão lớn hay không v.v… Ðức Phật đều biết rõ mồn một.

            Ðức Phật không những có thể hiểu rõ tất cả tình trạng của học trò, mà còn biết được tâm lý của các loại động vật có trong vũ trụ.

            Quyển 15 của Ðại Thừa Nghĩa Chương và quyển 23 của Ðại Trí Ðộ Luận, gọi những hiểu biết của Phật là “tha tâm trí”, kinh Bát Nhã gọi là “tha tâm thông”[7].

            Về tình hình Ðức Phật hiểu rõ học trò, chúng ta có thể lấy ra ví dụ như sau để thấy rõ: Ðức Phật đã từng dùng bốn loại ngựa giỏi để tỷ dụ đệ tử của Ngài. Những học trò có tư chất bẩm sinh tốt nhất giống như con ngựa giỏi hạng nhất, chỉ cần nhận được một chút tín hiệu ngầm thì có thể hiểu rõ rất nhiều đạo lý. Những học trò có tư chất bẩm sinh kém hơn một chút phải nhận được chút ít sự dạy dỗ mới có thể hiểu đạo. Những học trò kém hơn chút nữa phải hướng dẫn dạy bảo và nói rõ mới hiểu đạo. Những học trò hạng thứ tư phải nhiều lần tha thiết hết lời dạy bảo giáo huấn, thì chúng mới hiểu những lời dạy của vị Giáo sư hay vị Thầy của mình[8].

            Ðức Phật không chỉ biết tư chất bẩm sinh của đệ tử, mà còn biết rõ nên dùng phương thức gì mới có thể khiến cho học trò giải thoát các phiền não, cần trải qua bao nhiêu thời gian mới có thể gợi mở tâm trí của chúng. Thí dụ, Ðức Phật biết có những học trò chỉ cần nói nhẹ nhàng với chúng là được rồi, có những học trò phải vất vả dạy dỗ khuyên bảo mới được. Có những học trò chỉ cần dùng tài liệu giảng dạy loại A liền có kết quả, có những học trò phải dùng tài liệu giảng dạy loại B, C, D… mới thu được kết quả tốt[9].

            Có một điều rất bất khả tư nghì chính là, trong một khoảnh khắc sát na Ðức Phật cùng lúc có thể biết rõ hiệu suất học tập, tâm lý và hành vi của tất cả học trò. Cho dù học trò nhiều hơn nữa, tài năng này của Ðức Phật vẫn vận dụng tự nhiên, nhuần nhuyễn[10].

II. TINH THÔNG BỔN HẠNH TRI THỨC VÀ TRUNG THÀNH VỚI CHÂN LÝ

            Làm một vị Thầy tốt, một vị Thầy giỏi không những phải tinh thông những khoa mục mà mình dạy, mà còn phải hiểu biết tất cả tri thức nào có liên quan với những khoa mục mà mình dạy. Chỉ cần học sinh hỏi đến vấn đề có liên quan, Thầy giáo liền đưa ra một đáp án vừa ý học trò, cổ vũ học sinh học tiến bộ hơn nữa. Nếu không thì, Thầy giáo không cách nào làm thỏa mãn lòng ham muốn học hỏi hiểu biết của học trò, thậm chí không được niềm tin của học trò.

            Chúng ta nên biết: Khi học trò có vấn đề đi thỉnh giáo Thầy, giả sử giáo sư không quen thuộc đối với môn học đó và không có cách nào giải đáp hoặc khi giải đáp thì không có đầu đuôi, thì lòng tôn kính của học trò đối với Thầy và niềm hứng thú đối với môn học đó có thể sẽ giảm xuống. Vì học sinh hỏi vấn đề là biểu hiện trong lòng của chúng có những nghi hoặc, có những suy nghĩ, có mâu thuẫn hoặc có tâm hiếu kỳ. Nếu nhiều lần Thầy giáo không cách nào khai thông lòng hiếu kỳ của học trò, hoặc không cách nào giải quyết những tâm lý nghi hoặc bất an của chúng, thì nhiệt tâm học hỏi tìm tòi hiểu biết của chúng sẽ không còn nữa.

            Theo kinh Phật ghi rằng, Ðức Phật không những tinh thông giáo tài, khai khẩu thành chương, mà còn hiểu rõ tất cả sự vật và chân lý trong vũ trụ. Ngài giải quyết tất cả những nghi hoặc trong lòng những học trò, đồng thời gợi mở một cách thích hợp cho học trò để chúng tiến bộ. Phần lớn trong kinh Phật đều là những tài liệu ghi chép những giải đáp của Ngài cho học trò, trong mấy nghìn bộ kinh hay này, chúng ta thực sự khó tưởng tượng được học vấn của Phật sao mà uyên thâm đến như vậy!

            Vì Ðức Phật quả thật hiểu rõ tất cả chân lý, cho nên đệ tử của Ngài tôn xưng Ngài là bậc “Chánh Biến Tri”. Vì Ðức Phật hiểu biết một cách triệt để tất cả sự việc của tất cả động vật và phi động vật, cho nên học trò của Phật tôn xưng Ngài là bậc “Thế Gian Giải”, “Vô Thượng Sĩ”. Vì Ðức Phật có thể giải quyết tất cả những khó khăn trắc trở phiền não khổ đau của cõi người và cõi trời nên Ngài được tôn xưng là “Thiên Nhân Sư”. (xem Ðại trí độ luận và Du kỳ kinh sớ)

            Bài kệ xưng tán Phật trong kinh Hoa Nghiêm ghi rằng:

                                    Thiên thượng thiên hạ vô như Phật

                                    Thập phương thế giới diệc vô tỷ

                                    Thế gian sở hữu ngã tận kiến

                                    Nhất thiết vô hữu như Phật giả

Tạm dịch:

                                    Trên đời không ai bằng với Phật

                                    Mười phương thế giới cũng chẳng sánh

                                    Những gì con thấy trên đời này

                                    Tất cả không ai bằng Phật vậy!

            Trong phẩm Dược vương kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói: “Ðức Phật đã thấu triệt tất cả chân lý. Ðức Phật hiểu biết rõ tất cả sự vật hiện tượng một cách tự nhiên, tự do tự tại”.

            Vì sao Ðức Phật hiểu biết rõ tất cả chân lý như lòng bàn tay? Vì Ðức Phật đã thấy rằng tánh linh (Phật tánh) của mỗi người có khắp mọi nơi, biến khắp mọi nơi trong vũ trụ. Nói cách khác, tất cả sự vật trong vũ trụ đều là sự hiển hiện tánh linh của mỗi người. Tánh linh của mỗi người đều là vô cùng, vô hạn, đều là nhất thể, chúng đan xen với nhau, nhưng lại không gây trở ngại nhau, giống như chúng ta treo rất nhiều đèn điện trong một căn phòng, ánh sáng của tất cả ngọn đèn đó không có cản trở, không có trở ngại cho nhau. Chỉ vì chúng ta chấp trước vô minh và tự tư, ích kỷ cho nên tri giác giới hạn ở trong một phần nhỏ, mà không cách nào đạt đến vũ trụ bao la rộng lớn. Do Ðức Phật đã đoạn trừ tất cả vô minh và chấp trước, đã đoạn trừ tự tư và chứng đắc đại ngã vạn vật đồng nhất thể, do đó linh tri của Phật không bị giới hạn mà đã biến khắp không gian vô cùng.

            Vì Ðức Phật đã gạt bỏ tất cả những chướng ngại của tâm trí, cho nên Ðức Phật nói: “Những gì Ta tư duy là chân lý, những gì Ta thực hiện là chân lý, chính lời nói của Ta cũng là chân lý. Tư tưởng và ngôn hạnh của Ta thường ở trong chân lý từ bi với tất cả chúng sanh. Hãy nhìn đây! Chính bản thân Ta cũng là chân lý. Ngộ chứng chân lý chẳng phải là đã thấy Như Lai rồi đó sao?” (He who has insight into the Dhamma sees the Buddha.)

            Muốn làm một vị Giáo sư giỏi, một vị Thầy tốt, ngoài việc tinh thông tri thức bổn hạnh ra, cũng nên hạ thủ công phu tu học chân lý từ bi với tất cả chúng sanh và giải thoát sanh, lão, bệnh, tử. Vì giải thoát phiền não và quan tâm đến người khác là vấn đề của tự thân mỗi người.

III. KHÔNG NGỪNG HỌC TẬP VÀ NIỀM CẢM MẾN, HỨNG THÚ RỘNG RÃI

     Làm một vị Thầy giỏi, một vị Thầy tốt, không những phải khiêm tốn học tập, nỗ lực không ngừng, đồng thời tiếp thu tri thức mới một cách rộng rãi. Như vậy, vị Thầy đó mới có thể xem là nhiệt tâm với tất cả những học trò có niềm cảm mến, niềm hứng thú khác nhau, để đi đến hiểu rõ chúng. Bất luận học trò cùng đàm luận với Thầy giáo về văn học, triết học, nghệ thuật, tôn giáo, lịch sử, địa lý, thiên văn, thời sự, phương pháp đọc sách, con đường kết bạn, nghệ thuật diễn thuyết và phương thức nghỉ ngơi, Thầy giáo có thể nói cho học sinh nghe tất cả, đồng thời hướng dẫn, gợi ý, động viên học sinh nhiều tư tưởng lành mạnh, vui tươi.

            Một vị Thầy, một vị Giáo sư nếu không nỗ lực học tập, thì vị Thầy ấy sẽ càng lạc hậu, sẽ dẫn đến có những kiến giải tách rời với sự hiểu biết của học trò. Một ngày nào đó không hợp với kiến giải của học trò, cũng sẽ liên quan đến việc tách rời tình cảm với học trò, vì vị Thầy đó không cách nào làm hài lòng, làm thỏa mãn tinh thần học hỏi tìm tòi tri thức của học trò, và cũng không cách nào hiểu rõ được học trò của mình.

     Theo Ðại Trí Ðộ Luận, quyển hai và rất nhiều kinh Phật ghi rằng, trước khi thái tử Tất-Ðạt-Ða xuất gia học đạo, Ngài có niềm hứng thú rất rộng lớn, đồng thời tinh thông văn học, thiên văn địa lý, y học, biện luận, lễ nghĩa, chiêm tinh, thanh luận, thư số, ca múa, mỹ thuật, võ thuật, thần lực hơn người, văn võ song toàn, trí dũng đều đủ.

            Về phương diện văn học, lúc 7 tuổi Ðức Phật đã tinh thông 64 loại thư tịch. Học giả Tỳ Sa Mật Ða La (Visvàmistra, là vị Thầy giỏi nhất trong nước được mời đến hoàng cung để dạy cho Thái tử) giỏi nhất về văn học trên toàn quốc lúc bấy giờ chỉ tinh thông hai loại mà thôi. Chỉ trong khoảng từ 7 đến 12 tuổi, Thái tử đã học thông thạo 4 thánh điển Veda và 5 môn học: Thanh minh (ngôn ngữ và văn học), Công xảo minh (công kỹ nghệ học), Y phương minh (y học), Nhân minh học (lý luận học) và Nội minh học (đạo học). Quả thực trình độ văn học của Thái tử thời bấy giờ lại vượt qua người Thầy của mình. Ví dụ, có một lần, trong sách thiếu hai chữ, những học trò bên cạnh hỏi Thầy giáo, vị Thầy giải đáp không được, ngược lại Thái tử lại giải thích một cách tường tận. Lúc ấy vị giáo sư hỗ thẹn nói với vua Tịnh Phạn rằng: “Công tử của Bệ hạ thông minh như vậy, quả thực có thể làm một vị Thầy giỏi rồi, sao còn mời thần đến dạy?”

            Về phương diện võ thuật, khi Ðức Phật còn là một Thái tử, Ngài đã tinh thông 29 loại võ nghệ. Ngài có thể dùng tay cử một con voi lớn, ném lên không trung, sau đó dùng tay tiếp lấy con voi ấy từ không trung rơi xuống và con voi ấy không bị thương gì cả. Có một lần trong cuộc thi bắn cung, Thái tử bắn một mũi tên xuyên qua 7 lớp trống đồng, đồng thời đạt được giải quán quân về võ thuật.

            Kinh Chúng Sanh Tam Muội ghi rằng, từ khi Ðức Phật lập chí truy cầu trí tuệ vô thượng để phổ độ tất cả chúng sanh cho đến nay, chính là học rộng tất cả kinh điển, thành thạo tất cả kỹ nghệ, y thuật, ngôn ngữ, lô gic, vận luật của thế gian và trong lòng không bao giờ biết chán ngán, mệt mỏi. Ở phương diện tu thân dưỡng tánh, Ngài luôn theo tinh thần “không điều thiện nhỏ nào mà không làm” và “không điều xấu ác nhỏ nào mà không trừ bỏ”, không ngừng tu tập các hạnh lành. Ðồng thời dùng các pháp thuần thiện giáo hóa mọi người, và không biết mệt mỏi. Ngoài ra Ngài còn không ngừng bố thí tất cả những gì mình thích nhất cho người khác, không bao giờ luyến tiếc[11].

            Theo Ðại Trí Ðộ Luận, vì từ khi Ðức Phật phát nguyện giáo hóa chúng sanh cho đến nay, Ngài luôn tinh cần học các thiện pháp và nghệ thuật của thế gian, luôn nghiêm giữ các giới luật, chuyên tâm tu học trí tuệ, không tiếc thân mạng và cũng chưa từng sợ hãi. Ðức Phật chỉ vì lợi người cứu đời, và không bao giờ mong cầu quả báo và danh lợi[12]

     Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ghi rằng: Vô số kiếp về trước Ðức Phật đã từng thân cận và học hỏi các pháp môn với rất nhiều các bậc Thánh. Vì Ðức Phật không ngừng nỗ lực, tinh tấn cho nên ngày nay mới thành tựu trí tuệ cao nhất[13].

            Sự tích nói về sự tinh tấn học hỏi của Ðức Phật nhiều không thể kể xiết, thí dụ như: Trong kinh Niết Bàn miêu tả nhiều kiếp về trước Ðức Phật đã đến Tuyết Sơn cầu pháp, tình hình tinh tấn rất dũng mãnh, Ngài đã vì nữa bài kệ mà xả thân mình để cầu chánh pháp. Trong kinh Kim Quang Minh ghi rằng: Một trong những kiếp về trước Ðức Phật là một vương tử Tát Ðỏa, đã từng xả thân cho hổ đói để hoàn thành tâm nguyện tự lợi lợi tha. Kinh Tâm Ðịa Quán, quyển một ghi rằng: Trong những đời về trước, Ngài đã cùng Bồ tát Di Lặc theo Phật Phất Sa học đạo, vì Ngài rất tinh tấn, nỗ lực, chăm chỉ nên thành Phật trước Bồ tát Di lặc 9 kiếp. Từ khi Ngài sơ phát tâm từ bi đến thành Phật đạo đã tu tập tất cả ba đại a-tăng-kỳ kiếp. Nghĩa của a-tăng-kỳ là nhiều vô số, nói không rõ được, cũng có người giải thích nó gồm có một trăm nghìn tỷ tỷ tỷ tỷ năm. Và một đại kiếp có 1344 triệu năm, do đó 3 đại a-tăng-kỳ kiếp ít nhất có bốn tỷ tỷ tỷ tỷ tỷ tỷ năm, như vậy Ðức Phật tu ít nhất là 4 nhân với 1 tỷ lũy thừa 6 năm.

            Chính vì Ðức Phật đời đời không ngừng nỗ lực, tinh tấn tu học, cho nên trong kinh Bồ Tát Thiện Giới ghi rằng, Ðức Phật đã đoạn trừ vĩnh viễn tất cả phiền não và sanh tử, đã thành tựu được trí tuệ vô thượng, công đức và thần thông, do đó không có việc gì mà Phật không biết.

            Ðức Phật là một vị Thầy giỏi như vậy, tốt như vậy, thảo nào hàng đệ tử của Ngài cũng tinh tấn, dụng công, tu học trở thành những bậc tài đức rất nhiều. Ví dụ như, Ðức Phật có một đệ tử tên là Bạc Câu La (Vakkula), ông ấy đã theo Phật học chân lý từ bi đã 80 năm chưa từng nằm xuống giường, chưa từng ngủ, cũng chưa từng dựa vào vật gì đó. Cả cuộc đời của ông ấy luôn ở trong trạng thái tinh tấn, thiền định, an lạc. Ðức Phật có 1250 vị học trò luôn ở bên Phật tu học, những vị đệ tử này mỗi ngày chỉ ăn một bữa cơm trước giờ ngọ, thời gian còn lại đều dùng để tu tập, rèn luyện tâm trí, phẩm hạnh, đạo đức, cho nên hơn một nghìn vị học trò này, mỗi vị đều đoạn trừ phiền não và thùy miên, và thành tựu được đức hạnh và trí truệ của bậc Thánh.  

IV. THÁI ÐỘ HỢP TÁC CÔNG TÂM DÂN CHỦ

     Làm một vị Thầy, điều kiêng kỵ nhất là không công bằng đối với học sinh, hoặc đặc biệt thích một học sinh nào đó. Vì sau khi tình hình này xảy ra, học sinh sẽ không hài lòng với vị Thầy của mình, thậm chí chán ghét Thầy và chán ghét cả môn học mà Thầy dạy.

            Kinh Hoa Nghiêm ghi rằng, công tâm của Phật giống như mặt trời chiếu sáng đến vạn vật vậy. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng miêu tả, Ðức Phật vì lợi ích chúng sanh mà xuất hiện ở đời, giống như đám mây lớn khi mưa sẽ tưới nhuần tất cả cỏ cây hoa lá. Phật yêu thương tất cả chúng sanh với tâm bình đẳng, giáo hóa tất cả đệ tử một cách công tâm, không có phân biệt cao quý, hạ tiện, trên dưới, yêu ghét[14].

            Cái gọi là thái độ hợp tác dân chủ chính là lắng nghe, khoang dung, tha thứ những ý kiến khác nhau của học sinh, đồng thời sáng tạo một không khí học tập tốt và hoàn cảnh năng động để tận lực giúp đỡ học trò. Kinh Bồ Tát Thiện Giới ghi rằng, nếu có đệ tử không tin đạo lý của Phật nói, thậm chí làm trái với ý nghĩa, trái với những gì Phật thuyết, Ðức Phật không những không la rày trách móc, mà vẫn quan tâm chúng như thường, như những học trò khác[15].

            Bất luận là học trò thích hay không thích nghe dạy, Ðức Phật vẫn đối đãi với chúng một cách bình đẳng. Ngài chưa từng vì một học trò biết nghe lời mà đặc biệt thích học trò này, hoặc vì những học trò không nghe lời mà không hợp tác với chúng[16].

            Dù có người ác ý hủy báng Ðức Phật, Phật cũng không khởi một niệm gì, mà luôn quan tâm tích cực bình đẳng vô hạn. Còn những người hết lời xưng tán, cúng dường Phật, Phật vẫn bình tĩnh ung dung như cũ, hoàn toàn không có một động niệm nào. Ngài không lúc nào không giúp đỡ chúng sanh[17].

            Ðức Phật không những sống với đệ tử rất hòa hợp mà còn thường dạy bảo đệ tử bồi dưỡng tấm lòng rộng rãi để học hỏi, tiếp nhận tất cả chân lý. Ngài động viên, khích lệ học trò nghiên cứu các việc lớn nhỏ.

            Kết quả nghiên cứu của động lực học quần thể (group dynamics) và tâm lý học tri giác (perceptional psychology) đưa ra: Bất kể lúc nào, hành vi của một người đều là tác dụng của người đó hiểu biết về hoàn cảnh và tự ngã như thế nào. Nói cách khác: Thái độ của Thầy giáo và sự đánh giá phê bình của Thầy giáo đối với học trò, quan hệ giữa các học trò, thiết bị phòng học, các cấp lớp lớn nhỏ, tất cả những phương thức áp dụng lúc dạy học v.v… đều ảnh hưởng đến hành vi của học sinh.

     Nói chung, không khí xã hội lớp học (social climate) chủ yếu là do tính chất quan hệ giữa người và người trong lớp học (the quality of the interpersonal relationships) quyết định. Không khí lớp học không những có thể ảnh hưởng đến hiệu quả học tập và chủng loại học tập của học sinh lúc đó, mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách và cuộc sống tương lai của học sinh.

            Ví dụ như, mỗi một vị Thầy giáo dạy toán, đều hiểu biết công việc của ông ấy là đang dẫn đến niềm hứng thú về nguyên lý số học và đồ hình cho học sinh. Nhưng trên thực tế, phương thức và thái độ dẫn dắt học sinh của ông ấy làm cho học sinh cảm thấy chán ngán, mệt mỏi với môn toán học. Vì trong hoàn cảnh hay không khí học tập không tốt, học sinh không thể yên tâm học hoặc không cách nào có hứng thú lâu dài với môn học.

            Sau đây chúng ta đưa ra bốn loại hình dạy học và phản ứng của học sinh đối với những phương thức dạy học này, để nói rõ thái độ hợp tác dân chủ của Thầy giáo đối với ảnh hưởng của học sinh.

            Loại hình dạy học thứ nhất: Ðặc trưng của Thầy giáo độc tài, lãnh đạm, khắc nghiệt (Hard - Boiled Autocrat):

            1. Thường kiểm tra học sinh.

            2. Mong muốn học trò tiếp nhận mệnh lệnh ngay lập tức—kỷ luật nghiêm khắc.

            3. Vì vị Thầy này tin rằng khen ngợi sẽ chiều theo học trò và làm chúng trở nên hư đốn, cho nên ông ấy rất ít khen ngợi, rất ít tán dương học trò.

            4. Ông ấy cho rằng học sinh tự khắc phục, tự kiềm chế là điều không thể tin.

            Những phản ứng điển hình của học sinh đối với phương thức dạy học này:

            1. Thoạt đầu chúng làm ngược lại và ghét người dạy, cuối cùng khi không còn cách nào hơn, đành phải nghe theo.

            2. Thường xuyên phát sinh hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm (Buck-passing).

            3. Học sinh phát cáu, nóng nẩy, hấp tấp, mà còn không bằng lòng làm việc chung, thích phỉ báng và nói cạnh nói khóe sau lưng.

            4. Khi Giáo sư rời khỏi lớp học, học sinh bèn không muốn học và làm việc.

            Loại hình dạy học thứ hai: Ðặc trưng của người Thầy độc tài nhưng mà nhân từ (The Benevolent Autocrat):

            1. Người Thầy này không chú ý đến mình là người độc tài.

            2. Hay khen ngợi học trò và cảm mến chúng.

            3. Ðiểm độc tài của vị Thầy này ở chỗ ông ấy khéo dùng kỹ xảo. Ví dụ như, ông ấy nói: “ Ðó chính là những phương pháp và cách thức mà tôi thích!” hoặc “Làm thế nào các em làm những việc này cho tôi?” …

            4.  Hay ra vẻ mình là nguồn gốc tiêu chuẩn các công việc ở lớp.

            Những phản ứng điển hình của học sinh đối với phương thức dạy học này:

            1. Ða số học sinh đều thích vị Thầy này, nhưng có một số học sinh thấy rõ sự ra vẻ đóng kịch của ông ấy, chúng rất phiền chán.

            2. Học sinh có tính nương dựa, ỷ lại ở người Thầy, đồng thời chúng thiếu tinh thần tự giác, tự phát, tự động.

            3. Phục tùng theo nhưng không có cá tính.

            4. Lượng công việc tại lớp nhiều và chất cũng tốt.

            Loại hình dạy học thứ ba: Ðặc trưng của người Thầy thuận theo tự nhiên (The Laissez - Faire Teacher):

            1. Vị Thầy này không có niềm tin quản lý học sinh, hoặc ông ấy cho rằng học sinh nên thuận theo tự nhiên.

            2. Khi quyết định một việc gì đó cảm thấy khó khăn.

            3. Không có mục tiêu rõ ràng.

            4. Ðã không khích lệ học sinh, cũng không trừng phạt học sinh, thậm chí không tham gia các họat động của học sinh để giúp đỡ và góp lời khuyên chân thành với chúng.

            Những phản ứng điển hình của học sinh đối với phương thức dạy học này:

            1. Không những kém về quan niệm và hành vi đạo đức, mà còn học tập một cách qua loa.

            2. Giữa các em học sinh thường phát sinh hiện tượng đùn đẩy, không trách nhiệm, lười, không chăm chỉ.

            3. Việc học và dạy không hợp tác nhịp nhàng.

            4. Mọi người không biết nên làm gì.

            Loại hình dạy học thứ tư: Ðặc trưng của Thầy giáo, Giáo sư hợp tác dân chủ (The Democratic - Cooperative Teacher):

            1. Cùng với học trò đưa ra kế hoạch và quyết định các công việc.

            2. Giúp đỡ phụ đạo từng em học sinh một cách nhiệt tình, vui vẻ, và không vì điều này mà ảnh hưởng đến các em học sinh ưu tú.

            3. Tận tình cổ vũ khích lệ mỗi học sinh đến tham gia hoạt động học tập, sinh hoạt.

            4. Khen ngợi, tán thưởng và phê bình một cách khách quan.

            Những phản ứng điển hình của học sinh đối với phương thức dạy học này:

            1. Học sinh thích học và làm việc với Thầy, mà còn tôn kính giúp đỡ lẫn nhau.

            2. Chất và lượng vủa việc học và làm đều rất tốt.

            3. Tất cả học sinh tán thưởng khen ngợi lẫn nhau, mà mỗi em còn đảm đương gánh vác trách nhiệm của mình.

            4. Dù Thầy giáo có mặt hay không có mặt tất cả học sinh đều rất tự giác, chủ động.

            (Bốn loại hình dạy học này được trích từ quyển Tâm lý học giáo dục (Educational Psychology) của tác giả Blair, Jones & Simpson, tái bản lần thứ ba.

V. NIỀM VUI GIÁO DỤC VÀ NHIỆT TÂM GIÁO DỤC

Những nhà nghệ thuật đều có chung một đặc điểm, chính là nhiệt tâm yêu mến công việc mình làm, đồng thời đem toàn bộ sức lực tập trung vào công việc của mình làm. Một người Thầy muốn trở thành một kỹ sư tâm hồn và một nhà nghệ thuật cuộc sống, thì phải nhiệt tâm với giáo dục, có niềm cảm mến, niềm hứng thú với giáo dục, sau đó tập trung tinh thần trên công việc có niềm vui này, bằng không, không cách nào dạy cho học sinh đạt kết quả một cách tốt đẹp được. Ðiều này giống như một tác giả vĩ đại phải đem tình cảm chân thành tập trung vào hay để vào trong tác phẩm của ông ấy, nếu không, ông ấy không cách nào viết được đạt đến trình độ xúc động lòng người.

            Trong rất nhiều báo cáo nghiên cứu về tâm lý học hiện đại, chúng ta có thể thấy: Thái độ của Thầy giáo đối với công việc sẽ ảnh hưởng đến kết quả học của học sinh và không khí của lớp học. Một người Thầy không có hứng thú hoặc không nhiệt tâm với giáo dục, nói một câu nói vô tâm, hoặc bất kỳ hành vi vô ý nào cũng có thể in thành một vết thương suốt đời trong tâm linh của học sinh.

            Từ trong rất nhiều kinh điển, chúng ta có thể thấy: Ðức Phật là một vị Thầy đầy nhiệt tâm, đầy hứng thú với giáo dục. Như kinh Niết Bàn, quyển 17 ghi rằng:  Phật Bồ tát có niềm vui ở việc thuyết pháp cho tất cả chúng sanh và vận dụng một cách nhuần nhuyễn, không một chướng ngại nào. Kinh Hoa Nghiêm, quyển 18 miêu tả Phật Bồ tát, tuy đạt được cảnh giới vô ngã, nhưng Phật Bồ tát lấy việc giáo hóa chúng sanh làm vui, chưa từng cảm thấy mỏi mệt. Thậm chí Phật không ghét bỏ những chúng sanh nhiều lần phạm giới, hoặc chúng sanh có tánh xấu ác, mà còn vui vẻ dạy dỗ giáo hóa họ[18].

            Theo kinh Phật nói rằng, phàm là những bậc Thánh giả từ tam địa Bồ tát trở lên đều có tài nói chuyện và tinh thần giáo hóa chúng sanh, Bồ tát vừa lãnh ngộ hoặc học được chân lý vi diệu, lập tức có niềm vui vì tất cả chúng sanh mà diễn thuyết. Giống như cha mẹ vừa có được một vật gì rất tốt đẹp hoặc một cái gì đó ăn rất ngon, liền vui với việc đem những thứ đó cho đứa con của mình. (Pháp Hoa Gia Tường Sớ, quyển 2)

            Trong kinh Phật lại nhắc đến Ðức Phật có du hý thần thông. Ðây là chỉ Ngài giỏi về vận dụng các phương pháp kỳ diệu để giáo hóa dạy dỗ chúng sanh làm niềm vui (Mời xem thêm Triệu Chú Duy Ma Cật, quyển 5). Ðại trí độ luận, quyển 7 nói, Ðức Phật vận dụng tài năng giống như sư tử tự do tự tại ở giữa đàn nai.

            Phẩm phương tiện kinh Pháp Hoa và Ðại Thừa Nghĩa Chương, quyển 11 miêu tả, Ðức Phật không những nhiệt tâm giáo dục, mà còn dũng cảm giới thiệu tất cả những chân lý với chúng sanh.

VI. TÂM TỪ BI

     Từ và bi trong kinh Phật không giống nhau. Từ là chỉ đem niềm vui đến cho học sinh, bi là chỉ đem hạnh phúc đến cho học trò. Từ gần giống như thông thường người ta gọi là yêu thương, bi gần giống như dân gian gọi là quan tâm. Làm một vị Thầy tốt, sau khi hiểu rõ những hoàn cảnh, bẩm chất, thói quen của học trò, vị Thầy ấy tìm cách thông cảm với những khó khăn và nỗi khổ tâm của học trò, mà còn đưa ra các hành động thực tế để giải quyết những khó khăn của chúng. Ðồng thời nghĩ ra các cách để giúp đỡ từng học sinh, khiến cho chúng có được thân khỏe mạnh, tâm an lạc, vui vẻ.

            Ví dụ nói, em học sinh A nào đó thành tích học tập không tốt. Thầy giáo nhất định không được vì điều này mà tùy tiện quở mắng học sinh đó, hoặc nói lời nhụt chí với em đó như “em là một học trò hư, thật chẳng có triển vọng gì! Nếu không cố gắng, tương lai chỉ đi làm công… !” Vì những lời này không có ích gì cho học sinh ấy. Lúc này việc quan trọng nhất của Thầy nên làm là tìm ra nguyên nhân dẫn đến kết quả học tập không tốt của học sinh A đó, để tìm phương pháp giúp đỡ học sinh đó. Ví dụ: Thành tích của học sinh ấy không tốt có thể là: (1) Vì thiếu dinh dưỡng hoặc thiếu vitamin nào đó, đến nỗi nội phân tiết không điều hòa; (2) Vì hoàn cảnh gia đình (chùa chiền) không tốt, phải bận bịu giúp việc nhà (việc chùa), cho nên không có thời gian đọc sách, học bài; (3) Vì gia đình của học sinh đó có việc tranh chấp, khiến cho em đó không yên tâm học; (4) Hoặc chính học sinh đó không có bạn bè tốt, do đó cảm thấy trong lòng buồn chán, không học được; (5) Vì sau mỗi ngày tan học, học sinh ấy chạy đi chơi ở một nơi khác; (6) Hoặc là phương pháp học của học sinh đó không tốt, không thích hợp; (7) Hoặc là học sinh đó không có hoàn cảnh và thiết bị học tập tốt; (8) Hoặc học sinh đó không thích hợp với giọng nói hoặc phương thức dạy của Thầy giáo v.v… Thầy giáo nên nghiên cứu phân tích nguyên nhân dẫn đến kết quả học tập không tốt của học sinh, sau đó chọn phương pháp giải quyết thích hợp. Ví dụ, trong trường hợp thứ nhất, Thầy giáo có thể kiến nghị với phụ huynh học sinh cho các em ăn thức ăn có dinh dưỡng cao một chút, nếu thực sự gia đình quá nghèo khó, Thầy giáo có thể tự cân nhắc đem một ít tiền đến giúp đỡ học sinh ấy, hoặc phát động quyên góp để giúp đỡ học sinh đó. Ở trường hợp thứ hai, Thầy giáo có thể kiến nghị với gia đình giảm bớt một số công việc gia đình cho học sinh, đồng thời khuyên các bạn đồng học lạc quyên để giúp đỡ học sinh ấy, hoặc đăng báo nhờ những người nhân từ, hảo tâm giúp một tay. Trường hợp thứ ba, Thầy giáo nên nghĩ cách để hòa giải tranh chấp gia đình. Trường hợp thứ tư, Thầy giáo có thể nói cho học sinh ấy biết về con đường kết bạn, kêu gọi những học trò khác quan tâm đến học sinh ấy nhiều hơn, hoặc đưa ra nhiều trò chơi trong giờ sinh hoạt để tăng thêm tình thâm giao của toàn thể lớp học. Trường hợp thứ năm, Thầy giáo có thể phân tích cho học sinh ấy nghe về lợi hại của những người không tốt (du đãng), hoặc lấy đề tài “ảnh hưởng không tốt của du đãng đối với học tập” làm đề tài thảo luận, hoặc làm đề văn, để cả lớp cùng viết. Trường hợp thứ sáu, Thầy giáo chỉ dạy cho học sinh phương pháp học nào thích hợp, hoặc tổ chức buổi thảo luận trên lớp để tất cả học sinh đều tham gia “phương pháp học nào là phương pháp có kết quả tốt nhất”. Trường hợp thứ bảy, Thầy giáo có thể kiến nghị với phụ huynh học sinh, mua cho học sinh đó một cái bàn học, hoặc thay đổi bóng đèn để ánh sáng được tốt hơn… Trường hợp thứ tám, Thầy giáo có thể kêu gọi các em phát biểu, đóng góp ý kiến phương pháp dạy học của Thầy, hoặc mời các em biên soạn và diễn một vở kịch, để các em tự do đem những ý kiến mới biểu hiện trên vở kịch. Trường hợp hiếm hoi, nếu học sinh ấy nghe không rõ giọng trọ trẹ (giọng tạp ngữ âm địa phương) của Thầy giáo, đành phải chuyển học sinh đó đến một lớp khác.

            Tám phương thức xử lý nói trên là chúng ta dựa vào tinh thần từ bi của Ðức Phật làm điểm xuất phát. Vì Ðức Phật gợi mở cho chúng ta: Phải theo tinh thần “thương người như thương mình” làm điểm xuất phát để giáo hóa chúng sanh.

            Theo kinh Niết Bàn, Phật Trì Luận quyển 5 và Ðại Trí Ðộ Luận quyển 20 nói rằng, từ bi có thể chia làm ba loại như sau:

            A. Chúng sanh duyên từ bi: Vì phàm phu chưa phá trừ được ngã chấp, họ làm việc gì đều chấp trước vào phân biệt rất rõ đâu là việc của mình, đâu là việc của người, đâu là lợi ích của mình, đâu là lợi ích của người. Vì lúc thực hành từ bi, luôn cảm thấy “người, mình và từ bi”—Tôi đang thực hành hạnh từ bi, người nào đó đang nhận tấm lòng từ bi của tôi và đây là hạnh từ bi. Vì vậy người bình thường hành từ bi, luôn luôn xuất phát từ quan điểm lợi và công. Họ luôn luôn hy vọng có được nhiều công đức. Những người này nhiều nhất chỉ có thể xem đối phương như là cha, mẹ, anh, chị và em của mình, sau đó mới thực hành hạnh từ bi.

            B. Pháp duyên từ bi: Những người đã đoạn trừ được ngã chấp và phiền não (ví dụ như Bồ tát, La hán), có thể làm được thương người như thể thương thân. Vì khi làm bất cứ việc gì, họ đều không chấp vào phân biệt nhân ngã (người và mình). Nhưng vì những người này chưa đoạn trừ được chấp về ngã của pháp (kể cả Bồ tát và La hán), cho nên khi thực hành hạnh từ bi, họ còn cảm thấy những khái niệm đau khổ, đáng thương, từ bi, làm lành… Họ thường vì tội nghiệp đối phương đang đau khổ cho nên mới hành từ bi.

            C. Vô duyên từ bi: Loại từ bi này chỉ có Phật mới làm được. Vì Ðức Phật đã đoạn trừ triệt để tướng nhân, tướng ngã, tướng pháp cho đến cả ngã chấp và pháp chấp. Ðức Phật từ bi với tất cả chúng sanh một cách vô điều kiện, không giới hạn. Vì vừa có điều kiện (tức chấp trước) thì có lo lắng, không được tự tại. Vì ý niệm, ngôn ngữ và hành vi của Phật khế hợp với chân lý tự nhiên. Do đó khi Phật đang hành từ bi, Ngài hoàn toàn không cảm thấy mình đang hành từ bi, đối phương đang đón nhận từ bi, cũng không có nghĩ đến hạnh từ bi, mà tự nhiên khiến cho đối phương được an vui, hạnh phúc.

            Ðại Trí Ðộ Luận nói: Chính vì nguyên nhân này, cho nên không tiếc rẻ những gì Ngài có, không ngừng giúp đỡ vô lượng chúng sanh và không cảm thấy vất vả tí nào[19].

Trong kinh Ðại Phương Tiện Phật Báo Ân có nói đến một sự tích Ðức Phật quan tâm đệ tử rất cảm động lòng người.

            Khi Ðức Phật ở tại Trúc Lâm Tinh Xá, có một đệ tử bị bệnh lỡ loét sưng tấy đầy người, thường hiện ra những bọc mủ, ai nhìn đến cũng thấy sợ, cho nên ông ấy đành phải ở một mình trong một căn phòng mục nát nơi xa xa. Sau khi biết chuyện này, Ðức Phật lập tức âm thầm đến chỗ ông ấy ở. Ðức Phật tùy theo nhu cầu của người đệ tử và vì đệ tử mà phục vụ một cách vô điều kiện, Ngài còn lấy nước rửa những vết dơ và những bọc mủ trên thân người học trò v.v… Sau đó Phật dùng phương thức kỳ diệu để trừ những nỗi đau đớn trên thân đệ tử, lúc ấy người học trò muốn đứng lên lễ bái Phật, nhưng vì bệnh nặng đứng lên không nổi. Ðức Phật dùng tay phải lấy thuốc thoa lên thân bệnh của học trò, tay trái vuốt những chỗ lỡ loét sưng tấy. Nói cũng cảm thấy kỳ lạ! Những chỗ lỡ loét kia không bao lâu tất cả đều lành lặn. Lúc ấy người học trò kia vô cùng vui mừng hạnh phúc, ông ấy mong muốn Phật tiến thêm bước nữa, nói Phật pháp để trị phiền não trong tâm của ông ấy. Phật biết được tâm niệm của học trò, thế là Ðức Phật nói với đệ tử kia rằng: “Ta phải đến để báo ân người!” Ðệ tử cảm thấy vừa mừng vừa sợ một cách lạ thường. Tiếp theo Phật lại vì ông ấy giải thuyết thánh pháp nhân quả ba đời và giải thoát sanh, lão, bệnh, tử… Sau khi đệ tử nghe xong giáo pháp của Phật, tất cả phiền não và nghi hoặc trong lòng ông ấy từ đấy không còn nữa.

VII. TINH THÔNG NGÔN NGỮ VÀ BIỆN TÀI VÔ NGẠI

     Một vị Thầy giỏi, một vị Giáo sư tốt, phải giỏi về vận dụng ngôn ngữ, đồng thời đem những quan niệm mà mình muốn trình bày, biểu đạt một cách rõ ràng. Trong đó có hai nguyên tắc gần như rất quan trọng: Nguyên tắc thứ nhất là: “Thâm nhập giả thiển xuất”, nghĩa là khi nội dung tài liệu giảng dạy rất sâu, Thầy giáo nên dùng văn tự đơn giản dễ hiểu để diễn đạt nội dung đó, có như vậy học trò mới có thể hiểu rõ những khái niệm phức tạp một cách sâu sắc. Nếu không thì, dùng những văn tự sâu xa khó hiểu để giải thích những nghĩa lý khó hiểu sâu xa, như vậy có học trò nào hiểu đây? Nguyên tắc thứ hai là: “Thiển nhập giả thâm xuất”, nghĩa là khi nội dung giảng dạy đơn giản và dễ hiểu, Thầy giáo nên phát huy vận dụng hàm ý của nội dung này nhiều một chút, sâu một chút, để giúp học sinh có thể đạt được những khái niệm mới. Vì nội dung giáo tài đơn giản dễ hiểu nên mỗi học sinh đều hiểu hết, nếu Thầy giáo lại dùng văn tự đơn giản, giải thích nội dung một cách rất bình thường, học trò sẽ không chăm chú nghe, hoặc ngủ gật trong giờ học. Nhưng Thầy giáo cũng không nên phát huy nghĩa lý của giáo tài quá sâu, vượt ngoài tầm hiểu biết của học sinh, học sinh không cách nào hiểu được những gì Thầy nói, như vậy chẳng phải uổng phí công sức một cách vô ích sao?!

            Theo kinh Phật ghi rằng, bất cứ khái niệm nào, Ðức Phật không những biểu đạt rất sinh động, mà âm thanh rất rõ ràng, người ở xa cũng có thể nghe thấy. Ngài còn tinh thông nhiều ngôn ngữ địa phương, cho nên mỗi một đệ tử nghe xong đều cảm thấy rất thân thiết.

            Ví dụ như, kinh Pháp Hoa, phẩm Ðề-bà-đạt-đa nói rằng, Ðức Phật giỏi về trình bày chân tướng cứu cánh của các sự vật, khiến cho đệ tử đạt được trí tuệ một cách rất nhanh[20].

            Phẩm Thí Dụ kinh Pháp Hoa nói rằng, Ðức Phật có thể diễn thuyết chân lý một cách thao thao bất tuyệt khiến cho người nghe cảm thấy an lạc, nhẹ nhàng. Phàm những ai nghe Phật thuyết pháp, nghi hoặc của người đó bỗng nhiên không còn nữa, đồng thời cảm nhận được niềm hoan hỷ, vui vẻ mà trước đây chưa từng có[21].

            Ðức Phật không những giỏi về các tiếng địa phương, mà còn khuyến khích đệ tử nên học nhiều ngôn ngữ thực dụng, và dùng những ngôn ngữ đó nghiên cứu chân lý, truyền bá Phật pháp.

            Tài nói chuyện của Phật thật là tuyệt, Ngài đã từng biện luận rất nhiều, thuyết phục được sự kiêu mạn của ngoại đạo, phá trừ được tà kiến của ngoại đạo. Ngài đã từng dạy đệ tử nên tư duy hợp lý, chặt chẽ để giải quyết vấn đề, đồng thời khéo dùng biện tài để bảo vệ chân lý mà không làm tổn thương đến người khác. Nhưng Phật gợi ý cho học trò phải tinh tấn, nỗ lực bồi dưỡng tâm lương thiện và hành động sáng suốt, không nên tùy tiện biện luận với người khác. Vì tâm lương thiện và hành động sáng suốt mới là con đường hay nhất, tốt nhất cảm hóa chúng sanh tà kiến. Vì biện luận không thỏa đáng, rất dễ gây ra mất hòa khí và mang đến những phiền não vô nghĩa. Do đó Ðức Phật nghiêm cấm đệ tử tranh luận một cách vô ích, đồng thời nhắc nhở đệ tử hoằng dương chân lý, không được tự đề cao và chạy theo danh vọng. (Kinh Ðại Bảo Tích, quyển 1 và 2)

            Kinh Niết Bàn, quyển 17 và kinh Nhân Vương quyển hạ, miêu tả Ðức Phật: (1) Dùng những câu hay ý đẹp một cách nhuần nhuyễn, tự tại. (2) Thông đạt nghĩa lý một cách vô ngại. (3) Dùng nhuần nhuyễn các ngôn ngữ địa phương. (4) Hoan hỷ vì chúng sanh mà thuyết pháp, đồng thời rất giỏi biện tài.

            Phẩm Diệu Âm kinh Pháp Hoa nói rằng, Ðức Phật đạt được một loại thiền định rất vi diệu, gọi là “giải nhất thiết chúng sanh ngữ ngôn tam muội”, cho nên Ngài có thể thông đạt tất cả ngôn ngữ của động vật.

            Kinh Hiền Ngu, quyển 13 và kinh Luật Nhị Tướng, quyển 48 nói rằng: Có một lần, khi Ðức Phật thuyết pháp ở nước Ba-la-nại, trên không trung có 500 con chim nhạn nghe được âm thanh rất êm tai của Phật, bèn từ không trung bay xuống nghe Phật thuyết pháp, 500 chim nhạn này sau đó bị các thợ săn dùng lưới giăng bắt và ăn thịt, nhưng nhờ công đức nghe pháp mà được sanh về cõi trời Ðao lợi.

            Kinh Bách Duyên ghi rằng: Khi Ðức Phật ở Kỳ viên khởi hành đến nước Ma-kiệt-đà giáo hóa chúng sanh, có một con chim anh vũ vương cùng bay lượn với những đàn chim trên không trung, hót ra những tiếng rất trong trẻo, tỏ ra sự vui vẻ hoan nghênh chào đón, Ðức Phật biết những đàn chim này đang mời Ngài đi, thế là Ðức Phật gật đầu với những đàn chim này để biểu thị hứa khả. Khi Ðức Phật dẫn đoàn đệ tử đến rừng Anh Vũ lâm, những đàn chim trong rừng đã chuẩn bị đón tiếp Phật và đệ tử của Ngài từ rất sớm. Chúng bố trí sân bãi cho Phật và đệ tử của Ngài rất đẹp, đồng thời chuẩn bị rất nhiều hương hoa và trái cây tươi, và những âm thanh chi chít của chúng xướng lên, lại phổ thành một ca khúc nghe rất êm tai. Ðây là niềm vui được động vật mời khách, hình như chỉ có bậc hiền nhân rất từ bi yêu thương động vật, mới có thể hưởng thọ được vậy!

     Có điều khiến mọi người không thể nghĩ bàn là, trong kinh ghi rằng: Âm thanh và ngôn giáo của Phật có thể vang xa khắp nơi. Những người căn lành thuần thục rồi tuy ở xa nhưng vẫn nghe được, những người căn chưa thuần thục tuy ở gần nhưng vẫn nghe không thấu. Phật tùy theo tính hướng khác nhau của học trò mà cùng lúc diễn thuyết những chân lý khác nhau, khiến cho mỗi học trò nghe xong cảm thấy dường như Ðức Phật vì mình mà nói vậy. Phật không những có thể cùng một thời gian giảng nói nhiều pháp môn khác nhau, mà cũng có thể giảng một pháp môn, khiến cho đệ tử vì phát triển tâm trí mà lãnh thọ những điều lợi ích khác nhau. Quả thật quá kỳ diệu!

            Ðức Phật có thể dùng biện tài vô ngại để diễn thuyết tất cả các pháp môn, nhưng Ngài không có chấp trước các thiện pháp. Vì tất cả pháp môn Phật giảng dạy đều vì hóa độ chúng sanh. Ngài tuy tùy duyên thị hiện thuyết pháp, nhưng bản thể của Ngài mãi mãi bất sanh bất diệt. Lấy một ví dụ như sau: tham ái, sân hận và vô minh giống như bụi trần, phàm phu giống như mặt gương bị bụi trần che lấp, nhưng Phật giống như một tấm gương sáng vậy. Vì Ngài đã đoạn trừ tất cả tham ái, sân hận và vô minh. Tấm gương vừa được lau chùi hết bụi trần, liền có tác dụng chiếu sáng. Những vật gì đến liền phản chiếu hình ảnh của vật đó, những vật đó đi rồi không còn lưu lại dấu vết gì.

            Trí tuệ của Phật giống như tấm gương sáng, có thể tùy duyên thuyết pháp, tự do tự tại giáo hóa chúng sanh, không hề có bất kỳ một chướng ngại gì. Vì không có tham trước mới có thể vô ngại. Vừa có tham trước, tác dụng chiếu sáng của tâm trí sẽ bị che đậy, và cũng không cách nào khách quan được. Dù chấp trước thiện pháp hay chân lý cũng đều tạo thành tâm lý bất an, vướng mắc và trở thành chướng ngại cho sự gợi mở tâm trí. (Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn kinh)

            Tất cả pháp môn Ðức Phật thuyết giảng, đều là phương tiện giúp chúng sanh giải thoát những khổ não, đạt được cuộc sống hạnh phúc an lạc. Pháp môn và chân lý giống như một con thuyền, giải thoát khổ não giống như đã qua được bên kia sông. Người chưa qua sông đương nhiên phải cần đến phương tiện, nhưng một khi đã qua đến bên kia bờ sông rồi, lẽ nào vẫn phải cõng chiếc thuyền để đi một cách rườm rà như vậy sao? (ví dụ cho người không nên chấp trước thiện pháp) Cho nên Phật dạy: Hành thiện và không chấp trước tướng thiện và tướng ngã, mới là cao thượng nhất. Thực hành tu tập thiện pháp giống như luyện tập bắn cung vậy, phải tập luyện đạt đến trình độ cầm cung lên, không cần hao tâm tổn sức ngắm mà có thể bách phát bách trúng, đây mới gọi là thực hành đến nơi đến chốn. Tu tập thiện pháp cũng vậy, cũng luyện tập đến mức không cần phí tâm trí, giúp đỡ người khác một cách tự nhiên, tự do tự tại mà không cảm thấy gì hết. (Kinh Ðại Bảo Tích)

            Chân lý Ðức Phật dạy, chỉ là một phần nhỏ của vô số chân lý trong vũ trụ mà thôi. Nhưng thực hành theo lời của Phật cũng đủ để giải quyết tất cả những khốn khó của con người, thích hợp với mọi hoàn cảnh. Ðọc kinh Phật càng nhiều chúng ta càng cảm thấy giống như vua Càng Long, một ông vua nổi tiếng của Trung quốc nói: “Những lời hay trên đời này Ðức Phật nói hết rồi”. Vì tất cả trí tuệ, phẩm chất đạo đức cao thượng, những sự tích cảm động lòng người, những đạo lý đối nhân xử thế dường như không tách rời được những nguyên tắc nguyên lý mà Phật đã nói. Kinh Phật tuy bao la rộng lớn, nhưng nếu chúng ta chỉ cần hiểu rõ vài nguyên tắc, có thể cả đời hưởng cũng không hết lợi ích của nó.

VIII. THÂN TÂM KHỎE MẠNH VÀ DÁNG VẺ TRANG NGHIÊM

     Ðối với một vị Thầy giáo mà nói, thân thể khỏe mạnh rất quan trọng. Giả như không có một thân thể khỏe mạnh, mới nói có vài câu thì cảm thấy uể oải ỉu xìu, thì làm sao có thể nói một cách sinh động được? Ðặc biệt là khi vị Thầy đó nói về những đề tài như “nghệ thuật cuộc sống”, “phương pháp dưỡng sinh”, thì sức thuyết phục giảm đi hết một nữa.

            Tâm lý khỏe mạnh lại càng quan trọng hơn đối với Thầy giáo. Vì nhiều kết quả nghiên cứu về tâm lý giáo dục nói rằng: Tâm lý khỏe mạnh có sức cảm nhiễm. Một vị Thầy có tâm lý không khỏe mạnh vô hình trung sẽ sinh ra không khí không hài hòa, ảnh hưởng đến tâm lý của học sinh; ngược lại, một người Thầy có tâm lý khỏe mạnh, tự nhiên sẽ trở thành tấm gương tốt cho học sinh, để khuyến khích học sinh, gợi mở cho học sinh.

            Dáng vẻ hay hình dáng tuy không quan trọng như thân tâm khỏe mạnh, nhưng dáng vẻ cũng có thể quyết định một ấn tượng đầu tiên cho người khác. Ấn tượng ban đầu không tốt, sau này làm việc gì hiệu quả cũng sẽ giảm đi. Hơn nữa, dáng vẻ quá lôi thôi, tồi tệ, nhìn đến khiến người ta ghê tởm, vô hình trung sẽ ảnh hưởng đến không khí của lớp học, ảnh hưởng đến trạng thái tình cảm tâm lý của học sinh và hiệu quả học tập.

            Trong kinh Phật nói, tình trạng sức khỏe thân tâm của Phật và dáng vẻ trang nghiêm nho nhã thật là tuyệt vời. Ngài thuộc về mẫu Giáo sư giỏi “vọng chi nghiễm nhiên, tức chi dã ôn”, nghĩa là trông Ngài rất trang nghiêm, gần gủi hay tiếp xúc với Ngài cũng cảm thấy rất thân thiết, nhẹ nhàng, an lạc. Vì Phật đã đoạn trừ tất cả phiền não và tự tư, do đó tâm Phật lúc nào cũng an định, điều hòa, khoan thai, hoan hỷ. Vì thân Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp và trong tâm có vô lượng trí tuệ công đức, cho nên hễ ai nhìn thấy Phật cũng đều quên hết những tham dục cuộc đời. Tướng mạo trang nghiêm và sự tráng kiện của Phật khiến mọi người nhìn mãi không chán. Tình trạng sức khỏe về thân tâm của Phật, những nhà giáo dục học khác hiếm có. Cử chỉ và dáng vẻ tốt đẹp của Phật đã khiến cho vô số người theo Phật học chân lý, kích thích họ phát sinh động cơ, thái độ, lý tưởng và cảm giác tốt, thậm chí trong quá trình học khiến cho họ cảm thấy như ngồi trước gió xuân. (Mời xem thêm Ðại Trí Ðộ Luận, quyển 21)

            Trong kinh Phật rất nhiều thi kệ miêu tả dáng vẻ và thân tâm của Phật, ở đây chỉ đơn cử vài bài như sau:

                        Phật diện do như tịnh mãn nguyệt,

                        Diệc như thiên nhựt phóng quang minh,

                        Viên quang phổ chiếu ư thập phương,

                        Hỷ xả từ bi giai cụ túc,

            Tạm dịch:

                        Gương mặt Ðức Phật như trăng tròn,

                        Như ngàn mặt trời cùng tỏa sáng,  

                        Rọi chiếu mười phương khắp các cõi,

                        Hỷ xả từ bi luôn vẹn toàn.

            Và:

                        Phật thân thanh tịnh tợ lưu ly,

                        Phật diện do như mãn nguyệt huy,

          Phật tại thế gian thường cứu khổ,

          Phật tâm vô xứ bất từ bi.

            Tạm dịch:

                        Thân Phật thanh tịnh như lưu ly,

                        Mặt Phật tròn sáng không ai bì,

                        Phật ở thế gian thường cứu khổ,

                        Tâm Phật muôn nơi luôn từ bi.

            Về thân tâm khỏe mạnh của Phật, chúng ta có thể thấy được một phần từ niềm hoan hỷ, niềm an lạc của Ngài. Kinh Hoa Nghiêm, quyển 24 nói rằng, Ðức Phật có mười loại an lạc (hay mười niềm vui, mười niềm hoan hỷ):

            1. Niềm an lạc do có niềm tin tuyệt đối, vĩnh hằng.

            2. Niềm an lạc do đạt được trạng thái thiền định sâu nhất.

            3. Niềm hoan hỷ có được do tâm từ bi vô hạn.

            4. Niềm an lạc do giải thoát tất cả phiền não và trói buộc.

            5. Niềm hoan hỷ do có vô lượng thần thông biến hóa.

            6. Niềm hoan hỷ do được tất cả chúng sanh tôn kính.

            7. Niềm an lạc do có sức mạnh giáo hóa chúng sanh.

            8. Niềm an lạc do xa lìa tất cả vọng niệm, luôn ở trong trạng thái định.

            9. Niềm hoan hỷ do tự do tự tại, không chướng ngại.

            10. Niềm hoan hỷ do hành vi thuần thiện, không có sơ suất, sai lầm, lệch lạc gì.

      Sau đây chúng ta nói rõ hơn một chút về đặc trưng trên người và oai nghi của Phật. Theo Pháp Giới Thứ Ðệ Sơ Môn và Ðại Trí Ðộ Luận, quyển 88 nói, thân Ðức Phật có 32 tướng tốt, mỗi một tướng tốt trong 32 tướng này là kết quả tu phước không ngừng trong một trăm kiếp. Ba mươi hai tướng tốt như sau:

            1. Túc an bình tướng: Dưới bàn chân bằng phẳng.

            2. Thiên bức luân tướng: Dưới bàn chân có hoa văn hình bánh xe pháp luân.

            3. Thủ chỉ tiêm trường tướng: Ngón tay nhỏ dài và đẹp.

            4. Thủ túc nhuyến tướng: Tay chân mềm mại như tơ.

            5. Thủ túc mạn võng tướng: Giữa các ngón tay (phía trong gần lòng bàn tay, đốt thứ nhất từ trong ra) và giữa các ngón chân (gần bàn chân) có một màng mỏng và nhỏ liên kết với nhau. (Chúng ta có thể hình dung bàn chân con vịt hoặc bàn chân con ngỗng có tấm màng mỏng liên kết các ngón chân lại, nhưng tấm màng của các con vật này dính hết nguyên vẹn các ngón)

            6. Túc cân mãn túc tướng: Gót chân tròn đầy.

            7. Túc phu cao hảo tướng: Lưng bàn chân cao và đầy đặn.

            8. Cổ như lộc vương tướng: Bắp đùi thon dài giống cổ con hươu chúa.

            9. Thủ quá tất tướng: Cánh tay dài qua khỏi đầu gối.

            10. Mã âm tàng tướng: Dương vật và tinh hoàn ẩn tàng bên trong.

            11. Thân tung quảng tướng: Chiều cao từ đỉnh đầu đến chân và chiều rộng của hai tay dang ra là ngang nhau.

            12. Mao khổng sanh thanh sắc tướng: Mỗi lỗ chân lông đều mọc một sợi lông thuần màu xanh.

            13. Thân mao thượng mị tướng: Lông trên người xoắn về hướng bên phải, đồng thời xếp lên nhau và hướng lên trên.

            14. Thân kim quang tướng: Màu sắc của da hồng hào mịn màng và ánh lên.

            15. Thường quang nhất trượng tướng: Xung quanh thân Phật có hào quang dài một trượng.

            16. Bì phu tế hoạt tướng: Da mềm mại nhẵn bóng.

            17. Thất xứ bình mãn tướng: Bảy nơi: hai bàn tay, hai bàn chân, hai vai và cổ (có chỗ nói là đỉnh đầu) đều bằng phẳng đầy đặn.

            18. Lưỡng dịch mãn tướng: Dưới hai nách đều đầy đặn.

            19. Thân như sư tử tướng: Thân tướng khôi ngô, oai vệ, cao lớn như tướng sư tử.

            20. Thân đoan trực tướng: Thân thể đoan chánh, ngay thẳng. (Không có uống éo cong vẹo)

            21. Kiên viên mãn tướng: Hai vai tròn đầy và nở nang.

            23. Xỉ bạch tề mật tướng: Răng trắng tinh, đều đặn, chắc chắn và khích vào nhau.

            24. Tứ nha bạch tịnh tướng:  Bốn răng cửa phía trước trắng như tuyết và óng ánh.

            25. Giáp xa như sư tử tướng: Hai bên má cao đầy như hai bên má sư tử.

            26. Yết trung tân dịch đắc thượng vị tướng: Trong yết hầu thường có nhiều nước bọt, khi ăn cảm giác lúc nào cũng ngon.

            27. Quảng trường thiệt tướng: Lưỡi rộng và dài, mềm mỏng, khi đưa ra có thể chạm đến trán.

            28. Phạm âm thâm viễn tướng: Âm thanh trong trẻo, lớn và vang lên, người ở xa cũng có thể nghe rõ ràng.

            29. Nhãn sắc như cam thanh tướng: Mắt có màu đen xanh hồng rất đẹp.

30. Nhãn tiệp như ngưu vương tướng: Lông mi của mắt dài và đều đặn.

            31. Mi gian bạch hào tướng: Giữa hai lông mày có da lông cao cấp màu trắng, xoắn về phía bên phải, thường phóng ra ánh sáng.

            32. Ðỉnh thành nhục kế tướng: Trên đỉnh đầu có thịt nổi lên hình búi tóc. (Trong Pháp Giới Thứ Ðệ Sơ Môn nói rằng, nhục kế trên đỉnh đầu của Ðức Phật càng nhìn càng cao, người bình thường không cách nào nhìn thấy hết hoàn toàn. Ðiều này trong kinh gọi là “ Vô kiến đỉnh tướng”)

            (Tham khảo thêm kinh Niết Bàn, quyển 28 và kinh Trung A Hàm, quyển 32)

            Ba mươi hai tướng tốt vừa nói trên có thể chia nhỏ ra thành 80 vẻ đẹp, trong kinh Phật gọi là bát thập chủng tùy hình hảo.

            Kinh Tát Già Ni Kiền Tử Thọ Ký, quyển sáu nói, thân Phật có 80 vẻ đẹp như sau:

            1. Dáng vẻ đoan trang, dung mạo phi phàm. 

            2. Giữa trán đầy đặn, nét mặt hoan hỷ.

            3. Tóc sạch đẹp mềm mại.

            4. Tóc lúc nào cũng ngay ngắn phẳng phiu, không bao giờ bị rối.

            5. Lông tóc mềm mại uyển chuyển, xoắn theo chiều bên phải.

            6. Màu tóc óng ánh, thanh tú, đẹp đẽ.

            7. Lông mày vừa dài vừa đẹp giống như trăng non.

            8. Tròng mắt đen trắng rõ ràng, ánh mắt sáng long lanh, có thần.

            9. Hai dái tai rủ xuống rất đẹp, giống như mành châu vậy.

            10. Sống mũi cao và ngay thẳng, lỗ mũi ẩn kín.

            11. Miệng thường tỏa ra mùi thơm ngát, khiến ai ngửi thấy cũng không khó chịu.

            12. Lưỡi màu đỏ tươi, óng ánh.

            13. Lưỡi rộng dài, mềm mại, vừa mỏng vừa linh hoạt, khi đưa ra có thể chạm đến trán.

            14. Môi đỏ tươi như trái tần bà ( như quả táo) rất đẹp.

            15. Răng trắng nhỏ sắc, làm sáng lên cả gương mặt.

            16. Sắc mặt hồng hào, mịn màng, sáng tươi, dung mạo khoan thai.

            17. Mỗi bộ phận trên gương mặt phối hợp rất cân xứng, vừa vặn.

            18. Dung mạo rất ưu nhã cảm động lòng người.

            19. Hình dáng đứng đắn khiến mọi người hoan hỷ.

            20. Thân thể luôn sạch sẽ, thanh tịnh, không bị dính bụi dơ.

            21. Tình hình sức khỏe rất tốt, da dẻ mềm mại, giàu tính đàn hồi.

            22. Thân người ngay thẳng, cao lớn, mạnh mẽ, hiên ngang.

            23. Hoa văn giữa các lỗ mao mạch rất nhỏ và đẹp.

            24. Thân thể hồng hào trắng trẻo.

            25. Cơ bắp rắn chắc, vóc người khỏe mạnh, hình thể khôi ngô.

            26. Mỗi bộ phận trên thân đều rất hoàn mỹ.

            27. Dồi dào tinh lực, thể lực hơn người, không ai có thể so sánh.

            28. Cử chỉ tiến thoái có phương pháp hợp với phẩm đức cao thượng.

            29. Dù ai nhìn bất kỳ vị trí nào trên thân Phật, nhìn mãi không bao giờ cảm thấy chán.

            30. Chúng sanh nào làm ác, khi thấy được tướng mạo của Phật, trong lòng liền tràn đầy niềm sung sướng phấn khởi.

            31. Ði đứng nằm ngồi, phong thái nhẹ nhàng, đầy đủ oai nghi, khiến mọi người hoan hỷ.

            32. Dáng xoay người nhìn lại oai vệ như voi chúa.

            33. Ði đứng hùng tráng oai vệ như sư tử vương.

            34. Dáng vẻ bề ngoài thận trọng vững vàng, khiến mọi người luôn có cảm giác kính phục.

            35. Ðức Phật có thể thị hiện những hình tướng khác nhau, không thể dự đoán được.

            36. Cử chỉ đi đứng linh hoạt tự nhiên, thân tướng cao nhã phóng khoáng.

            37. Xung quanh thân thể Phật có hào quang hình tròn bao quanh khoảng một trượng.

            38. Hào quang trên thân Phật tỏa ra bốn hướng, có thể chiếu đến những thế giới rất xa.

            39. Thân tướng tốt đẹp hoàn toàn, không chút tỳ vết, ai thấy cũng sanh lòng tôn kính và thành tâm quy phục.

            40. Da dẻ mềm mại, luôn luôn có ánh sáng (lúc nào cũng ánh lên).

            41. Da dẻ bằng phẳng mịn màng, một nếp nhăn cũng không có.

            42. Ánh sáng trên da chói cả mắt, chúng sanh không thể nhìn thẳng.

            43. Bất luận là ban ngày hay ban đêm, da trên toàn thân đều duy trì ánh sáng, rất sạch sẽ.

            44. Mỗi lỗ chân lông trên người đều tỏa ra mùi thơm kỳ diệu, khiến ai cũng hoan hỷ.

            45. Tướng mạo, oai nghi, đức hạnh, trí tuệ đều vượt qua hết thảy chúng sanh trong đời.

            46. Các đường gân của toàn thân ẩn sâu trong thịt, chứ không hiện ra dưới làng da.

            47. Các khớp xương liên kết rất vững chắc.

            48. Lông trên người rất mềm mại và xoắn theo chiều bên phải.

            49. Lông có màu sắc giống như màu của vàng ròng thượng hạng, ánh lên chói mắt.

            50. Tay chân hồng hào, mịn màng.

            51. Tay chân sạch sẽ và có nhiều ánh sáng (bóng bẩy).

            52. Mười ngón tay đều nhỏ dài và tròn trịa.

            53. Bàn chân bằng phẳng, mắt cá cũng không có lộ ra.

            54. Xương đầu gối rắn chắc, độ dài phần trên phần dưới vừa vặn đều nhau, rất mỹ quan.

            55. Tay chân tròn đầy không có chút khiếm khuyết nào.

            56. Ngón tay mềm mại, từ trong hay ngoài đều có thể nắm chặt đồ vật.

            57. Chỉ tay (vân tay) rất sâu, vừa nhỏ vừa rõ ràng.

            58. Tất cả chỉ tay, đường nào ra đường nấy, ngay thẳng rõ ràng.

            59. Tất cả các chỉ tay đều xuyên suốt, không bị đứt đoạn.

            60. Móng tay mỏng và hồng hào bóng bẩy.

            61. Khi đứng lên, thân thể rất ngay ngắn.

            62. Ði đứng nằm ngồi, thân tâm đều trầm tĩnh vững vàng, ung dung tự tại.

            63. Oai phong lẫm liệt, khiến mọi người tự cảm thấy kính phục.

            64. Tư thái (tư thế) ưu nhã đẹp đẽ, dù ở tư thế động hay tịnh đều khiến mọi người cảm thấy an lạc, hoan hỷ.

            65. Khi đi, bước chân đều đặn vững vàng khỏe mạnh, thân người không nghiêng lệch.

            66. Cất bước hay dừng bước (tướng đi) phong thái ưu nhã như bạch nga vương (ngỗng chúa).

            67. Bước đi (bộ hành) rất khoan thai, nhẹ nhàng.

            68. Khi đi lại, bàn chân không chạm đất, cho nên không làm hại đến bất cứ sinh vật nào.

            69. Hệ thống tuần hoàn huyết mạch toàn thân thông suốt không chướng ngại.

            70. Bụng nhỏ và chắc.

            71. Cái rốn sâu, tròn và đẹp.

            72. Âm thanh, ngữ điệu, dù âm thanh cao hay âm thanh thấp đều rất dễ nghe, êm tai.

            73. Pháp âm kỳ diệu, trong trẻo và vang xa, dù người ở xa xa cũng đều nghe được rõ ràng. Âm thanh rõ ràng, giàu từ tính.

            74. Ðức Phật nói chuyện, hay thuyết pháp, có thể tùy theo tâm ý của chúng sanh, do đó ai nghe được cũng đều rất hào hứng phấn khởi.

            75. Ngữ điệu, âm lượng và nội dung bài pháp rất hài hòa.

            76. Tùy theo căn cơ của chúng sanh mà diễn thuyết chân lý thích hợp, do đó hiệu quả giáo dục rất tốt.

            77. Tinh thông ngôn ngữ, tùy thuận theo tập tục của từng địa phương, từng nơi mà dùng những ngôn ngữ khác nhau.

            78. Dùng diệu âm thuyết pháp, khiến cho tất cả chủng loại chúng sanh khác nhau, sau khi nghe pháp đều hiểu rõ.

            79. Có thể phối hợp các nhân tố giáo dục, từ cạn đến sâu, từ thấp đến cao để khéo dẫn dắt, dạy bảo chúng sanh.

            80. Trong lòng ngực có dấu kiết tường hình chữ vạn: 卍, biểu thị vạn đức trang nghiêm. Vì chữ vạn: 卍 là do vô số công đức cảm ứng hiện ra.

            (Mời xem thêm Pháp Giới Thứ Ðẳng Sơ Môn, quyển hạ và Ðại Thừa Nghĩa Chương, quyển hai mươi)

            Trong Ðại Trí Ðộ Luận đã từng lấy bố thí làm ví dụ, nói rõ nguyên nhân hình thành 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Phật. Bất kỳ ai tu như vậy cũng đều có 32 tướng tốt, đây là quy luật tự nhiên của vũ trụ.

     Thí dụ, lúc bố thí lòng tin kiên cố, sẽ có tướng dưới bàn chân bằng phẳng. Vì tận tâm tận lực bố thí, cho nên có tướng gót chân tròn đầy. Vì bố thí đồ vật ngon đẹp cho người khác, nên có tướng tay chân mềm mại và thất xứ bình mãn tướng. Vì bố thí làm lợi ích cho cuộc sống của người khác, do đó có tướng ngón tay nhỏ dài và đẹp. Không oán ghét, không xem thường người đến cầu xin (xin ăn), cho nên được tướng mã âm tàng. Vì bố thí áo quần, thuốc men tốt, cho đến những thứ quý báu như vàng bạc, cho nên được tướng thân kim sắc và tướng da mềm mại nhẵn bóng. Bố thí chạy chữa thuốc thang cho người nghèo có bệnh, bố thí thức ăn thức uống cho người đói khát, cho nên có tướng dưới hai nách đều đầy đặn. Tin tưởng và dùng hạnh bố thí, thường nói lời nhu hòa, lời thật cho nên được tướng lưỡi rộng dài. Lúc bố thí nội tâm thanh tịnh không mong cầu báo đáp, cho nên được tướng răng trắng, đều, chắc và khích. Dùng tâm bình đẳng để đối đãi với tất cả những người xin ăn, cho nên được tướng mắt có màu đen xanh rất đẹp v.v… (Mời xem thêm Ðại Trí Ðộ Luận, quyển 11)

            Thực ra vẻ đẹp của thân và tâm Phật là vô hạn. Như trên đã nói thân Phật có 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp, chẳng qua chỉ là khái lược mà thôi. Vì vậy có kinh điển nói rộng ra về đặc trưng thân thể của Phật có đến tám vạn bốn ngàn tướng hảo, thậm chí nói rằng Ðức Phật có vô số tướng hảo. Có kinh còn nói: Dù người có tài nói chuyện giỏi nhất, hoặc dùng ngôn từ hay nhất để miêu tả vẻ đẹp về tướng mạo trang nghiêm của Phật, trải qua mấy nghìn vạn năm nói cũng không hết được.

            Nhân đây chúng ta nói đến thân thể của Phật có một năng lực thật không thể nghĩ bàn. Theo Ðại Trí Ðộ Luận ghi rằng: Do vì Ðức Phật gieo trồng nhân lành rất rộng, do đó Ngài cảm thọ được rất nhiều phước báo đặc biệt. Ví dụ như, trong miệng Ngài hình như có cấu tạo đặc biệt, nên Ngài ăn bất cứ thức ăn ngon hay không ngon, trong yết hầu liền tiết ra hai tuyến nước bọt cam lồ, giúp cho khi ăn cảm thấy ngon không gì so sánh được. Dù người bình thường cảm thấy đồ ăn tẻ nhạt, vô vị, nhưng vừa đến miệng Phật rồi đều trở thành thơm tho, ngon miệng, vừa khẩu vị. Cho nên trong kinh nói, Ðức Phật thường hưởng được những vị kỳ diệu, ngon nhất. Sự thật tuy như vậy, nhưng Ðức Phật không có tham trước những hương vị ngon và sắc đẹp, trong lòng Ngài lúc nào cũng an nhiên định tĩnh, cử chỉ của Ngài lúc nào cũng đoan trang, ung dung, tự tại.

            Mỗi lỗ chân lông trên thân của Ðức Phật trông rất đẹp, nhìn hoài không chán. Da của Ngài không những hồng hào mà còn vừa mỏng vừa mềm mại, mịn màng. Có một điều hy kỳ nữa là một hạt bụi cũng không dính vào thân Phật. Khi bụi bay đến gần thân thể của Ðức Phật, liền rơi xuống giống như giọt nước trên lá cây lăn xuống vậy. Thậm chí Ðức Phật đi trong bụi đất, bùn vẫn không dính vào các ngón chân. Ðây là do tâm Phật thanh tịnh, mãi mãi xa lìa tham trước, không có nguyên nhân nào làm tổn hại đến bất kỳ chúng sanh nào. (Xem thêm kinh Phổ Diệu)

            Trong kinh Ðại Bi nói rằng: Do vì đời đời kiếp kiếp Ðức Phật thường dùng tâm bình đẳng giáo hóa lợi ích cho tất cả chúng sanh; dùng tâm cung kính bố thí chúng sanh mà không chấp trước, cho nên đời này hết thảy chúng sanh thấy được tướng mạo của Phật, trong lòng vui mừng, vui sướng, cảm động. Có nhiều học trò, đệ tử chỉ vì thấy được dung mạo của Phật vô cùng hoàn mỹ, do đó phát tâm theo Phật học chân lý từ bi với tất cả chúng sanh. Có người làm nhiều việc xấu ác, hoặc phạm tội đại cực ác vừa thấy Ðức Phật thì vô cùng sợ hãi, toát cả mồ hôi, bỗng nhiên tỉnh giác được tội mình đã làm, sám hối làm lại cuộc đời. Bất kỳ động vật nào, chỉ cần đứng bên cạnh Phật, trong lòng cảm thấy yên ổn và dễ chịu một cách lạ thường. Trong kinh Phật ghi rằng: Ðã từng có một con bồ câu bị con chim ưng đuổi bắt, bồ câu vô cùng sợ hãi và bay đến bên cạnh Ðức Phật và đứng trên cái bóng của Phật. Ðiều kỳ lạ là khi vừa đứng trên bóng của Phật thì những lo lắng, hồi hộp, sợ hãi liền tiêu tan hết.

            Trong kinh Xứ Xứ đã nói rõ là Phật có rất nhiều nhân duyên về ngôn hạnh. Ví dụ như, khi Phật đi lại, Ngài thấy: Có những con kiến trên mặt đất hoặc những côn trùng khác; có cỏ xanh tươi tốt trên mặt đất, thì bàn chân của Phật cách mặt đất hai tấc và khi thấy những người ngạo mạn, Phật cũng hiện thần thông bàn chân cách mặt đất hai tấc để khiến những người kia trừ bỏ ngạo mạn.

            Trong kinh Ðại Bồ Tát Tạng miêu tả rằng: Dù Phật đi đứng nằm ngồi trong lò lửa đi chăng nữa Ngài vẫn cảm thấy mát mẻ, thoải mái, dễ chịu.

Luận Thập Trụ nói: Phật vừa cất bước có thể vượt qua hằng hà sa số tam thiên đại thiên thế giới. Cũng có thể cùng một lúc ở trong vô số thế giới, thị hiện các hình tướng khác nhau để giáo hóa chúng sanh.

            Chúng ta nên biết, mỗi người chúng ta đều có tiềm năng Phật này, chẳng qua chúng ta bị phiền não, chấp trước và vô minh che lấp mà thôi. Hy vọng mọi người chúng ta gần gũi những bậc thiện tri thức nhiều hơn nữa, thường học theo Phật, nỗ lực tinh tấn mở mang bảo tạng sâu xa huyền diệu vô tận này.

            Chúng ta đều có Phật tánh vĩ đại và trí tuệ tiềm tàng giống như Phật, sao chúng ta còn chưa hạ thủ công phu tu tập?

IX. ÐẦY ÐỦ KIÊN NHẪN VÀ NIỀM TIN VỮNG CHẮC

            Kiên nhẫn và niềm tin, có lúc rất quan trọng đối với một người Thầy. Ðặc biệt khi trí tuệ năng lực của học sinh và sinh lý có chỗ thiếu hụt, chưa hoàn bị, sự kiên nhẫn và niềm tin của Thầy giáo chính là nhân tố quyết định thành công hay thất bại trong giáo dục. Vì cảm quan của học sinh không hoàn bị hoặc trí lực hơi yếu, thì hiệu quả và tốc độ học tập luôn luôn không tốt bằng những học sinh bình thường, do đó chúng phải tốn thời gian và sức lực rất nhiều mới có thể học được môn học nào đó. Lúc này, nếu Thầy giáo không đủ kiên nhẫn và niềm tin không vững chắc thì ông ấy không thể chậm rãi từng bước từng bước dẫn dắt và gợi mở cho học sinh.

            Trong sử giáo dục hiện đại, có một câu chuyện cảm động lòng người, đó là: Nhà giáo dục người Mỹ Anne Sullivan vừa câm vừa mù đã giáo dục thành công Helen Keller. Sở dĩ kết quả Helen Keller vừa mù vừa điếc đã trở thành một nhà giáo dục, một nhà diễn thuyết, và một tác gia vĩ đại của thế kỷ này, hoàn toàn là vì Thầy giáo Anne Sullivan của cô ấy có niềm tin vững chắc và đầy đủ kiên nhẫn, không ngừng giáo dục dạy dỗ cô ấy. Chúng ta đọc tự truyện “Câu chuyện đời tôi” (Story of Mylife) của Helen Keller, có thể phát hiện Anne Sullivan nhẫn nại dạy dỗ Helen Keller như thế nào, từ những động tác của phần môi của đối phương mà lãnh hội được ý của người khác. Ôi, thật cảm động lòng người! Thảo nào trong cuộc đời của cô ấy viết rất nhiều văn chương để nhớ đến và cảm tạ vị Thầy của cô ấy. Thảo nào trong quyển “Chủ nghĩa lạc quan” (Optimism) của cô ấy, cô ấy nói: “ Mục tiêu cao nhất của giáo dục là nhẫn nại” (The highest result of education is tolerance).

            Từ trong kinh Phật chúng ta có thể biết được Phật có đầy đủ kiên nhẫn và lòng tin vững chắc không ai sánh bằng. Ví dụ như trong kinh Như Lai Tạng, Phật biết và tin tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật. Trong phẩm Ly Thế Gian của kinh Hoa Nghiêm Phật khẳng định quan niệm xem mọi người đều là ruột thịt, xem tất cả động vật như đồng loại, đồng thời Phật tin rằng dù chúng sanh có những đặc tính thói quen xấu ác tồi tệ đến đâu, chỉ cần có phương pháp giáo dục thích hợp, cuối cùng vẫn gợi mở được thiện căn huệ căn của chúng. Trong phẩm Công Ðức Trang Nghiêm của kinh Tâm Ðịa Quán, Phật phát nguyện phải kiên nhẫn giáo hóa tất cả chúng sanh, đồng thời nhẫn chịu tất cả vất vả cực nhọc trong quá trình giáo dục, tuyệt đối không vì bẩm chất thói quen xấu ác khó độ của đối phương mà sanh giải đãi.     Từ câu chuyện sau đây, chúng ta cũng có thể thấy được lòng kiên nhẫn của Phật giáo dục đệ tử: Có một lần bốn vị vua đến thỉnh giáo Phật. Trước hết Phật dùng ngôn ngữ nước Ma-kiệt-đà nói rõ bốn chân lý của cuộc sống. Nhưng trong đó chỉ có hai vị vua lãnh hội được lời dạy của Phật, còn hai vị kia không hiểu. Lúc đó Phật lại dùng một ngôn ngữ ở phía nam Ấn độ (Tỳ-đà-la ngữ) nói lại một lần nữa. Thế là trong hai vị vua kia, có một vị hiểu lời dạy của Phật, còn vị kia vẫn chưa hiểu. Sau đó Phật lại dùng tiếng Di-ly-xa để giảng lại một lần nữa, cuối cùng bốn vị vua đều hiểu. (Xem luận Tỳ Bà Sa, quyển 79).

            Ngoài ra, trong kinh Phật nói rất nhiều về phương diện kiên nhẫn và niềm tin. Ví dụ như, phẩm Hiền Thủ Bồ Tát kinh Hoa Nghiêm và kinh Phạm Võng, quyển thượng cho rằng: Niềm tin là động lực căn bản của tất cả hành vi công đức. Nó không những giúp con người cung kính làm việc thiện và truy cầu trí tuệ, mà còn có thể trừ bỏ tất cả nghi hoặc và ngạo mạn[22].

            Kinh Na-tiên Tỳ-kheo, quyển thượng và luận Câu Xá, quyển bốn nói rõ: Lòng tin có thể khiến cho tâm linh con người thanh tịnh, yên ổn thận trọng làm việc. Tin Phật pháp và nhân quả có thể giúp con người xa lìa được năm pháp bất thiện như dâm đãng, sân hận, lười biếng, nghi hoặc và tham dục. Kinh Bồ Tát Bổn Nghiệp, quyển hạ nói rằng: Tất cả những người mới bắt đầu học Phật nên lấy tín làm gốc, sau đó dùng tư duy để hiểu nó, dùng hành vi để chứng thực nó. Ðại Trí Ðộ Luận nói rằng, người có lòng tin vững chắc dễ lãnh hội chân đế của Phật pháp hơn, người có trí tuệ rộng lớn mới có thể làm các Phật sự phổ độ chúng sanh[23].

     Hoài nghi khiến cho con người cảm thấy bất an và phiền não, ngược lại lòng tin có thể khiến cho tâm thanh tịnh và cuộc sống yên ổn. Cho nên trong Bách Pháp Minh Môn Luận liệt hoài nghi vào một trong sáu căn bản phiền não và niềm tin được liệt vào một trong mười một pháp thiện.

            Sau đây chúng ta đưa ra một ví dụ nghiên cứu để nói rõ kết quả của niềm tin và hoài nghi.

            Ví dụ, chúng ta cần nghiên cứu xem trên ngọn núi này có cọp hay không. Chúng ta có thể giả thiết ngọn núi này không có cọp, sau đó mời một người đi nghiên cứu và quan sát thực tế để chứng thực, xem giả thiết này có đứng vững hay không. Mặt khác, chúng ta cũng giả thiết trên ngọn núi này có cọp, sau đó dùng các phương pháp để chứng thực xem giả thiết này được thành lập hay không. Nếu phương pháp nghiên cứu giống nhau, thì kết quả nghiên cứu đạt được phải nhất chí. Giả thiết trước dùng phương pháp học hỏi tìm tòi một cách hoài nghi, giả thiết sau dùng phương thức học hỏi tìm tòi đầy niềm tin. Phương pháp trước dễ khiến cho chúng ta sơ ý, không cẩn thận. Phương thức sau lại khiến cho chúng ta nghiên cứu, làm việc một cách cẩn thận chắc chắn. Như vậy cuối cùng phương pháp nào tốt hơn?! 

            Nhà phân tích học tâm lý người Mỹ Erich Fromm, đã từng nói một câu danh ngôn rất chí lý có liên quan đến lòng tin, ông ấy nói: “Yêu thương là biểu hiện của lòng tin, người không có niềm tin thì cũng không có lòng yêu thương bao nhiêu” (Love is an act of faith, and whoever is of little faith is also of little love). Từ những câu chuyện lịch sử và cuộc sống hiện thực, chúng ta có thể thể nghiệm được, niềm tin không những là nguyên động lực của từ bi và giáo dục tình thương, mà còn là nguyên nhân yêu nghề làm lợi lạc mọi người. Nó có thể sinh ra ý chí kiên cường và sự thành thật đến cảm động lòng người, nó có thể sáng tạo ra nhiều kỳ tích khiến mọi người không tưởng tượng được.

            Bất luận làm người hay xử sự đều không thể thiếu lòng tin. Trong tâm lý lành mạnh và quan hệ giữa người và người, nó đóng vai trò rất quan trọng. Nó có thể khiến chúng ta mở rộng nhân duyên, làm việc một cách thành thạo. Một khi cuộc sống của chúng ta thiếu niềm tin, chúng ta sẽ rơi vào lo nghĩ, sợ hãi, bất an, do dự, thất vọng và bạc nhược tinh thần. Thử nghĩ, giả như chúng ta dùng lòng hoài nghi để đối nhân xử thế, như vậy cơ hội thành công vô hình trung sẽ bị giảm đi. Vì khi chúng ta tồn tại lòng hoài nghi với người khác, thì sự thành khẩn của chúng ta giảm đi một nữa và đối phương có thể cảm nhận được. Ngoài ra, hoài nghi dễ sinh ra khuynh hướng sai lạc, khiến chúng ta mất đi lập trường khách quan và công bằng chính trực, vô cớ gây ra một số cừu địch không cần thiết, mà còn bị bạn bè đức hạnh tài giỏi tránh xa chúng ta.Trong quá trình dạy học, người Thầy có thể thấu triệt niềm tin phát huy sức mạnh để cảm hóa những phần tử ngoan cố bướng bỉnh, cổ vũ học sinh nỗ lực tiến bộ. Chỉ cần vận dụng những kỹ xảo dạy học và những phương pháp thích hợp, Thầy giáo có thể nhẹ nhàng giải quyết được những vấn đề khó khăn mà ông ấy gặp phải.

            Năm 1965 hai nhà khoa học Wallach và Kogan trong báo cáo thực nghiệm, đưa ra rằng: Niềm tin là tượng trưng trí lực cao và sức sáng tạo tốt. Người có trí tuệ và năng lực sáng tạo đặc biệt tốt thường trong lòng tràn đầy tự tin, rất ít nghi hoặc, xử lý vấn đề không do dự, sức chú ý của người đó cũng rất rộng, đồng thời tinh thần luôn chuyên chú vào công tác học thuật mà người đó hứng thú. Ngược lại, người thích hoài nghi lại thường có sức sáng tạo tương đối tốt, trí lực lại không cao. (xem thêm Wallach, M.A., and Kogan, N.A New look at the creativity – intlligence distinction. Journal of Personality 1965, 33, 348-369)

Vì vậy có thể biết, hoài nghi nhiều lắm chỉ là phương pháp phát hiện cái biết mới hoặc công cụ giải quyết vấn đề, nhưng không thích nghi với việc xem hoài nghi là mục tiêu giáo dục.

            Sau đây chúng ta nói về công dụng của sự kiên nhẫn. Lần đầu tiên thấy Helen Keller cho rằng: “Mục đích cao nhất của giáo dục là nhẫn nại, là chịu đựng, là tha thứ” chúng ta cũng khó mà tin. Sau khi đọc kinh Phật dần dần chúng ta thấy rõ kiên nhẫn rất quan trọng đối với cuộc sống. Vì đại đa số mọi người sinh ra trong đời này có thói quen ích kỷ và tham ái (Trong kinh Phật gọi là vô minh từ vô thỉ), nếu chúng ta không dùng lý trí để bó buộc và kiềm chế tự ngã mà tùy theo dòng thác tình cảm và dục vọng, làm tất cả những gì muốn làm, nhất định sẽ có hại đến người khác và hại chính mình. Vì thông thường con người đều có vô minh từ vô thỉ, cho nên hành động không nhất định phù hợp với chân lý an vui, khỏe mạnh. Có người cho rằng chính mình có niềm vui, chưa chắc giúp ích cho sức khỏe của mình, và cũng chưa chắc mang đến đau khổ cho người khác. Do đó các bậc Thánh hiền từ xưa đến nay đều lập ra nhiều luật lệ kỷ cương để giúp đệ tử sống cuộc sống hoàn thiện. Ví dụ như, Khổng Tử dạy mọi người “ khắc kỷ phục lễ”, nghĩa là dùng lễ nghĩa để khắc chế dục vọng của mình. Phật Thích Ca Mâu Ni dạy mọi người “không nên làm các điều ác, hãy làm những việc lành”. Trong quá trình tự mình giáo dục, kiên nhẫn là điều tất yếu.

            Ý nghĩa nhẫn nại rất sâu xa. Vídụ như: Hạn chế tham dục của mình là nhẫn nại, mở rộng tấm lòng để đón nhận các chân lý khác nhau và những ý kiến của người khác là nhẫn nại. Khắc phục tâm tham dục của mình là nhẫn nại. Lấy một ví dụ ngồi tĩnh tọa là rõ nhất, người mới bắt đầu học ngồi tĩnh tọa, ngồi mới có mười phút, chân người ấy bắt đầu tê rồi. Nếu không kiên nhẫn, người ấy mãi mãi dừng ở giai đoạn “ngồi tĩnh tọa mười phút thì bị tê chân”. Nhưng nếu có đầy đủ kiên nhẫn thì tình hình sẽ khác. Ngày đầu tiên ngồi mười phút, máu huyết không thông xuống chân do đó bị tê, nhưng người ấy tiếp tục kiên nhẫn, kiên nhẫn đến phút thứ mười lăm, máu huyết bắt đầu lưu thông và cảm giác tê cũng hết, sau đó mở hai chân ra, đứng lên hoạt động. Cứ nhẫn nại như vậy vài ngày, thì người ấy sẽ ngồi đến 15 phút mà chân không bị tê. Tiếp tục khi ngồi đến 20 phút, chân bị tê thì kiên nhẫn đến phút 25 thì máu huyết lưu thông hoặc chân không tê nữa thì thả lỏng chân. Sau khi luyện tập không ngừng như vậy lâu dài rồi, người ấy vừa tĩnh tọa có thể ngồi đến cả tiếng đồng hồ hoặc hơn nữa. Công phu tĩnh tọa càng ngày càng tốt, tâm càng ngày càng an lạc, năng lực nhạy bén, trí lực càng ngày càng nâng cao. Những kết quả này đều do kiên nhẫn, nhẫn nại mà có được.

            Trong kinh Bảo tích ghi rằng: Ðức Phật, vị Tôn sư vĩ đại này không có hoài nghi hoặc nôn nóng đối với bất cứ sự vật gì. Phật lúc nào cũng thể hiện tâm nhân từ và ý chí kiên cường chuyên nhất. Phật lúc nào cũng ở trong trạng thái an nhiên định tĩnh, cho nên Phật có thể tự do tự tại quan sát tình hình giáo dục xung quanh và quan sát thói quen, tập tính, bẩm chất của những người được giáo dục, đồng thời vận dụng hoàn cảnh thuận tiện nhất để giáo hóa đệ tử. Phật diễn thuyết các chân lý thích hợp để mở mang trí tuệ cho đệ tử một cách hợp thời đúng lúc, có lúc Phật diễn thuyết những chân lý cứu cánh, có lúc trình bày những thiện pháp khiến cho mọi người cảm thấy an lạc, nhẹ nhàng hoặc thuyết giảng giáo pháp đoạn trừ tất cả phiền não khổ đau. Phương pháp giáo dục và giáo tài của Phật chưa bao giờ sai sót, sai lệch điều gì. (Xem thêm kinh Ðại Bảo Tích, quyển 5)

X. LỜI NÓI, THÁI ÐỘ SINH ÐỘNG THÚ VỊ VÀ TÍNH KHÔI HÀI

     Một vị Thầy giỏi, tốt, ngoài việc tinh thông ngôn ngữ, trình bày những quan niệm một cách rõ ràng ra rồi, cần phải giỏi và khéo vận dụng các phương pháp giảng dạy, trình bày các chủ đề một cách sinh động thú vị. Nói cách khác, một vị Thầy cần phải giàu tính khôi hài, đồng thời có thể đưa ra những thí dụ sinh động thú vị, giúp cho học sinh trong quá trình tiếp nhận giáo dục cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái, an vui.

            Kinh Pháp Hoa, quyển sáu ghi rằng, từ một câu kệ Ðức Phật có thể thuyết vô lượng nghĩa lý.

            Pháp Giới Thứ Ðệ Sơ Môn, quyển cuối miêu tả âm thanh của Phật có tám đặc sắc:

            1. Cực diệu âm: Trí tuệ của Phật rộng lớn bao la, lời nói của Ngài có thể khiến cho người nghe đốn ngộ chân lý vi diệu.

            2. Nhu nhuyến âm: Phật từ bi vô lượng, lời nói của Ngài có thể khiến cho người nghe xả bỏ được tính ngang ngạnh cố chấp và tự sửa lỗi làm lành.

            3. Hòa thích âm: Phật thực hành diệu lý trung đạo, do đó âm thanh hài hòa, thích hợp, có thể khiến người nghe tự nhiên thể hội được chân lý chính xác.

            4. Tôn từ âm: Nhân cách của Phật cao thượng, do đó mỗi lần nghe được âm thanh của Ngài khiến mọi người tự cảm thấy kính phục, kính nể.

            5. Bất nữ âm: vì âm thanh do chánh khí của Phật cao thượng và thiền định mà có được, cho nên có thể khiến cho tất cả thiên ma ngoại đạo quy phục.

            6. Bất ngộ âm: Trí tuệ của Phật viên mãn, thấu hiểu tất cả sự vật không có nhầm lẫn, lời nói của Ngài khiến cho người nghe đạt được kiến giải chính xác, đồng thời trừ bỏ các tà kiến.

            7. Thâm viễn âm: Âm thanh của Phật phát ra từ đơn điền, do đó âm thanh trong suốt và vang xa. Người ở gần nghe không cảm thấy quá lớn, người ở xa nghe không cảm thấy quá nhỏ.

            8.  Thệ nguyện và hành vi của Ðức Phật đời đời kiếp kiếp từ bi với chúng sanh không dừng nghỉ, cho nên âm thanh của Ngài thao thao bất tuyệt, ý vị sâu xa, thú vị vô cùng.

            Kinh Bất Tư Nghì Bí Mật Ðại Thừa, quyển 7 nói rằng, âm thanh của Phật có 64 điểm đặc sắc và biến hóa tuyệt vời. Trong kinh này còn miêu tả Ðức Phật thuyết pháp rất vang vội rõ ràng, êm dịu vui tai, lưu loát… Phật nói chuyện câu nào cũng hay, chất lượng âm thanh rất tốt. Âm thanh của Phật có công dụng rửa sạch phiền phiền não và lo buồn, khiến người nghe rồi sẽ có niềm tin và niềm hoan hỷ vô cùng. Lời của Phật rất dễ hiểu, sau khi nghe tự nhiên có một sức mạnh kỳ diệu khuyến khích chúng ta hướng thượng. Ngữ điệu của Phật vừa phải , không cao không thấp, hoàn toàn không có hiện tượng châm biếm, chế giễu, hủy báng hay nông nỗi. Âm thanh của Phật thật rất thu hút người nghe.

            Vì âm thanh của Phật hay như vậy, cùng với sự tinh thông tất cả chân lý trong đời, đồng thời hiểu biết rõ nhu cầu và phẩm chất của học trò, cho nên trong kinh Ðại Bảo Tích, quyển 86 ghi rằng, Ðức Phật có hai loại tài đặc biệt như sau: Thuyết pháp thần biến: tùy theo tập tính và sở thích hứng thú của đệ tử mà diễn thuyết những chân lý một cách rất sinh động; giáo giới thần biến: vận dụng những phương pháp sinh động thú vị để khuyên bảo dạy dỗ đệ tử, pháp nào nên làm và pháp nào không nên làm, tu những pháp nào là tự lợi, tu những pháp nào là tự lợi và lợi tha.

            Trong kinh Niết Bàn quyển 25 nói Phật khéo vận dụng những phương pháp sinh động thú vị để trình bày bảy loại ngữ sau đây:

            1. Nhân ngữ: Nói rõ những hành vi, hiện tượng và nguyên nhân hiện tại, tương lai sẽ có những kết quả gì.

            2. Quả ngữ: Nói rõ hành vi và kết quả hiện tại là do những nhân tố nào trong quá khứ gây ra.

            3. Nhân quả ngữ: Cùng lúc nói rõ những hiện tượng và hành vi hiện nay là do những nhân tố trong quá khứ hình thành, cho đến những kết quả có thể sanh ra trong tương lai.

4. Dụ ngữ: Khéo vận dụng những thí dụ cụ thể và sinh động, khiến cho học trò hiểu rõ chân lý một cách sâu sắc.

     5. Bất ưng thuyết ngữ: Vận dụng phương tiện và những thí dụ hư cấu đơn giản để giúp cho đệ tử hiểu rõ các quan niệm và chân lý một cách sâu sắc.

            6. Thế lưu bố ngữ: Vận dụng những ngôn ngữ và thuật ngữ mà người đời thường dùng hằng ngày để nói rõ quan niệm hay chân lý nào đó.

            7. Như ý ngữ: Hướng dẫn đệ tử những lý tưởng và tiềm năng để khích lệ đệ tử tinh tấn nỗ lực, ví dụ như Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh bình đẳng…

            Ngoài ra, Ðức Phật còn là một Ðại sư khôi hài. Những câu chuyện hài hước, khôi hài, sinh động thú vị trong kinh Phật nhiều không thể kể xiết. Ví dụ như Phật nói: Trước kia có một vị trưởng giả, vị trưởng giả này có một người con trai. Hai cha con sống bằng nghề trồng nho. Nhưng người con kia rất lười biếng, không chịu làm việc. Vì vậy, khi vị trưởng giả trước khi qua đời, ông ấy nói với con trai rằng, ông ấy chôn rất nhiều vàng ở trong vườn nho. Người con trai kia, một lòng muốn đào đất tìm số vàng kia, thế là sau khi người cha của ông ấy qua đời không lâu, ông ấy bắt đầu đào đất trong vườn nho để tìm vàng. Nhưng ông ấy đào hết vườn nho rồi, vẫn không thấy số vàng kia. Lúc ấy ông ấy rất buồn. Nhưng vì ông ấy đào xới đất vườn nho, cho nên năm đó, vườn nho ấy có một mùa thu hoạch lớn. Ông ấy suy nghĩ rất lâu mới hiểu được câu nói của người cha trước khi qua đời đã nói. Hoàn toàn không phải thật sự có vàng gì chôn ở dưới đất cả, mà là nhân cơ hội nhắc nhở ông ấy nỗ lực làm việc, trồng trọt mới có thể giàu có được. Từ đó ông ấy bỏ thói quen lười biếng và luôn nỗ lực làm việc.

            Còn những câu chuyện khác như trong phẩm Ðàn Nhị Hoa quyển 11 kinh Hiền Ngu và câu chuyện Khí Lão Quốc Duyên trong quyển 1 kinh Tạp Bảo Tạng… cũng đều là những câu chuyện khôi hài, sinh động.

            Thậm chí Ðức Phật đã từng cùng chúng đệ tử đến thành Diêm-bồ-na-đáp tham dự lễ cưới, đồng thời trong buổi lễ Ðức Phật nói lời chúc mừng rất hay và lời chúc phúc đặc biệt đến cô dâu, và chú rễ cùng toàn thể quần chúng tham dự lễ cưới. Ðây thực sự cũng có thể xem là cơ hội giáo dục mẫu mực rất tốt.

            Nói chung, một vị Thầy giỏi về tính khôi hài, không những trong lời nói chất phác thật thà nói rõ triết lý nhân sinh, mà còn nói ít mà đủ ý, câu câu đều đúng, ý vị sâu xa. Ðức Phật là một ví dụ. Phật theo sức quan sát nhạy bén, ngôn ngữ biểu đạt thích hợp, tấm lòng rộng rãi khoáng đạt, thẳng thắn vô tư, thái độ hài hòa và không lãnh đạm, khắc nghiệt, cứng nhắc… Vận dụng phương pháp dạy học khôi hài, với phương pháp nhẹ nhàng thú vị giúp cho học sinh tự nhiên không còn hoài nghi lo lắng, không còn phẫn nộ giận dữ. Ví dụ như trong kinh Tứ Thập Nhị Chương nói rằng: Khi có người nói lời xấu ác chửi mắng, Phật bình tĩnh nói với ông ấy rằng “Bạn à! nếu bạn tặng quà cho một người, nhưng người đó không nhận, có phải món quà đó vẫn thuộc về bạn không?” Câu nói này làm cho người kia đốn ngộ những sai trái của mình trước đây, bắt đầu làm người tốt.

            Như những gì đã nói ở trên khôi hài hay hài hước không phải là châm biếm, không phải nói móc ruột, không phải là khinh miệt, mà là một tư tưởng tươi vui hàm súc. Ðại sư khôi hài Bernard Shaw nói như sau: “Khôi hài chính là dùng chữ và ngữ điệu nhẹ nhàng nói ra những ý nghĩa sâu sắc nhất. Có lúc, vẻ bên ngoài hoàn toàn không nhất định có thể cười, chỉ cần chúng ta suy nghĩ thấu hiểu sâu sắc một chút, chúng ta có chút tâm đắc, sẽ mỉm cười trong lòng, biểu thị hiểu ý”.

     Trong quá trình dạy học, khôi hài không những có thể giúp xây dựng mối quan hệ thân thiết giữa Thầy và trò, mà còn có thể nâng cao hiệu quả dạy học. Khôi hài khiến cho giáo tài giảng dạy không văn vẻ, trở nên sinh động thú vị, dễ nhớ. Khi Thầy giáo khôi hài thì ngăn cách về tuổi tác và quyền uy giữa Thầy và trò hình như không còn nữa, lúc này Thầy và trò nối liền thành một thể, cùng nhau vui vẻ chia sẽ những cảm nhận và kinh nghiệm. Do đó phàm ai đã học qua tâm lý học cũng đều đồng ý rằng: “Tổng kết quả của 45 phút dạy học và 5 phút cười, vượt xa kết quả dạy học suốt 50 phút trên giảng đường một cách khô khan”.     

XI. KHÉO VẬN DỤNG CÁC TƯ THẾ VÀ ÐỘNG TÁC

     Một Thầy giáo ưu tú và nhà diễn thuyết ưu tú phải biết: Dùng tư thế và động tác của toàn thân như thế nào để biểu đạt những tin tức và nội dung mà ông ấy muốn trình bày. Có như vậy, người nghe ngoài cảm nhận nội dung qua lời nói và thái độ nói chuyện một cách sinh động ra, còn có thể cảm nhận được hành vi ngôn ngữ của ông ấy. Theo nguyên lý học tâm lý học thì: Trong quá trình học, người vận dụng cảm quan càng nhiều thì kết quả học càng tốt. Thí dụ như, hiệu quả học bằng phương pháp xem phim hiệu quả tốt hơn nhiều so với học bằng phương pháp nghe máy thu âm. Vì khi nghe máy thu âm, chúng ta chỉ dùng thính giác để học, nhưng khi xem phim hoặc xem tivi chúng ta cùng lúc dùng cả thính giác và thị giác.

            Như trên đã nói, chúng ta có thể hiểu: Nếu một vị Thầy khéo dùng các tư thế, diễn cảm, động tác… để thực hiện công việc dạy học, ông ấy có thể làm tăng thêm kết quả học tập cho học sinh.

            Trong kinh Niết Bàn và quyển 6 của kinh Pháp Hoa, nói rằng, Phật là một vị khéo dùng những ngôn ngữ hành vi. Toàn thân của Phật đều có thể thuyết pháp, đều có thể ra hiệu, biểu cảm… Kinh Ðại Bát Nhã ghi rằng, toàn thân Phật đều có thể cười hàm tiếu. (Xem thêm phần giải thích Ðại Trí Ðộ Luận, quyển 7)

            Vì Phật đã đoạn trừ tất cả những mê hoặc, ô nhiễm của sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và sáu căn ấy đã thanh tịnh. Vì vậy Phật có “lục căn hỗ dụng”. Cái gọi là “lục căn hỗ dụng” chính là: bất kỳ một căn nào trong sáu căn đều có sáu công năng “xem thấy sự vật”, “nghe được âm thanh”, “ngửi được mùi”, “nếm được vị”, “xúc giác các vật thể” và “thông hiểu tất cả chân lý”[24].

            Trong phẩm Pháp Sư Công Ðức kinh Pháp Hoa nói rằng, Ðức Phật nói rõ cho đệ tử về phương pháp và diệu dụng của sáu căn thanh tịnh. Nếu chúng ta thực hành theo phương pháp “tứ an lạc hạnh” mà Phật nói trong kinh Pháp Hoa, nhanh nhất trong đời này chúng ta sẽ thành tựu được sáu căn thanh tịnh, chậm nhất thì ba đời cũng sẽ thành tựu được sáu căn thanh tịnh. Nhưng nếu vì danh vọng, địa vị, lợi dưỡng mà tu hành thì mãi mãi không bao giờ thành tựu được sáu căn thanh tịnh.

            Vì sao có hiện tượng “lục căn hỗ dụng” kỳ diệu như vậy? Ðiều này chủ yếu Phật dạy rằng, sở dĩ mỗi người chúng ta có thể nghe, có thể thấy, có thể ngửi, có thể nếm, có thể cảm giác, có thể nghĩ ngợi… đều là do tác dụng của tánh linh (trong kinh gọi tánh linh là Thức thứ tám, Tạng thức, hoặc A-lại-da thức, hay Phật Tánh). Do vì tánh linh phân bố khắp ở “mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý”, do đó nó mới phát sinh tác dụng đối với “sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp”. Nếu không, một người mới chết, bộ não, tế bào và tế bào thần kinh vẫn còn sống một thời gian nữa, tại sao lại không thể nghĩ ngợi và cũng không còn cảm giác gì? Do vậy, chủ thể có thể nghĩ ngợi, hoàn toàn không phải là bộ não mà là tánh linh (khi còn vọng cũng còn gọi là Thức, cũng chính là Phật Tánh). Khi trong bộ não có tánh linh hiện hữu thì mới có tác dụng nghĩ ngợi. Thiết nghĩ bộ não của một người có hình dáng, có kích thước, làm thế nào có thể ghi nhớ sự vật đến vô cùng? Hơn nữa người có trí tuệ và kinh nghiệm càng phong phú, thì bộ não và tủy não của ông ấy chưa chắc là lớn hơn và nhiều hơn người khác. Chúng ta chỉ thừa nhận hai cách nói của Phật, “tánh linh (Thức thứ tám, Tạng thức, hoặc A-lại-da thức, cũng chính là Phật Tánh) của mỗi người đều là vô hình và có khắp trong không gian vô tận” và “sự ghi nhớ và suy nghĩ đều là tác dụng của tánh linh (Thức thứ tám, Tạng thức, hoặc A-lại-da thức, hay Phật Tánh)”, chúng ta mới có thể hiểu bộ não của con người nhỏ như vậy, vì sao ghi nhớ sự vật đến vô cùng.

            Ðức Phật dạy rằng, mỗi người đều có sự tự do, tự chọn lấy thiện hay ác, nhưng khi khởi lên một niệm, nói một câu hoặc khi biểu hiện một hành vi, đều gieo vào trong tánh linh vô cùng tận của chính mình (Thức thứ tám, Tạng thức, hoặc A-lại-da thức, hay Phật Tánh) một chủng tử. Chủng tử này sau khi gặp được “duyên” thích hợp ở đời sau hoặc trong tương lai, sẽ sanh ra một kết quả. Chủng tử thiện, cảm ứng quả an vui; chủng tử ác thì cảm ứng quả đau khổ (trong kinh gọi là “chủng tử khởi hiện hành”). Từ những lý luận này, chúng ta có thể điều hòa với các học phái tranh chấp nhau quá nhiều như: học phái di truyền, học phái hoàn cảnh, đồng thời giải thích một cách hợp lý như sau: Vì sao cha mẹ hiền và tốt lại sanh ra người con chẳng ra gì; tại sao cha mẹ chẳng ra gì lại sanh ra người con ngoan hiền và thông minh; vì sao một kẻ ác bá cướp của, giết người, lại buông bỏ đồ đao; vì sao một người bình thường bỗng nhiên mắc bệnh thần kinh; vì sao một người nào đó bằng trực giác của mình lại ghét một người khác hoặc thậm chí muốn giết cả người khác đó v.v… Thông thường người ta cho rằng đây là những việc vô duyên vô cớ hoặc sự việc mang tính xác xuất, nhưng trong Phật nhãn của Phật tất cả đều có nguyên nhân. Ví dụ một người A nào đó, trong mấy đời về trước đã hại người B, vì thế người B trong đời này khi thấy người A, trong ý thức cảm thấy không vừa mắt hoặc muốn hại ông ấy…

     Mỗi sự vật hiện tượng trong thế gian này đều do nhân duyên hòa hợp mà thành. Mỗi người vốn có thể dùng tánh linh (Thức thứ tám, tạng thức, A-lại-da thức) để hiểu rõ vũ trụ vô cùng, vì khi tâm linh của mỗi người bị tham dục, sân hận, và vô tri (si) làm ô nhiễm, thì tri giác của người đó chỉ giới hạn ở trên cảm quan của nhục thể, mà không cách nào hiểu biết được trùng trùng lớp lớp nguyên nhân và hiện tượng phát sinh trong vũ trụ bao la vô cùng này. Sau khi một người đã đoạn trừ tất cả nhiễm ô làm chướng ngại tánh linh, tánh linh hiểu biết vạn sự vạn vật sẽ hiện ra. Vì năng lực của tánh linh vốn : có thể thấy, có thể nghe, có thể ngửi, có thể nếm, có thể cảm xúc, có thể tư duy, cho nên tác dụng qua lại giữa sáu căn là vô ngại.

            Trong quyển 86 của kinh Ðại Bảo Tích nói rằng, Phật có thần thông, Phật có thể tùy theo nhu cầu, thói quen, bẩm tính của chúng sanh mà biểu hiện tất cả tư thế và ngôn ngữ hành vi. Pháp Hoa Huyền Nghĩa quyển 6 ghi rằng: khi nhãn căn (mắt) của chúng sanh nhanh nhạy, Phật dùng sắc trần để giáo hóa. Khi tỵ căn (mũi) của chúng sanh nhanh nhạy, Phật dùng hương trần để khai đạo… Vì chúng sanh trên vũ trụ này, nhĩ căn (tai) tương đối nhanh nhạy hơn các căn khác, cho nên Phật mới dùng âm thanh tuyệt vời để thuyết pháp[25]. Nhưng dù khi trầm lặng, Phật cũng dùng sự trầm lặng thích hợp và hành vi để giúp đối phương ngộ đạo.

            Mỗi một lần Phật giảng kinh, thân Phật đều phóng ra các loại hào quang khác nhau, có lúc phóng ra từ miệng, có lúc phóng ra từ ngực, có lúc phóng ra từ đỉnh đầu… để tăng thêm không khí hoàn cảnh dạy học. Theo kinh Niết Bàn ghi rằng: Phật phóng hào quang cũng là một hành vi ngôn ngữ, ánh sáng Phật phóng ra có thể thâm nhập vào các lỗ chân lông của chúng sanh, hễ chúng sanh nào được hào quang của Phật chiếu rọi đến, thì sau này cũng có một ngày phát tâm từ bi với vô lượng chúng sanh, truy cầu chân lý tối cao[26].

            Tình hình nói rõ về Ðức Phật dùng các tư thế để dạy học, mời độc giả xem thêm Ðại Trí Ðộ Luận, quyển 1.

XII. PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO VÀ KHÉO DẪN DẮT TỪNG BƯỚC

            Làm một vị Thầy phải dạy học trò cho tốt, ngoài việc hiểu căn cơ, trình độ, sở thích và nhu cầu của học sinh ra, còn phải khéo dùng các phượng tiện để dần dần hướng dẫn chúng. Vì mỗi học sinh đều có hoàn cảnh tâm lý, sở thích và cá tính, nếu Thầy không theo cá tính, sở thích, và hoàn cảnh tâm lý của học sinh để gợi mở cho chúng, mà kiên trì cứng nhắc cách nhìn của mình, thì Thầy giáo sẽ cảm thấy rất khó dạy, cho nên một nhà giáo dục nổi tiếng Horace Mann nói rằng: “Thầy giáo không gợi mở được niềm ham học hỏi của học sinh, mà có tham vọng giáo dục học sinh, chẳng khác nào đánh vào sắc lạnh” (A teacher who is attempting to teach without inspiring the pupil with a desire to learn is hammering on cold iron).

            Ðức Phật cho rằng: Giáo dục phải thuận theo bản tính và thói quen mới có thể thu được hiệu quả “đắc tâm ứng thủ” (muốn sao làm được vậy) và “sự bán công bội” (làm ít công to, làm chơi ăn thiệt). Vì mỗi chúng sanh đều có bản tánh, thói quen, sở thích không giống nhau, do đó Phật tùy theo tính hướng của đối phương, dùng các phương pháp khéo léo và ngôn từ nhẹ nhàng để khuyên bảo dạy dỗ chúng, khiến cho chúng dần dần đạt được trí tuệ và niềm an lạc cao nhất[27]

            Thông thường Phật dùng bốn phương pháp sau đây để xử lý những câu hỏi của người khác:

            Thứ nhất, thấy rõ tâm ý của người đó, đi thẳng vào vấn đề, một lời nói phá nghi hoặc đối phương. Nói cách khác, tránh những vấn đề không liên quan và nhằm đúng vào tiêu điểm nghi vấn của người khác, giải đáp một cách dứt khoát, thẳng thắn.

            Thứ hai, khi vấn đề của người hỏi quá phức tạp, Ðức Phật đơn giản hóa vấn đề, hoặc qui nạp thành một số đại loại liên quan với nhau, sau đó phân tích dần dần từng bước, thứ tự rõ ràng. Hoặc nghiên cứu thảo luận một vấn đề liên quan lớn hơn từ góc độ rộng hơn, đa dạng hơn.

            Thứ ba, khi đối phương tương đối thông minh, sau khi đưa ra vấn đề, người đó có thể tự giải quyết vấn đề của mình, Phật dùng phương pháp phản vấn để gợi ra cho người ấy suy lý, suy nghĩ. Tiến thêm bước nữa Phật giúp đỡ người ấy hiểu được điểm quan trọng của vấn đề và điểm mà vấn đề bị ách tắc. Hoặc Phật dùng phương thức phản vấn để sửa chữa những quan niệm hoặc câu hỏi còn thiếu sót của đối phương, sau đó nói ra đáp án chính xác.

            Thứ tư, đối với vấn đề không thể thành lập thì Phật lặng lẽ không nói gì, để cho người hỏi tự phản tỉnh xem lại vấn đề của mình. Cái gọi là “vấn đề không thể thành lập” chính là vấn đề tự bản thân nó mâu thuẫn và không có ý nghĩa gì. Ví dụ như hỏi: “em bé trai mà người con gái bằng đá sanh ra, thông minh không?” Vấn đề này không thể thành lập, nên không thể đưa ra đáp án.

            Mục tiêu tối hậu mà Ðức Phật giáo dục là khiến cho tất cả chúng sanh thành Phật. Vì đạo Phật sâu xa huyền diệu, không thể nào thoắt một cái là thành tựu được, vả lại căn cơ và tính hướng của chúng sanh lại không giống nhau, do đó Phật chia nhất thừa thành năm thừa: Nhân thừa, Thiên thừa, Thinh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa. 

     Ðối với học trò có tư chất bẩm sinh, thói quen, cá tính thích hợp với Nhân thừa, thì Phật dạy những học trò đó ngũ giới và đạo lý làm người. Ðối với những đệ tử có tư chất bẩm sinh, cá tính, thói quen thích hợp với Thiên thừa, thì Phật dạy những đệ tử đó tu thập thiện, hưởng phước báo của cõi trời. Ðối với đệ tử có tư chất bẩm sinh, cá tính, thói quen thích hợp với thinh đạo tự độ, Phật dạy những đệ tử này bốn chân lý giải thoát phiền não và chứng Thánh quả A-la-hán. Ðối với học trò có tư chất bẩm sinh và tập tính thích hợp với tự mình quán sát hiện tượng nhân quả của vũ trụ, tu hành ngộ đạo, Phật dạy cho những học trò này chân lý sanh diệt của mười hai nhân duyên, để họ tu tập và chứng Thánh quả Tiểu thừa. Ðối với học trò có tư chất bẩm sinh, cá tính và thói quen thích hợp với tự lợi lợi tha, Phật dạy những học trò này sáu chân lý (lục độ) từ bi với chúng sanh và thành tựu trí tuệ viên mãn, chứng đắc quả Phật. Cho nên trong kinh nói: Phật thừa là thật, năm thừa là quyền.

            Kinh Niết Bàn có một ví dụ nói rõ Ðức Phật khuyên dạy đệ tử từ Tiểu thừa tiến vào Ðại thừa như thế nào. Ví dụ một trưởng giả nọ có một người con trai, ông ấy rất vui và rất muốn người con đi học. Vì thế, khi người con đến tuổi đi học, ông ấy đưa người con ấy đến chỗ Thầy giáo để học. Vì Thầy giáo e rằng đứa bé này không có hứng thú với đọc sách viết chữ mà muốn trở về nhà, do đó Thầy giáo ngày đêm cần cù dạy học trò này một số sách đồ họa rất thú vị và chữ cũng rất ít, để vừa với sở thích của học trò, sau đó gợi mở cho học trò hứng thú đọc sách lớn hơn. (Xem thêm quyển 5 kinh Niết Bàn)[28].  

            Sự tích về những phương tiện thiện xảo và khéo dẫn dắt từng bước của Ðức Phật, trong kinh Phật có rất nhiều. Ví dụ, nhân dịp đệ tử cắt tóc cho Phật, Phật dạy vị đệ tử đó và vị đệ tử đã nhập vào cảnh giới thiền thứ tư…

            Có một lần, Phật và chúng đệ tử nhìn thấy một trang giấy cũ trên mặt đất. Phật gọi một vị đệ tử nhặt lấy trang giấy đó lên và hỏi vị ấy đó là giấy gì, đệ tử đáp rằng: “Bạch Thế Tôn đây là giấy gói đàn hương, bây giờ tuy nó không có gói đàn hương, nhưng vẫn còn thơm!” Phật và chúng đệ tử tiếp tục đi về phía trước, thấy trên mặt đất có một sợi dây, Phật lại gọi một đệ tử nhặt sợi dây đó lên. Phật lại hỏi: “Sợi dây đó đã dùng để làm gì vậy?” Ðệ tử đáp rằng: “Bạch Thế Tôn, sợi dây này đã dùng để buộc cá, cho nên vẫn còn tanh mùi cá”. Thế là Phật liền dạy chúng đệ tử rằng: “Này các đệ tử, hai vật này vốn sạch sẽ thanh khiết, do vì gặp ngoại duyên không giống nhau, cho nên mùi vị cũng thay đổi khác nhau. Một người bình thường cũng vậy, gần gũi với bạn bè hiền đức tài giỏi, lâu dần lâu dần sẽ học tốt. Ngược lại, thân cận bạn bè hung ác lâu dần cũng sẽ ảnh hưởng xấu. Bạn bè hàng ngày sống chung với nhau, tự nhiên cũng sẽ bị ảnh hưởng theo” (Kinh Pháp Cú Thí Dụ).

            Thí dụ cũng là một phương tiện thiện xảo mà Phật thường dùng để dạy đệ tử. Trong kinh Quán Phật Tam Muội Hải, Phật đưa ra sáu thí dụ để các đệ tử hiểu rõ ưu điểm đặc biệt của niệm Phật tam muội. Trong kinh Như Lai Tạng, Phật đưa ra chín thí dụ để nói rõ tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Trong kinh Bát Nhã, Phật đưa ra mười thí dụ để chúng đệ tử hiểu rõ tất cả hiện tượng trong vũ trụ và văn tự đều do nhân duyên hòa hợp mà có, không có bản thể cứu cánh. Tong phẩm Phương Tiện kinh Duy Ma, có mười thí dụ miêu tả thân con người cũng do nhân duyên hòa hợp mà sanh, không có bản thể thực tại. Tong kinh Pháp Hoa, Phật dùng các thí dụ như: Hỏa trạch dụ, Cùng tử dụ, Dược thảo dụ, Hóa thành dụ, Kế châu dụ và Y tử dụ để nói rõ giáo nghĩa tự lợi lợi tha của Ðại thừa. của một kinh Kim Quang Minh, có bốn thí dụ, trong phẩm Thọ Trì kinh Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba-la-mật có tám thí dụ v.v…

     Ðức Phật từng nói: “Phật pháp mà Ta ngộ là một chân lý cứu cánh viên mãn, tuyệt diệu siêu tục. Tuy Ta đã dùng văn tự đơn giản dễ hiểu và ngôn ngữ đơn giản để biểu đạt, nhưng những người trí tuệ kém vẫn không thấu hiểu những ý nghĩa sâu xa của Phật pháp. Ta phải dùng những ngôn ngữ và tư tưởng của chính họ để diễn tả, mới thích hợp với họ. Họ giống như những đứa trẻ vậy, thích nghe những câu chuyện, cho nên Ta chọn phương pháp dùng những câu chuyện, ngụ ngôn, thí dụ để thuyết pháp, để giúp họ lãnh hội được căn bản và tinh thần của Phật pháp một cách nhẹ nhàng, an vui”.

            Ðức Phật rất khéo dùng thí dụ và những câu chuyện ngụ ngôn để tăng thêm hiệu quả giáo dục. Ví dụ như Ngài nói: Ngày xưa có một người, khi sinh ra bị mù đôi mắt. Ông ấy không tin trên thế giới có ánh sáng, màu sắc và sáng tối. Có rất nhiều bạn bè đều nói cho ông ấy biết, để ông ấy sửa đổi quan niệm sai trái của mình, nhưng ông ấy vẫn cố chấp nói rằng: “Những màu sắc mà các bạn thấy được, nhất định là những ảo giác, vì nếu có màu sắc thì chắc chắn tôi sẽ sờ được. Vả lại, mỗi một vật đều có trọng lượng, nhưng màu sắc mà các bạn nói, tôi lại không cảm giác có trọng lượng!” Sau đó, người nhà của người mù kia mời một vị bác sĩ giỏi về chữa trị đôi mắt cho ông ấy, bác sĩ cho ông ấy uống một số thuốc đồng thời nói cho ông ấy biết những phương pháp sinh hoạt và những điều kiêng kỵ khi dùng thuốc. Ông ấy làm theo lời hướng dẫn của bác sĩ, quả thật thị lực của ông ấy dần dần hồi phục, lúc đó ông ấy mới hiểu: hóa ra màu sắc là như vậy, như vậy!

            Ðức Phật nói, Ngài giống như một vị lương y hết lời khuyên bảo; bệnh không thấy màu sắc giống như tham ái, sân hận và si mê hoặc ngã chấp của chúng sanh; linh dược kia giống như phương pháp tu hành chính xác mà Phật đã dạy; những điều kiêng kỵ trong thời gian uống thuốc là giới luật mà Phật đã dạy.

            Ðức Phật cũng đã từng thí dụ Ngài là một Nông phu. Phật nói: Chúng sanh là những mảnh ruộng của Ta; niềm tin là những hạt giống của Ta; hành thiện là những hạt sương; trí tuệ là ánh sáng; chăm sóc cẩn thận là cái cày; tinh cần không giải đãi là con trâu Ta chọn; chân thành là sợi dây buộc con trâu; chân lý là cái cán Ta nắm; phiền não và vô minh là cỏ dại mà Ta cần nhổ; trạng thái an lạc, thanh tịnh, bất sanh bất diệt là kết quả mà Ta cày cấy thu hoạch được.

            Ðức Phật lại thí dụ Ngài là một Người làm vườn, là một đám mây… Dù Phật thí dụ như thế nào đi nữa, luôn luôn hợp với chân lý, khiến cho người nghe, người đọc đều cảm thấy vừa khéo, vừa hợp với chân lý.

            Chỉ riêng kinh Pháp Hoa và Niết Bàn cũng đã có trên hàng nghìn thí dụ, đều là những thí dụ rất hay. Hôm nay bút giả đơn cử ra một thí dụ để cống hiến cùng độc giả:

            Có bốn hạng bạn bè, chúng ta không thể không biết! Hạng bạn bè thứ nhất giống như hoa, hạng thứ hai giống như cái cân, hạng thứ ba giống như ngọn núi và hạng bạn bè thứ tư giống như đất. Khi thấy người giàu có thì kết bạn với người ấy, khi người đó nghèo thì chia tay, giống như hoa nở xinh tươi thì dùng cài vào tóc, khi vừa khô héo thì ném đi, điều này giống như hạng bạn bè thứ nhất: giống như hoa. Ðối với người có quyền thế địa vị cao hơn mình thì a dua nịnh hót ông ấy, đối với người có quyền thế địa vị thấp hơn mình thì khi dễ ông ấy, giống như cái cân vậy, cân đồ vật nặng thì nó nhích lên, đồ vật nhẹ thì nó hạ xuống. Ðây giống như hạng bạn bè thứ hai: giống cái cân. Khi mình nghèo, tuy không tích cực giúp đỡ bạn bè, nhưng khi mình giàu có lên thì cùng chia vui với mọi người, giống như chim thú tập trung ở núi tốt, tiếng tăm danh dự vang khắp nơi, đây gọi là bạn bè giống ngọn núi. Cho dù mình nghèo hay giàu, mình đều độ lượng rộng rãi với từng người bạn, không những cùng chia vui mà còn quan tâm đến những nỗi buồn của người khác, hạng bạn bè này giống như đất vậy, trong đất có trăm thứ châu báu, tùy chúng sanh sử dụng mà không cầu báo ân, cho nên tình bạn này giống như đất.

            Có lúc, sau khi nói xong thí dụ hoặc đạo lý tương đối dài Phật sẽ dùng thi kệ nói lại những điểm chính quan trọng để giúp thính chúng nhớ. Trong kinh Viên Giác có rất nhiều chương dùng phương pháp này để giảng thuật.

            Có lúc, sau khi giảng xong một câu chuyện hoặc ngụ ngôn, Phật sẽ nói những câu ngắn gọn sâu sắc để đệ tử thể hội được tinh thần và ý nghĩa của câu chuyện, hoặc tăng thêm ấn tượng cho đệ tử. Ví dụ như Phật nói: “Xả bỏ ích kỷ, tự tư thì tâm mới được an lạc, tâm mới có hòa bình, từ bi và trí tuệ thật sự”; “Người có tư tưởng không rõ ràng, ý chí bạc nhược, biếng nhác giải đãi thì không cách nào giải thoát phiền não”; “Tham thọ lạc thường thường dễ dẫn đến lo buồn, sợ đau khổ thì lại dẫn đến sợ hãi. Nếu chúng ta không tham chấp sung sướng, dễ chịu (lạc thọ) cũng không sợ đau khổ thì tâm sẽ duy trì được an lạc, thanh tịnh lâu dài”; “Sống chung với mọi người không có chút tham lam, sân hận nào thì cuộc sống mới có niềm vui”; “Người mất ngủ cảm thấy đêm dài dằng vặt, kẻ mỏi mệt cảm thấy đường xa diệu vợi. Ðối với người ngu si mà nói, sanh tử luân hồi là con đường dài đằng đẳng gấp vạn ức lần”; “Ðừng suy tính thiệt hơn, đừng tính toán chi ly danh lợi của mình. Vì thân thể này rồi cũng sẽ tiêu tan, mọi sự mọi việc như bọt bèo, cống hiến và phục vụ cho đại chúng mà không vì lợi ích cá nhân, không vì ham muốn cá nhân, mới là cao thượng nhất”; “Phục vụ xã hội có thể giúp con người yêu thương nhau. Người thường mang lòng từ bi cứu giúp người khốn khó mà không keo kiệt tiếc rẻ, chắc chắn sẽ có được quả báo tốt”. Sau đây bút giả đưa ra vài thí dụ đơn giản ngắn gọn để cúng dường chư độc giả, mấy thí dụ này cũng đều là do kim khẩu của Phật nói ra:

          Ác khẩu là thanh gươm bén nhọn nhất.

                        Tham dục là thuốc độc mạnh nhất.

                        Sân hận là bệnh sốt đáng sợ nhất.

                        Phiền não là lò lửa hung dữ nhất.

                        Si mê là đêm tối dài bất tận.

                        Tâm niệm tà là tên giặc gian hiểm nhất.

                        Nhân từ là bảo tạng trân quý nhất.

                        Trí tuệ là ngọn đèn sáng sủa nhất.

                        Bất sanh bất diệt là nơi ở an toàn nhất.

            Ở đây bút giả nói thêm về “bất sanh bất diệt”: Trong vũ trụ, ngoài tánh linh bất sanh bất diệt, tồn tại mãi mãi ra (trong kinh gọi tánh linh là Thức thứ tám, Tạng thức, hoặc A-lại-da thức, đã được tu tập và chuyển thành Bạch tịnh thức, Như Lai tàng thức, Phật tánh…), bất kỳ sự vật nào cũng đều có sanh có diệt. Thiết nghĩ, trái đất sau khi trải qua năm tỷ năm nữa sẽ không bảo tồn được mà sẽ biến hoại, người vật trên trái đất lẽ nào có đạo lý sống mãi! Sự vật có sanh, tức có diệt, đây là định luật xưa nay không thay đổi. “Sống mãi” chẳng qua chỉ là một từ hình dung “không hữu kỳ danh” của các nhà văn học mà thôi. Duy chỉ có những gì bất sanh bất diệt, mới là tồn tại mãi mãi. Sở dĩ Phật dạy chúng ta đoạn trừ tham dục, phiền não, vô minh để giúp cho tánh linh (tâm trí viên giác, Như Lai tạng, chân như…) hiện ra. Tu tập đạt đến trạng thái này, cảnh giới này thì không còn chịu những thống khổ của sanh lão bệnh tử nữa. Vì nó không có đau khổ và phiền não cho nên còn gọi là “Niết bàn”.

XIII. NHỮNG KỸ XẢO KHÁC

1. Giúp học sinh hiểu rõ trung tâm của vấn đề và tình hình thực tế.  

Ví dụ trong kinh Niết Bàn quyển 12, Phật dạy các đệ tử, chân tướng của nhân sinh có nỗi khổ khi sanh ra đời, nỗi khổ của già nua, nỗi khổ khi bệnh tật, nỗi khổ khi chết, nỗi khổ khi yêu thương nhau mà phải xa nhau, nỗi khổ ghét nhau mà cứ phải gặp nhau, nỗi khổ khi mong cầu mà không đạt được, nỗi khổ mất danh dự, mất niềm vui v.v… Những nỗi khổ này là do ba nguyên nhân sanh khởi: tham (đối với những hoàn cảnh thuận lợi khởi lòng tham), sân (chán ghét, phiền não với những gì không vừa ý, không hài lòng), si (si mê không hiểu biết dù là thuận cảnh hay nghịch cảnh).

2. Nêu ra thái độ, phương pháp và trọng điểm giải quyết vần đề, đồng thời khích lệ học sinh tự giải quyết vấn đề.

            Ví dụ, trong kinh Bát Chánh Ðạo, Phật dạy đệ tử “tám con đường chân chánh” có thể đoạn trừ được những đau khổ và phiền não.

            Trong quyển một của kinh Bồ Tát Ðịa Trì, Phật dạy đệ tử nên tinh tấn học bảy pháp môn tự mình giáo dục. Trong đoạn kinh sau đây chúng ta có thể thấy Ðức Phật khéo nêu ra trọng điểm của vấn đề cho học trò, sau đó khích lệ học trò tinh tấn thực hành, vận dụng chân lý Thanh văn vào cuộc sống: “Ta thường giảng: chân lý từ bi với chúng sanh cho các vị, những tri thức tinh túy, những câu chuyện sinh động, ý nghĩa thâm sâu… Các người hãy tinh tấn tu hành theo những gì Ta dạy sẽ thể nghiệm được chân lý thực tại. Vì những gì Ta nói không trái với chân lý” (kinh Ðại Bát Nhã, quyển 406)

            “Tuy biết nhiều chân lý nhưng không thực hành, thì có ích gì? Chi bằng nhớ một lời hay, sau đó thực hành tu chứng, có thể đạt được lợi ích thực tế” (kinh Pháp Cú) (Chỉ một câu hữu ích, nghe xong tâm bình an, hơn tụng cả muôn ngàn, những lời kệ vô dụng); “Không phải vì nghe nhiều, là thọ trì chánh pháp, người nghe ít diệu pháp, nhưng trực nhận viên dung, chánh pháp không buông lung, là thọ trì chánh pháp” (kinh Pháp Cú)

            “Chỉ biết nhiều mà không thực hành thì không cách nào thành tựu trí tuệ. Nghe nhiều mà không thực hành, cũng giống như một người làm sơn hào hải vị và bày ra trên bàn, sau đó ngồi một bên để bụng đói; giống như một người suốt ngày đếm tiền cho người khác, nhưng mình lại không có đồng nào; giống như một người sống trong cung vua huy hoàng tráng lệ nhưng lại chịu sự giày vò của đói rét cơ hàn; giống như người bị điếc tai mà diễn tấu âm nhạc làm vui cho người khác, nhưng chính mình lại không nghe được sự hài hòa của âm thanh” (kinh Hoa Nghiêm).

            “Chỉ một lời chánh pháp, nghe xong tâm bình an, hơn tụng cả muôn ngàn, những lời kệ vô dụng”; “Dù sống đến trăm năm, keo kiệt không bố thí, tham giữ nhiều tài vật, chi bằng sống một ngày, thường hành hạnh bố thí, tế độ khắp thế nhân”; “Dù sống đến trăm năm, lười biếng không tinh tấn, chẳng bằng sống một ngày, nỗ lực tu tinh tấn, lợi mình và lợi người”. (kinh Pháp Cú)

3. Giúp đỡ học sinh đặt định mục tiêu cụ thể, và hoài bão thích hợp để khuyến khích niềm tin và ước mong thành đạt của chúng. Ví dụ Phật dạy đệ tử “Diệt đế” (trạng thái hay cảnh giới niết bàn sau khi diệt trừ hết phiền não) là thuộc về kỹ xảo dạy học này.

4. Xây dựng một hoàn cảnh hài hòa, vui vẻ để bồi dưỡng hứng thú và thói quen tốt, giúp học sinh có thân tâm khỏe mạnh và nhân cách hoàn thiện. Ví dụ, Phật chế ra nhiều loại giới luật và chế độ Tăng đoàn, là dựa vào mục đích này.

5. Lời nói và hành động phải nhất chí với nhau, lấy mình làm gương biểu hiện phong độ và hành vi tốt, làm gương cho học sinh. Ví dụ, trong quyển 12 của kinh Hiền Ngu và trong quyển 5 kinh Tạp Bảo Tạng ghi rằng, Phật vì giúp đệ tử hiểu rõ khi bố thí không nên để lòng ân ái xen vào, vì vậy Phật không nhận chiếc mền nỉ màu vàng rất quý trọng chính tay Di mẫu dệt cho Ngài và Phật mời Di mẫu chuyển cúng dường cho những đệ tử của Phật. Nhưng trong quyển 8 luận Ðại Trí Ðộ ghi rằng: Phật cung kính nhận vật vừa thô vừa xấu của một bà già nghèo thành tâm bố thí cho Phật. Vì nghèo khổ mà bố thí là một điều rất khó làm!

            Kinh Tịnh Phạn Vương Niết Bàn và trong kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 50 ghi rằng: Phật vì giúp chúng sanh hiểu rõ công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, đích thân Phật nâng quan tài của phụ vương và sau đó chính tay Ngài bê lư hương và đi trước lễ tang.

6. Cung cấp nhiều tri thức có hệ thống và sự tích về các phương diện, giúp học sinh có thể hiểu một vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, đồng thời làm sâu sắc thêm tư tưởng và quan niệm của học sinh. Ví dụ, trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật đưa ra nhiều thí dụ có thực khác nhau, nói rõ lợi ích của Ðại thừa Bồ tát từ nhiều góc độ khác nhau.

7. Thích thú đối với các vấn đề của học sinh, đồng thời cổ vũ khuyến khích nhiều hơn nữa đối với thái độ và hành vi tốt của học sinh. Khuyến khích động viên nhiều hơn nữa đối với những hoạt động sáng tạo như tự giáo dục, tự phê bình, đánh giá… Ví dụ, trong những đoạn vấn đáp trong kinh, khi có đệ tử hỏi, chúng ta thường thấy Phật xưng tán, khen ngợi như: “Lành thay! lành thay!” Có khi Phật hỏi ngược lại, ý kiến và cách nhìn của đệ tử đối với một sự việc nào đó. (“Ý của ngươi như thế nào?”) v.v…

8. Nên dùng lực lượng của số đông để khích lệ học sinh cùng nhau giúp đỡ, học cái hay, sửa cái dở, quan tâm lẫn nhau.

            Ví dụ, Phật thường khích lệ đệ tử nên gần gũi bậc Thiện tri thức. Trong phẩm Bồ tát kinh Duy Ma: “Vui vẻ gần gũi với bạn cùng học”. Phẩm Ngũ Bách Thọ Ký kinh Pháp Hoa nói: “Làm lợi ích cho những người cùng tu hành”. Ma Ha Chỉ Quán quyển 4  nói: “Học cái hay sửa cái dở, đồng tâm nhất chí, như cùng đi một thuyền, kính trọng lẫn nhau…”

            Ðức Phật đặc biệt gợi ý cho đệ tử phương pháp bình đẳng làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Vì tùy thuận chúng sanh chính là tùy thuận cúng dường tất cả Như Lai. Cung kính quan tâm đến chúng sanh chính là kiền thành phục vụ Như Lai. Làm cho chúng sanh hoan hỷ, cũng chính là làm cho Như Lai hoan hỷ. Vì sao? Vì tất cả Như Lai đều lấy tâm từ bi làm gốc. Có chúng sanh chúng ta mới có thể phát tâm từ bi. Có tâm từ bi chúng ta mới có thể phát tâm cầu trí tuệ. Vì không ngừng học tập và tu hành cho nên cuối cùng thành tựu trí tuệ viên mãn. Trí tuệ, vì chúng sanh mà có được, giả như không có chúng sanh, tất cả Bồ tát mãi mãi không cách nào thành tựu trí tuệ vô thượng. Vả lại, mỗi một chúng sanh là một vị Phật tương lai, tương lai chúng sanh đó gặp được nhân duyên thích hợp, hoặc ai đó giáo hóa, hoặc do tinh tấn nỗ lực tu học đều có thể thành tựu trí tuệ vô thượng. Chúng ta đã tôn kính Phật quá khứ và Phật hiện tại, đối với “Phật vị lai” này sao lại có tâm xem thường, không quan tâm và bảo hộ tốt hơn nữa? (Xem thêm luận Niệm Phật Bảo Vương Tam Muội và phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện kinh Hoa Nghiêm)

            Ðức Phật thậm chí dạy đệ tử: Ðối đãi với tất cả chúng sanh cũng như cung kính đối đãi Phật vậy. Bố thí quý ở tấm lòng từ bi, chứ không phải quý ở số lượng nhiều ít. Thường khi người khác gặp nguy nan và cần gấp, có thể chân thành dũng cảm giúp đỡ họ, đây chính là hành vi cao thượng.

            Trong kinh Phật có một câu chuyện như sau: Có hai người A và B, người A rất giàu có, người B lại rất nghèo khó. Một hôm nọ, hai người họ cùng lúc gặp một người ăn xin. Lúc đó trong lòng hai người ấy rất lo buồn, người A có tiền, nhưng ông ấy sợ người ăn xin kia đến xin tiền; người B tuy không có tiền, nhưng trong lòng ông ấy cứ lo lắng, làm sao giúp đỡ người ăn xin kia. Hai người A và B đều biểu hiện lo buồn trên nét mặt giống như nhau, nhưng quả báo lại hoàn toàn khác nhau. Người nghèo B kia vì mang tấm lòng từ bi, cho nên sau này hưởng được rất nhiều phước báo. Nhưng người A giàu có kia, mang lòng keo kiệt, cho nên sau này khổ não vô cùng. Ðối đãi với một người ăn xin mà còn mang tâm từ bi, huống gì đối đãi với những người cùng học cùng tu chung với mình?

            Người có thể giúp chúng ta tăng trưởng trí tuệ và hạnh lành, trong kinh Phật gọi là “Thiện tri thức”. Nếu tâm trí của chúng ta tu dưỡng đến nơi đến chốn, dù gặp người hiền hay người ác, thuận cảnh hay nghịch cảnh đều có thể tăng thêm phẩm đức và trí tuệ của chúng ta. Ðương nhiên, gặp người hiền có thể học được ưu điểm của đối phương, ở trong hoàn cảnh thuận lợi có thể có được niềm vui như ý. Nhưng gặp phải người không hiền có thể giúp chúng ta học được phẩm đức nhẫn nại và phản tỉnh. Vì nghịch cảnh có thể đối trị tâm sân hận của chúng ta. Một người ở trong nghịch cảnh không những có thể bồi dưỡng tấm lòng khoan dung độ lượng mà còn có thể tăng trưởng lòng từ bi. Ý chí và tinh tấn chân chánh, vững chắc, luôn luôn được rèn luyện trong nghịch cảnh.

            Ngược lại, người ít tu tâm dưỡng tánh, khi gặp phải nghịch cảnh thì sanh lòng sân hận và đau khổ; gặp người hiền thì đố kỵ, ganh ghét và phỉ báng; gặp người không hiền thì càng khi dễ và nhục mạ người ấy.

            Do đó, một người có được trí tuệ và những lợi ích từ trong nghịch cảnh hay thuận cảnh hay không, hoàn toàn là do sự tu tâm dưỡng tánh của chính người đó. Giả như, chúng ta học được những phẩm cách từ bi, nhẫn nhục, khiêm tốn, dũng cảm từ trong kinh Phật, như vậy chúng ta sống chung với bạn bè xung quanh hoặc những người đồng học không khó. Vì lúc đó, toàn bộ ngoại cảnh, người vật đều là trợ duyên của chúng ta.

PHẦN III

NHỮNG ÐẶC SẮC VỀ GIÁO DỤC CỦA ÐỨC PHẬT

I. NỘI HÀM PHONG PHÚ

Nội dung giảng dạy của Ðức Phật, nói chung bao gồm bao nhiêu môn học? Ðây là một vấn đề rất thú vị. Theo kinh điển, chân tướng cuối cùng của vạn sự vạn vật vốn chỉ có một, Ðức Phật đã giúp cho tất cả chúng sanh căn cơ không giống nhau đều hiểu rõ chân tướng này. Do đó tùy người, tùy lúc, tùy nơi… Ðức Phật khéo dùng phương tiện giảng thuyết vô số pháp môn và đạo lý [29].

            Theo kinh Phật ghi rằng, đạo lý nhiều vô hạn này có thể quy nạp lại là tám vạn bốn ngàn pháp môn. Vì số trang của sách có giới hạn, nên không tiện nói nhiều, bây giờ chỉ kể ra những gì tương tự với các khoa mục của nền giáo dục hiện đại ngày nay.

1. SINH LÝ HỌC

            Tri thức sinh lý của các nước phương tây phần lớn là giải phẫu những xác chết và quan sát những xác chết từ phòng thực nghiệm mà có. Tri thức sinh lý phương đông là sau khi quan sát bản thân mình trong tĩnh lặng hoặc trong thiền định mới nhận biết được. Tri thức sinh lý phương tây quan sát hướng ngoại, nghiêng về trạng thái tĩnh; tri thức sinh lý phương đông là nội tỉnh, nghiêng về trạng thái động. Tri thức sinh lý phương tây có được là do giải phẫu người đã chết, sau đó suy luận đến thân người còn sống, do đó thuộc về sinh lý học gián tiếp. Tri thức sinh lý phương đông có được là do quan sát người còn sống một cách sinh động, do đó tương đối trực tiếp và đáng tin cậy. Vì kết cấu sinh lý người chết suy cho cùng không thể hoàn toàn giống với kết cấu sinh lý người sống được. Ví dụ, người sống máu huyết tuần hoàn, nhiệt độ thân thể ấm, nội phân tiết v.v… Người chết thì không như vậy. Do nguyên nhân này, cho nên người phương đông phát hiện ra hiện tượng kỳ diệu như châm cứu, kỳ kinh bát mạch v.v… Ðiều này cũng đơn giản, vì một người ở trạng thái tĩnh, cảm giác của ông ấy nhạy bén hơn lúc bình thường nhiều. Ví dụ như chúng ta sống trong khu vực uyên náo ồn ào, thông thường chúng ta không nghe được tiếng tích tắc của đồng hồ, nhưng trong rừng núi yên tĩnh hoặc trong đêm, chúng ta có thể nghe được rất rõ ràng. Cũng vậy, sau khi một người nhập vào định rồi, người ấy có thể hiểu rõ đến chân tơ kẽ tóc mà còn cảm giác rất rõ nét những hiện tượng sinh lý và sự lưu chuyển của máu huyết trên thân mình.

            Theo kinh Phật ghi rằng, đối với từng bắp thịt, từng giọt máu, từng đốt xương, tủy xương… và những thành phần của nó, Ðức Phật hiểu biết rất rõ. Mỗi người có bao nhiêu sợi lông, tóc, mỗi người có bao nhiêu bắp thịt, bao nhiêu khúc xương, Ðức Phật biết rõ như lòng bàn tay. Không những như vậy, đối với sự hình thành và phát triển của một thai nhi từ khi mới thụ tinh trong bụng mẹ đến khi sinh ra, Ngài biết rất rõ. Sau đây chúng ta cử ra hai điểm trong kinh để nói.

            Trong kinh Niết Bàn quyển 24, thân người đại khái chia làm 36 phần.

            1. Phần ngoài cơ thể có 12 loại: Tóc, lông, móng, răng, dử mắt, nước mắt, nước dãi, nước miếng, phân, nước tiểu, cáu bẩn (đất, hờm), mồ hôi.

            2. Phần thân thể có 12 loại: Da ngoài, da trong, máu, thịt, gân, xương, mạch, tủy, mỡ, tinh, não, màng mỏng.

            3. Phần nội hàm có 12: Gan, mật, ruột, bao tử, lá lách, thận, tim, phổi, sanh tạng, thục tạng, đàm đỏ, đàm trắng. (Xem thêm Ðại Sớ Diễn Nghĩa Sao, quyển 30)

            Trong kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, từ quyển 64 đến quyển 69, Ðức Phật đều giải thích rõ ràng cho đệ tử về mồ hôi, nước tiểu, nước miếng, tủy, mỡ, số lượng tinh, các bộ xương trong toàn thân, vị trí của các loại tế bào, cho đến nguyên nhân và quá trình của các loại bệnh, thông thường vì sao con người lại mệt mỏi, vì sao cần phải ngủ, vì sao có một số người ốm o vàng vọt, hoặc tiểu tiện ra máu v.v…

            Ví dụ như, trong kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, quyển 64,  Phật nêu ra 13 loại mạch. Quyển 65 nêu ra hai vai có 4 đốt xương, xương trán có 2 đốt, xương mũi có 1 đốt, xương má có 1 đốt, xương răng có 32 đốt (32 cái răng), hàm trên có 1 đốt, răng cấm có 2 đốt, cổ có 15 đốt, hai cánh tay có 2 đốt, hai khuỷu tay có 2 đốt, xương sống có 45 đốt, xương ngực có 14 đốt, xương hai bên sườn trái phải có 12 đốt, hai đầu xương sườn bám vào xương sống mỗi đầu có 24 đốt, xương cùng một đốt, xương chậu 2 đốt, thân căn 1 đốt, hai đùi 2 đốt, hai đầu gối hai đốt, hai mắt cá 2 đốt, yết hầu 2 đốt, gót chân 2 đốt, cổ chân 2 đốt, hai bàn tay hai bàn chân hợp lại có 60 đốt, móng hai bàn tay hai bàn chân hợp lại có 20 đốt… Chỉ riêng hai bên sườn trái phải, bỏ hết da thịt sẽ có 100 sợi gân nhỏ… Từ vai đến tủy, mỗi bên có 12 thớ thịt nhỏ…

            Trong quyển 66 và 67 của kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, Ðức Phật nói rõ đầu, yết hầu, ngực, âm hoàng, thịt, tủy xương, máu, nước tiểu trong thân thể con người có 80 loại vi khuẩn và Phật nói tỉ mỉ tình hình của chúng. Ví dụ như, trong tủy xương có 14 loại vi khuẩn như: khuẩn mao, khuẩn hắc khẩu, khuẩn mất lực, khuẩn đau đớn, khuẩn buồn phiền, khuẩn màu lửa, khuẩn hạ lưu, khuẩn khởi thân, khuẩn nhớ nghĩ, khuẩn hoan hỷ. Trong máu có 10 loại khuẩn như: khuẩn thực mao, khuẩn khổng hành, khuẩn thiền đô, khuẩn đỏ, khuẩn giun đũa, khuẩn mao đăng, khuẩn tóc, khuẩn sân huyết, khuẩn trừu chứng, khuẩn thố. Trong thịt có khuẩn lở loét, khuẩn châm biếm, chuẩn bế cân, khuẩn động mạch, khuẩn da, khuẩn động chi, khuẩn hòa tập, khuẩn thối… Ðức Phật còn nói rõ con người sau khi chết 80 loại vi khuẩn này phân giải như thế nào…

            Trong quyển 1 kinh Tu Hành Ðạo Ðịa, tiến thêm một bước nữa, Phật chỉ ra vị trí nơi ở chính xác của 80 loại vi khuẩn. Như là, Ngài nói ở tóc có 2 loại vi khuẩn, não có 2 loại vi khuẩn, trán có 2 loại vi khuẩn, mắt có 2 loại vi khuẩn, lỗ tai có 2 loại vi khuẩn, mũi có 2 loại vi khuẩn, trong miệng có 2 loại vi khuẩn, trong răng có 2 loại vi khuẩn, chân răng có 2 loại vi khuẩn, lưỡi có 1 loại vi khuẩn, lợi răng có 1 loại vi khuẩn, yết hầu có một loại vi khuẩn, con ngươi có 2 loại vi khuẩn, phần vai có 2 loại vi khuẩn, cánh tay có 1 loại vi khuẩn, phần ngực có 2 loại vi khuẩn, phần vú có 1 loại vi khuẩn, phần sườn có 2 loại vi khuẩn, phần cột sống có 2 loại vi khuẩn, giữa lưng và ngực có một loại vi khuẩn, trong da có 1 loại vi khuẩn, trong thịt có 2 loại vi khuẩn, trong xương có 4 loại vi khuẩn, trong tủy có 5 loại vi khuẩn, trong ruột già và ruột non có 2 loại vi khuẩn, trong gan, sanh tạng, thục tạng, cốc đạo mỗi phần có 1 loại vi khuẩn, trong phân có 3 loại vi khuẩn, trong tử cung và mông đít có 2 loại vi khuẩn, lá lách, đầu gối, mắt cá, bàn chân và lòng bàn chân mỗi phần có một loại vi khuẩn.

Thú vị hơn nữa là, trong quyển 1 của kinh Tu Hành Ðạo Ðịa, có ghi rõ quá trình phát triển của thai nhi như sau:

Trong tuần lễ đầu tiên, mới thụ tinh không có gì thay đổi.

Tuần lễ thứ 2 (tức ngày thứ 14), thai nhi lớn lên một chút như màng sữa đặc.

Tuần lễ thứ 3 (tức ngày thứ 21), giống như giọt sữa tươi.

Tuần lễ thứ 4 (tức ngày thứ 28, tháng thứ nhất), đông lại như giọt sữa chín.

Tuần lễ thứ 5 (tức ngày thứ 35), giống như bơ sống.

Tuần lễ thứ 6 (tức ngày thứ 42), giống như cục thịt dư nhỏ xíu.

Tuần lễ thứ 7 (tức ngày thứ 49), giống như cục thịt nhỏ xíu khỏe mạnh.

Tuần lễ thứ 8 (tức ngày thứ 56), khỏe mạnh như phôi.

Tuần lễ thứ 9 (tức ngày thứ 63, tháng thứ 2), thai nhi phát triển thành năm nhục bào, có hình dáng hai khuỷu tay, hai đùi và cổ.

Tuần lễ thứ 10 (tức ngày thứ 70), thai nhi tiếp tục phát triển rõ rệt hơn, gồm hai tay, hai chân va phần đầu.

Tuần lễ thứ 11 (tức ngày thứ 77), thai nhi phát triển thành 24 nhục bào, từ đó hình thành ngón tay, mắt, mũi, tai, và miệng.

Tuần lễ thứ 12 (tức ngày thứ 84), 24 nhục bào tiếp tục lớn lên.

Tuần lễ thứ 13 (tức ngày thứ 91, tháng thứ 3), xuất hiện phần bụng.

Tuần lễ thứ 14 (tức ngày thứ 98), hình thành phổi, gan, tim, lá lách và thận.

Tuần lễ thứ 15 (tức ngày thứ 105), bắt đầu có ruột già.

Tuần lễ thứ 16 (tức ngày thứ 112), bắt đầu có ruột non.

Tuần lễ thứ 17 (tức ngày thứ 119, tháng thứ 4), đã hình thành bao tử.

Tuần lễ thứ 18 (tức ngày thứ 126), có sanh tạng và thục tạng.

Tuần lễ thứ 19 (tức ngày thứ 133), hình thành chân, tay và xương. Bàn tay, cổ chân và cánh tay đã có gân nối kết lại.

Tuần lễ thứ 20 (tức ngày thứ 140), các phần xương trong cơ thể có chút hình thành, lúc này phần đầu có hai cục xương.

Tuần lễ thứ 21 (tức ngày thứ 147), bắt đầu có 2 xương khoang miệng, 7 xương cổ, 2 xương đùi, 2 xương khuỷu tay, 4 xương cánh tay, 12 xương ngực, 18 xương lưng, 2 xương giao, 4 xương bánh chè, 40 xương bàn chân, 180 xương nhỏ và thịt nối lại với nhau. Trong đó có 18 xương nhỏ ở hai bên sườn, hai xương ở phần vai… tất cả có 300 khúc xương. Tất cả xương lúc này mềm mại giống như dây bầu vậy.  

Tuần lễ thứ 22 (tức ngày thứ 154, tháng thứ 5), các phần xương bắt đầu phát triển cứng dần lên.

Tuần lễ thứ 23 (tức ngày thứ 161), xương cứng vững chắc như quả hạch đào. 300 khúc xương liên kết với nhau ngày càng chắc chắn hơn và tất cả phần xương trong cơ thể nói chung là đã hình thành.

Tuần lễ thứ 24 (tức ngày thứ 168), hình thành 700 sợi gân nối kết với cơ thể.

Tuần lễ thứ 25 (tức ngày thứ 175), hình thành 7000 đường mạch (bao gồm động và tĩnh mạch) nhưng chưa hoàn toàn hình thành.

Tuần lễ thứ 26 (tức ngày thứ 182, tháng thứ 6), tất cả 7000 đường mạch phát triển xong, giống như những lỗ nhỏ của rễ sen vậy.

Tuần lễ thứ 27 (tức ngày thứ 189), có 362 sợi gân đã thành hình.

Tuần lễ thứ 28 (tức ngày thứ 196), bắp thịt bắt đầu phát triển.

Tuần lễ thứ 29 (tức ngày thứ 203), bắp thịt lớn dần.

Tuần lễ thứ 30 (tức ngày thứ 210, tháng thứ 7), bắt đầu hình thành phần da.

Tuần lễ thứ 31 (tức ngày thứ 217), phần da phát triển dày hơn.

Tuần lễ thứ 32 (tức ngày thứ 224), phần da càng ngày càng chắc chắn.

Tuần lễ thứ 33 (tức ngày thứ 231), lỗ tai, mũi, các khớp xương ngón tay và đầu gối đã phát triển xong.

Tuần lễ thứ 34 (tức ngày thứ 238, tháng thứ 8), phần da phát triển 990 nghìn lỗ chân lông, nhưng lỗ chân tóc vẫn chưa hoàn thành.

Tuần lễ thứ 35 (tức ngày thứ 245), lỗ chân tóc đã hoàn toàn hình thành.

Tuần lễ thứ 36 (tức ngày thứ 252), bắt đầu có móng tay.

Tuần lễ thứ 37 (tức ngày thứ 259), tai, mắt, mũi, miệng đều thông với nhau. Màu của da và tóc cũng đã rõ ràng.

            Tuần lễ thứ 38 (tức ngày thứ 266), thân thể và khớp xương của thai nhi đã thành hình người. Trong đó những phần tương đối mềm (như: tóc, lông, má, mắt, lưỡi, yết hầu, tim, gan, lá lách, thận, ruột, máu) được di truyền từ người mẹ, cho nên tương đối giống mẹ. Ngược lại những phần tương đối cứng (như: móng, răng, xương, tủy, não, gân, mạch…) được di truyền từ người cha, cho nên tương đối giống cha.

            Nếu thai nhi là đứa bé trai, khi chưa sanh thì lưng hướng ra ngoài và mặt hướng về mẹ, thai nhi là bé gái thì lưng hướng về mẹ và mặt hướng ra ngoài, lúc chuẩn bị sanh thì lại chuyển thân, phần đầu sanh ra trước.

2. ÐỊA LÝ HỌC

     Phương thức giáo dục của Ðức Phật là dùng phương thức “du hóa”. Cái gọi là du hóa, chính là làm công tác giáo dục không có cố định ở một chỗ, mà là du lãm rất nhiều nơi, tùy theo tư chất bẩm sinh và cá tính thói quen mà đưa ra một phương pháp và giáo tài giảng dạy thích hợp.

            Lúc du hóa, một mặt Thầy giáo có thể nghiệm chứng tri thức địa lý mà mình đã có, mặt khác có thể tiếp xúc những địa hình địa vật mới, làm tăng thêm những điều tai nghe mắt thấy của chính Thầy giáo. Vả lại có thể giáo hóa càng nhiều học sinh và gặp nhiều hạng học sinh khác nhau, vì vậy tương đối thỏa mãn nguyện vọng giáo dục của Thầy giáo. Ðồng thời, không khí quan hệ Thầy trò có thể sẽ vì phong cảnh du lãm khắp nơi mà cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái và vui vẻ hơn. Lợi thế lớn nhất của việc du hóa có lẽ chính là bất cứ chỗ nào, lúc nào Thầy giáo cũng có thể lợi dụng địa hình địa vật mới để giáo dục học trò, vì vậy dễ thu được hiệu quả giáo dục hơn. Do những nguyên nhân như vậy, cho nên từ xưa đến nay có rất nhiều nhà giáo dục vĩ đại, đều dùng phương thức du hóa để giáo dục đệ tử. Ví dụ như Ðức Phật, Khổng Tử, Jesu… đều là những người giỏi về du hóa.

            Vì du hóa giúp cho người làm giáo dục nhận thức hoàn cảnh địa lý và bối cảnh nhân văn thực tế dễ nhất. Sở dĩ Thầy giáo dùng phương thức giáo hóa là vì tri thức địa lý rất phong phú. Ðức Phật là một ví dụ rất tốt.

            Sau đây chúng ta xem Ðức Phật đem tri thức địa lý dạy cho đệ tử như thế nào:

            “Phật bảo Ca Diếp rằng: Này thiện nam tử! có tám con sông lớn và nhiều con sông nhỏ đều chảy vào biển. Tám con sông lớn này là sông Hằng (Hằng hà), sông Diêm-ma-la, sông Tát-la, sông A-di-la-bạt-đề, sông Ma (Ma hà), sông Hạnh-đầu, sông Bác-xoa, sông Tất-đà” (Phẩm Trường Thọ kinh Niết Bàn)

            “Hướng đông có một châu, tên gọi là Phất-hoa-đà-đề” (Phẩm Tứ Châu kinh A-hàm)

            “Ngoài ra còn có một châu nữa, gọi là Câu-da-ni. Châu này có một con sông thẳng tắp, tên là Sa-bà-da (dịch âm là Kim sa hà, tức là sông Cát vàng). Con sông này cuối cùng chảy vào Tây hải” (kinh Niết Bàn quyển 10)

            Ðây chỉ là ba ví dụ đơn giản. Vì dạy học về phương diện địa lý, trong kinh Phật ghi rất rõ, nói cũng không nói hết. Ví dụ, quyển 68 của kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, Ðức Phật bảo đệ tử làm thế nào quan sát kỹ càng mười ngọn núi cao của nước Uất-đơn-việt: Núi Tăng-già-xa, núi Ðẳng phong, núi Vật-lực-già, núi Bạch vân trì, núi Cao tụ, núi Phổ man, núi Thời tiết lạc, núi Trì hoan hỷ, núi Như ý, núi Câu-xa-da-kim. Trong quyển 69 của kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, Ðức Phật nói cho đệ tử biết trong mười ngọn núi này có sông ngòi, ao hồ, hoa quả, chim thú, rừng rậm, khe núi, hang đá… Riêng ngọn núi thứ nhất (Tăng-già-xa), Phật nói có 4 khu rừng rậm lớn, 60 loại cây cùng với tên gọi và hình dáng của 70 con sông lớn. Ngọn núi thứ hai (núi Ðẳng phong), Phật chỉ ra 47 cái ao hồ và những loại hoa cỏ trong ao. Tiếp theo Phật lại nói có 16 hồ đẹp nhất, toàn là hoa.

            Từ trong đoạn kinh sau đây, chúng ta có thể thấy Ðức Phật quen thuộc địa lý và năng lực miêu tả rất tỉ mỉ, kỹ càng. Nhưng Ngài chỉ miêu tả một phần nhỏ của ngọn núi thứ chín trong mười ngọn núi cao mà thôi:

            Núi Như ý dài … km, trên núi thường có một nhóm thiếu nữ tụ lại cùng nhau ca hát, trong đó có một thiếu nữ có tiếng hát rất dịu dàng, êm tai. Trong núi có rất nhiều hồ hoa, những khe núi rất rộng, hai bên bờ sông bờ suối có mấy vườn hoa và rừng cây. Cánh rừng thứ nhất là rừng Chi-đa-chi, rừng thứ hai là rừng Long lâm, thứ ba là rừng Na-lê-chi-la, thứ tư là rừng Ba-na-sa, thứ năm là rừng Khư-la, thứ sáu là rừng Am-ba, thứ bảy là rừng Vô-già, thứ tám là rừng Kim-tỳ-la, thứ chín là rừng Ca-ti-tha, mười là rừng Khổng tước, mười một là rừng Câu-si-la, mười hai là rừng Hà trì, mười ba là rừng Liên hoa, mười bốn là rừng Ưu-bát-la, mười lăm là rừng Tân-đầu-ba-lợi-đa, mười sáu là rừng Cưu-la-bà-ca, mười bảy là rừng Mạng mạng điểu, mười tám là rừng Ða-la. Những cánh rừng này có rất nhiều sinh vật quý hiếm. Thông thường người nào nghe được tiếng hát của những thiếu nữ trong núi, cảm thấy vui vẻ, hoan hỷ lưu luyến đến nỗi quên trở về. Khi những đàn chim đang vui hót líu lo hoặc đang ăn những trái cây ngon, vừa nghe được tiếng hát của những thiếu nữ, những đàn chim kia đều dừng những hoạt động của chúng lại, yên lặng lắng nghe những giai điệu tuyệt vời. Ngay những con ong mật đang bay, khi nghe được những âm thanh này cũng đều dừng lại... Trong ao sen xanh có rất nhiều bạch nga (ngỗng trắng), màu sắc trắng trong xinh đẹp… Trong ngọn núi này có nhiều khoáng vật quý báu như vàng, bạc, đồng, sắc, thủy tinh, mã não… Trong rừng có những đàn mi lộc, khổng tước, chim mạng mạng v.v… Những người ở trong khu rừng này thường cùng nhau sinh sống rất hòa hợp, vui vẻ, hạnh phúc. Tong rừng này còn có một vật đáng yêu nữa, đó là ánh sáng mặt trời… (Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ quyển 70)

            Từ những gì đã nói trên, chúng ta có thể biết, Ðức Phật miêu tả địa hình địa vật một cách rất rõ ràng.

            Trong kinh điển cũng có nói đến khoáng sản. Ví dụ như trong quyển 35 luận Ðại Trí Ðộ có nói đến một Châu, trong châu này có rừng Diêm phù thọ, trong rừng có sông, dưới đáy sông có cát vàng, gọi là vàng Diêm-phù-đàn. Lại có Phật điển nói đến hồ A-nậu-đạt trên dãy núi Phật mẫu Hỷ-mã-lạp-á. Hồ này ở trên cao 5115 mét (15500 xích) so với mực nước biển. Nước trong hồ này thông qua các khe núi quanh co, chảy ra bốn sông lớn, một con sông có vàng, một con sông có đá kim cương, một con sông có đá quý màu đỏ và một con sông có lưu ly. Bốn con sông này bắt nguồn từ sông Hằng. Ði dọc theo bờ tây của sông Hằng khoảng mười mấy dặm, theo hướng đông bắc của thành Ba la khu nước Diên Hộ chính là vườn Lộc Uyển mà Phật đã từng thuyết pháp. (Xem thêm Pháp Hiển Phật Quốc ký)

            Tóm lại, chúng ta phát hiện Ðức Phật là một nhà địa lý học vĩ đại trong lịch sử. Vì từ trong kinh Chánh Pháp Niệm Xứ chúng ta có thể thấy: Trong một quốc gia có bao nhiêu dãy núi và sông ngòi. Trong núi có những bộ lạc nào, có những khu rừng nào và có những ao hồ gì. Trong rừng có bao nhiêu loài cây, hoa, cỏ và động vật. Trong ao hồ có những vật gì. Núi cao bao nhiêu, rộng bao nhiêu. Tình hình phân bố của núi và sông ngòi ra sao v.v... Ðức Phật đều rõ như lòng bàn tay.

3. BÁC VẬT HỌC (KHOA VẠN VẬT HỌC)

     Nghiên cứu Phật học chúng ta có thể biết thêm danh xưng của nhiều động vật, thực vật và khoáng vật. Vì trong kinh Phật có nói đến nhiều loài động vật, thực vật và khoáng vật. Ở đây chúng ta chỉ nói khái quát mà thôi.

            Ví dụ như, trong kinh Chánh Pháp Niệm Xứ quyển 69, Ðức Phật dạy đệ tử làm thế nào quán sát các loài hoa cỏ và cây quý ở núi Thời lạc nước Uất Ðơn Việt. Ðức Phật chỉ nói đến hoa, là có hơn 75 loại.

            Hoa nở vào đầu mùa đông có đến 15 loại: Hoa bất hợp, hoa kiên, hoa đông, hoa phong phúc, hoa ba-khư-la, hoa thiện hương, hoa vô diệp, hoa áp âm, hoa đệ nhất, hoa khả ái, hoa lương lãnh cụ túc, hoa thâm sanh, hoa dạ khai, hoa đệ nhất kiên, hoa mặt trời.

            Hoa nở vào giữa mùa đông và đầu mùa xuân có 23 loại: Hoa bách diệp, hoa điểu ái, hoa thường khai, hoa đỏ, hoa ba-na-thường, hoa ni-chi-lam, hoa hà ngạn sanh, hoa quật sanh, hoa a-di-trà-ca, hoa câu-vật-đà, hoa bất hợp, hoa vô ưu, hoa chân-thục-ca, hoa thanh vô ưu, hoa tam-ma-chá, hoa phong hoàn, hoa đa hương, hoa cứu-la-ba-ca, hoa bát-ma-ca, hoa bát-đầu-ma, hoa cưu-la-ba-ca, hoa a-đề-mục-ca, hoa sen.

            Hoa nở giữa mùa xuân có 18 loại: Hoa chiêm bồ, hoa tô-ma-na, hoa thiện sắc tập, hoa đồ-ma-la, hoa hương, hoa phong liên, hoa âm cơ hương, hoa thi-lợi-sa, hoa đỏ, hoa đẳng hương, hoa thường hương, hoa đam-sa-la-vị, hoa phong trà, hoa bách diệp, hoa úy nhật, hoa chư-lan-đế, hoa hộ sắc, hoa xà-trí-la.

            Hoa nở vào đầu mùa hạ có 21 loại: Hoa chi-đa-ca, hoa cưu-tra-xà, hoa xa-đa-ba-hy-nhị, hoa ca-đàm-ba, hoa cập-chu-la, hoa do-đề-ca, hoa tô-ma-na, hoa lưỡi rồng, hoa vô văn ái lạc, hoa thiện vị, hoa thiện hương, hoa phổ diệp, hoa nhất thiết nhiếp thủ, hoa chuyển, hoa tị cảnh giới, hoa ngũ diệp, hoa ái vũ, hoa ái quán, hoa đồ-ma, hoa thủy lưu, hoa tuyết sắc.

            Ngoài ra còn có 19 loại hoa nở vào giữa mùa hạ: Hoa tiếu, hoa tô-ma-na, hoa thường-chiêm-bặc, hoa lâm sanh, hoa hư không chuyển, hoa dạ khả ái, hoa nhất thiết phương, hoa lưu, hoa du hý địa, hoa lạc, hoa sơn cốc, hoa lăng sanh, hoa ca-đàm-bà, hoa ti-dương-ca, hoa nga hoàn, hoa tu-lưu-tỳ, hoa đa-ma-la-ba, hoa tiểu, hoa mặt trăng.

            Tong quyển kinh này, Ðức Phật nói đến núi Tăng-ca-xa có 60 loài cây quý: Cây ban diệp, cây long hoa, cây am-ba-la, cây câu-hoa-đà-la, cây ba-la, cây hỷ ái, cây điểu tức, cây ba-la-đa-la, cây xa-ma, cây ni-sa-tỳ-đà, cây chu-đa, cây ca-la, cây úy-la-ca, cây kỳ-lân-đà, cây ba-cưu-la, cây hỷ hương, cây kiều lạc, cây hề-đa-la, cây đa-ma-la, cây cưu-la-ca, cây thanh hương, cây nguyệt luân, cây diệu hạnh, cây thường khai phu, cây ni-quân-luân, cây khai, cây a-thấp-ba-tha, cây chân-thục-ca, cây xa-ma-lê, cây dương liễu, cây úy-la, cây ca-ti, cây na-lê-chi-la, cây ba-na-ba, cây vô già quả, cây hoa a-thù-na, cây ca-đàm-ba-la, cây nê-chu-la, cây thiên mộc hương, cây thừa nhiếp, cây hoa thủy sanh, cây hoa mạn-đà-la, cây hoa câu-xa-da-xá-thọ, cây hoa kim sắc, cây hoa ngân sắc, cây úy lưu ly, cây khổng tước chỉ tức, cây dị xứ hành, cây châu sanh, cây ca-la-xa-hợp, cây ba-ca-xa, cây hỗ tương ánh hậu, cây hoạt, cây kiên sanh, cây nhân-đà-la-trường, cây ngạn sanh, cây hạng sanh, cây san hô, cây cưu-ma-tu, cây khổn, cây ứng thời sanh, cây yên sắc, cây chứng minh, cây phong động, cây chuối, cây câu-sí-la-lạc, cây tán hoa, cây hoa vị phú, cây khai-điểu-di-la, cây đầu-đầu-ma, cây phong hoàn, cây phụ phong, cây lương phong, cây động dao, cây vô ưu.

            Tiếp theo Ðức Phật nói đến tên gọi, tính chất và nhân duyên nở hoa của 12 loại hoa ở núi Man trang nghiêm. Trong rừng núi có 19 loại chim: Chim diệu thinh, chim hồng, chim bà-ca, chim vàng, chim bạch yên, chim già-sa, chim ma-đầu-cầu, chim uyên ương, chim ba-ba, chim hạc, chim a-giai, chim ba-la-sa, chim đề-di-la, chim ba-cầu, chim thời, chim dạ hành, chim lạc-bát-đầu ma-ha-buộn, chim-tân đầu-ba, chim thủy ba.

            Trong quyển kinh này cũng nhắc đến những con: ong mật, ngỗng (ngang), vịt, uyên ương, trâu, dê, heo, chó, dã cô,voi, ngựa, lừa, cọp, gấu, sư tử, báo, anh vũ, khổng tước, cá đề-di, cá đề-di-nghê-la, cá quân-úy-la, cá na-ca-la, cá trạnh, ốc, cá thất-quyền-ma-la v.v…

            Bút giả cảm thấy kinh Phật có lúc nói quá tỉ mỉ về các sự vật, ví dụ như hoa sen có bốn loại: hoa sen xanh (tiếng Phạm là ưu-bát-la hoa), hoa sen vàng (câu-vật-đầu), hoa sen đỏ (ba-đầu-ma) hoa sen trắng (phân-đà-lợi). Có lúc nói rất thú vị, ví dụ như: cỏ kiết tường, trái không hoa (bút giả có một người bạn đã ăn qua loại trái cây này rồi, ông ấy nói ăn rất ngon), chim diệu thinh… Núi tuyết có cỏ phì nhị, bò ăn vào sẽ cho sữa giàu chất đề hồ (quyển 8 kinh Niết Bàn). Có lúc nói rất thực dụng, ví dụ như nói: trái a-vị-la hình bầu dục, lớn như trái lê, vị của nó vừa chua vừa ngọt, có thể làm thuốc trừ phong tà; có hoa màu trắng nhỏ, lá giống như lá táo chua.

            Lá cây đa-la vừa dài vừa rộng, giống như lá cây cọ vậy, sau khi khô có thể viết chữ (Tây Vực ký, quyển 11). Bỏ đi phần đuôi của loại lá cây này, giữ lại thân lá, có thể dùng làm quạt (Du Già luận ký, quyển 7). Trái cây đa-la giống như trái lựu vậy, vị ngon vừa miệng, bông hoa vừa trắng vừa lớn (Huyền Ứng Âm Nghĩa, quyển 24)

            Trong kinh Phật cũng nói đến rất nhiều khoáng vật, ví dụ như nói về đá kim cương, Ấn Ðộ là quốc gia phát hiện đá kim cương sớm nhất trên thế giới. Trong kinh Phật thường nói đến tính chất của kim cương rất chắc chắn, luyện mãi không chảy, có thể dùng để cắt các loại đá quý khác (Ðại Tạng Pháp Số, quyển 41). Nhưng đem kim cương để trên mu rùa, sau đó dùng sừng dê núi gõ thì kim cương sẽ vỡ ra (luận Ðại Trí Ðộ, quyển 31)

            Ngoài ra trong kinh Phật cũng thường nói đến đá thạch anh, mã não (tiếng Phạm gọi là mâu-sa-lạc hoặc xa-cừ), duyên bảo châu (ma-la-ca-đà, trong quyển 10 luận Ðại Trí Ðộ nói, duyên bảo châu này có thể trừ tất cả chất độc) v.v…

4. THIÊN VĂN HỌC

     Kinh Ðại Lâu Thán (còn có tên là kinh Khởi Thế) nói về sự thành hoại của thế giới.

            Kinh Túc Diệu nói đến sự vận hành của thất diệu (mặt trời, mặt trăng, sao đều gọi là diệu) và quan hệ với con người: mặt trời (tiếng Phạn: Aditya; phiên âm: A-di-để-da), mặt trăng (tiếng Phạn: Soma; phiên âm: Tô-ma), sao hỏa (tiếng Phạn: Angalaka; phiên âm: Ang-nga-la-ca), sao thủy (tiếng Phạn: Bubha; phiên âm: Bộ-đà), sao mộc (tiếng Phạn: Bshaspati; phiên âm: Vật-li-ha-bà-phả-để), sao kim (tiếng Phạn: Sukra; phiên âm: Tuất-kiệt-la), sao thổ (tiếng Phạn: Sanaiscara; phiên âm: Xa-nãi-dĩ-thất-chiết-la)

            Luận Câu Xá miêu tả sự chuyển động của đất dựa vào sự chuyển động của nước, sự chuyển động của nước dựa vào sự chuyển động của gió, sự chuyển động của gió dựa vào sự chuyển động của không khí. Ðiều này nói lên trái đất hình tròn, xung quanh trái đất đều có hơi nước, ngoài phạm vi hơi nước là tầng khí quyển, bên ngoài tầng khí quyển là bầu trời.

            Ngoài ra, luận Câu Xá còn nói đến trái đất hình thành từ rất lâu về trước (tiểu kiếp thứ nhất của kiếp thành), khi nào mới có con người hoặc sinh vật xuất hiện (tiểu kiếp thứ 19 của kiếp thành), hiện nay là tiểu kiếp thứ 9 của kiếp trụ, trái dất sẽ hoại diệt vào tiểu kiếp thứ 20 của kiếp hoại. Và mỗi tiểu kiếp là 16 triệu 8 trăm ngàn năm (16.800.000) v.v…

            Trong quyển 10 của luận Ðại Trí Ðộ có nói đến đường kính của trái đất và khoảng cách giữa mặt trăng và trái đất. Mười hai cung trong Kinh Mật Thiết và kinh Túc Diệu nói, về mặt cơ bản thì tương đồng với lý luận về phương hướng và vị trí của thiên văn học hiện đại. Chòm sao ở hướng đông gồm cung Song nữ, cung Bạch dương, cung Ngưu; chòm sao ở hướng tây gồm cung Thiên xứng, cung Hạt, cung Cung; chòm sao ở hướng nam gồm cung Bảo bình, cung Song ngư, cung Ma kiệt; chòm sao ở hướng bắc gồm cung Cự giải, cung Sư tử, cung Thất nữ.

            Hai mươi tám chòm sao trong phẩm Tinh Tú Nhiếp Thọ quyển 56 kinh Ðại Tập và thiên văn học hiện đại cũng ăn khớp với nhau. Bảy chòm sao ở hướng tây là sao Khuê, sao Lâu, sao Vị, sao Ngang, sao Tất, sao Tư, sao Sâm. Bảy chòm sao ở hướng nam là sao Tỉnh, sao Quỷ, sao Liễu, sao Tinh, sao Trương, sao Dực, sao Chẩn. Bảy chòm sao ở hướng đông là sao Giác, sao Cang, sao Thị, sao Phòng, sao Tâm, sao Vĩ, sao Cơ. Bảy chòm sao ở hướng bắc là sao Ðẩu, sao Ngưu, sao Nữ, sao Hư, sao Ngụy, sao Thất, sao Bích. Vì liên quan đến số trang của sách, không tiện nói hết các tên của các sao bằng tiếng Phạn, xin chư độc giả lượng thứ!

            Ðức Phật không tán thành việc dùng các sao để đoán định vận mạng của một người. Vì người sinh ra cùng một sao vẫn có sự giàu nghèo, sang hèn, tốt xấu… khác nhau rất nhiều. Vả lại số tử vi và sự phát triển tâm trí không có liên quan gì với nhau, cho nên Phật không tán thành những đệ tử bình thường học tướng số. Chỉ có đệ tử chứng Thánh quả Bồ tát hoặc La-hán vì độ chúng sanh, có thể học thuật xem tướng sao hạn. Do đó kinh Phật nói:[30]

            “Chúng sanh hôn ám tâm trí, thường bị phiền não bó buộc, vì vậy họ nghĩ rằng thông qua thuật xem sao xem tướng để hướng đến điều lành tránh điều dữ. Học xem sao xem tướng, tuy tốt nhưng vẫn không giải thoát được phiền não sanh lão bệnh tử. Vả lại, những người cùng một sao sinh ra vẫn có giàu nghèo, trí ngu, đẹp xấu… khác nhau, cho nên Ta nói tinh tướng học không phải là chắc chắn”

            Trong phẩm Phạm Hạnh kinh Niết Bàn cũng có ghi: Ðức Phật không chọn người thông qua sao hạn và giàu nghèo.

            “Phật không xem trọng dòng giống, già trẻ, giàu nghèo, ngày tháng năm sinh… mà coi trọng tâm địa tốt xấu của chúng sanh. Vì một người có tâm tốt sẽ có hành vi từ bi cao thượng”

            Về tư liệu tinh tú khác, hãy đọc thêm Thất Diệu Tinh Thần Biệt Hành Pháp, Túc Diệu Nghi Quỷ, Thất Tinh Như Ý Luân Bí yếu kinh.

5. LỊCH SỬ HỌC

            Theo bút giả mục đích chủ yếu học lịch sử không phải ở chỗ ghi nhớ những nhân danh và địa danh vụn vặt, mà là học được những nguyên lý và tinh thần. Xuyên qua thông hiểu nguyên lý và tinh thần, chúng ta có thể tăng thêm những điều mắt thấy tai nghe, phát hiện những quan hệ nhân quả của những hiện tượng và quy luật thay đổi, mà còn có thể áp dụng vào xã hội hiện thực của cuộc sống, có lợi ích thật sự đối với cuộc sống, thậm chí đối với tương lai, có tác dụng xem gương người trước để biết tương lai. Bằng không chỉ học thuộc những tình tiết vụn vặt, những nhân vật không đáng, những địa danh cũ kỹ lỗi thời, không có tác dụng gì đối với cuộc sống hiện thực, như vậy sẽ mất đi ý nghĩa học lịch sử rồi.

            Ðức Phật là một Giáo sư lịch sử vĩ đại. Từ Bổn Duyên Bộ trong Ðại Tạng kinh, chúng ta có thể hiểu rõ: Phật khéo đem những sự tích lịch sử trình bày một cách sinh động cho học trò thưởng thức. Trong quá trình thuyết giảng lịch sử, mỗi mỗi phần Phật đều nắm vững trọng điểm, nguyên lý và tinh thần và tiến hành phát huy một cách tinh tế, miêu tả toàn bộ câu chuyện rất xúc động lòng người. Xưa nay chưa có một vị đệ tử nào sau khi nghe Phật thuyết giảng cố sự xong mà không reo hò khen hay hoặc không cảm động.

            Trong quá trình dạy học của Phật, lịch sử chiếm một trọng lượng rất nặng. Tất cả kinh về phương diện lịch sử trong Ðại Tạng kinh có hơn mấy trăm bộ. Bồ tát Long Thọ đã từng đem tính chất kinh điển của Phật thuyết phân làm mười hai đại loại trong quyển 33 luận Ðại Trí Ðộ mà Ngài trước tác, trong đó về phương diện lịch sử chiếm hết ba loại:

            Phần thứ nhất thuộc về phương diện “nhân duyên” (tiếng Phạn: Nidana; phiên âm: Ni-đà-na)—Phật nói rõ cho đệ tử biết nhân duyên Phật thuyết pháp giáo hóa và nhân duyên chúng đệ tử theo Phật nghe pháp. Ví dụ, “Phẩm tự” hoặc “phần tự” của các bộ kinh.

            Phần thứ hai thuộc về “Bổn sự” (tiếng Phạn: Itivrtake; phiên âm: Y-đế-mục-đa)—Phật nói rõ những hành vi, phát triển và kết quả trong đời quá khứ của đệ tử. Ví dụ như phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự trong kinh Pháp Hoa…

            Phần thứ ba thuộc về phương diện “Bổn sanh” (tiếng Phạn: Jataka; phiên âm: Ám-đa-ca)—Tức Phật nói những nguyện vọng, hành vi, phát triển và kết quả của Phật trong quá khứ. Ví dụ như kinh Di Lặc Sở Vấn Bổn Nguyện, kinh Bách Duyên…

            Bút giả cảm thấy, phần lớn những câu chuyện lịch sử trong kinh Phật đều rất cảm động lòng người, văn tự hay và lưu loát, có giá trị giáo dục rất cao. Rất tiếc người giới thiệu nó lại không nhiều. Hy vọng trong tương lai sẽ có nhiều tác giả dịch những kinh về phương diện lịch sử (Phật kinh cố sự) để cống hiến quý độc giả.

6. TRIẾT HỌC

            Trước đây có rất nhiều học giả tranh luận: Phật học có phải là triết học hay không. Có học giả kiên quyết cho là phải, có học giả cho là không phải. Bút giả cho rằng mỗi người đều có ý kiến riêng của mình, mỗi người chấp một bên.

            Trước khi thảo luận vấn đề “Phật học có phải là triết học hay không”, trước hết chúng ta phải xác định định nghĩa “triết học”. Về định nghĩa triết học, đại thể chia làm hai nhóm như sau:

            1. Nhóm học giả thứ nhất: Russell là một nhà triết học người Anh, cho rằng đối tượng triết học nghiên cứu là vấn đề mà con người không thể nào dùng cảm quan để xác định hoặc chứng minh. Vì một nghiên cứu nào đó có thể đạt được tri thức chính xác hoặc bị chứng minh, thì nó sẽ thoát ly khỏi phạm vi triết học và trở thành một môn khoa học độc lập. Ví dụ, nghiên cứu có liên quan đến thiên văn, thời Hy lạp cổ xưa đã từng bao gồm trong phạm vi triết học, hiện nay đã thuộc về phạm vi thiên văn học. Quyển trước tác nổi tiếng của Newton “Nguyên lý toán học của triết học tự nhiên” (The Mathematical Principles of Natural Philosophy), lúc ấy được xem là một tác phẩm triết học, hiện nay lý luận của nó đã được chứng minh và đã đưa vào phạm vi vật lý học. Vì vậy phái học giả này định nghĩa triết học là: Hệ thống tri thức đạt được, sau khi tiến hành khảo sát phê phán những quan niệm không thể nghiệm chứng hoặc vấn đề không có đáp án chính xác. Và nhiệm vụ của triết học ở chỗ: Vì ham học hỏi mà tìm tòi tri thức, dẫn dắt nhân loại suy nghĩ, tìm tòi vấn đề mà không có cách nào giải quyết, nhắc nhở con người nhận thức tính quan trọng của những vấn đề này, nghiên cứu các ý kiến có thể giải quyết vấn đề, duy trì hứng thú của nhân loại tiến hành suy nghĩ suy lý đối với vũ trụ, làm phong phú sức tưởng tượng của con người, và khiến cho chúng ta không đến nỗi quá độc đoán, vì độc đoán luôn luôn khiến cho tâm linh của chúng ta không cách nào suy lý một cách khách quan và tiếp nhận chân lý một cách khiêm tốn. Ðồng thời, trong quá trình suy tư mở rộng thêm hành vi của chúng ta và lòng yêu mến đối tượng, giúp chúng ta trở thành một công dân của vũ trụ và thoát ly khỏi nguyện vọng nhỏ hẹp và sợ hãi. (xem thêm: Nhiệm Vụ của Triết Học, do nhà triết học Russell trước tác)

            Chủ trương của bốn nhà triết học sau đây cũng tương tự với Russell:

            Nhà triết học Herbart cho rằng triết học là chỉnh lý (sự tổ chức lại) khái niệm (The philosophy is the concept reorganization).

            Nhà triết học Dilthey cho rằng triết học là sự hiểu biết thế giới quan (The philosophy is the world outlook knowledge)

            Nhà triết học Windelband cho rằng triết học là một loại tri thức phê bình (The philosophy is one kind of criticism knowledge)

            Nhà triết học Jaspers cho rằng triết học là mạo hiểm xâm nhập vào trong phạm vi mà bản thân con người không thể bước vào (The philosophy is the risk invades in the scope which human itself may not step truly )

            Nếu khi chúng ta dùng những định nghĩa triết học trên đây, thì Phật học không phải là triết học. Vì theo kinh Phật, tất cả giáo pháp Ðức Phật đã nói đều là chân thật bất hư, mà còn có thể nghiệm chứng. Bất kỳ ai thực sự làm theo lời chỉ dạy của Phật, mỗi người có thể nghiệm chứng được tính chân thật của nó. Và chân lý mà các bậc Thánh trong mười phương thế giới từ cổ chí kim đã chứng, đã nói hoàn toàn giống nhau[31].

            “Ðức Phật đã thấy rõ bản thể và chân tướng của tất cả sự vật. Vì Ngài hiểu rõ một cách triệt để, cho nên mới đem những gì Ngài biết được nói cho người khác biết. Ðức Phật luôn nói đúng như thật” (Ðại Nhật Kinh Sớ, quyển 1)

            Ðối tượng Phật học nghiên cứu không phải là vấn đề hay khái niệm không có đáp án rõ ràng. Mà là giúp con người đạt được trí tuệ cao thượng và chân lý an lạc hạnh phúc mãi mãi, để đoạn trừ những phiền não và những đau khổ sanh tử của con người.

            “Giáo pháp của Ðức Phật là chính xác nhất, thực dụng nhất, tinh túy nhất và hoàn thiện nhất. Nó giống như cam lồ và đề hồ ngon nhất (đề hồ là giai phẩm do chắt lọc nhiều lần từ sữa tươi). Vì Phật pháp có thể hướng dẫn chúng sanh đạt được cảnh giới vĩnh hằng, bất sanh bất diệt mãi mãi (Phật Ðịa Luận).

            2. Nhóm học giả thứ hai: Vẫn cho rằng triết học là một loại kiến thức truy cầu chân lý, đức hạnh và hạnh phúc. Ví dụ, nhà triết học, nhà giáo dục nỗi tiếng thời cổ Hy lạp Plato và nhà triết học Aristotle đều cho rằng triết học và khoa học hoàn toàn không có khác nhau nhiều (The philosophy and the science certainly do not have the big difference)

            Nhà triết học Stoics cho rằng triết học là học vấn truy cầu đức hạnh (đạo đức và phẩm hạnh) (The philosophy is pursues moral and the conduct knowledge)

            Nhà triết học Epicurus cho rằng triết học là ngành học vấn truy cầu hạnh phúc (The philosophy is the pursue happy knowledge)

            Phái kinh nghiệm luận, như Hobbes cho rằng triết học là ngành học vấn nghiên cứu nguyên nhân và kết quả (The philosophy is studies the reason and the result knowledge)

            Phái lý tính luận, như Descartes, Spinoza, Leibniz, Wolff cho rằng triết học là ngành học nghiên cứu thảo luận nguyên lý căn bản, là tri thức của tri thức (The philosophy is the discussion basic principle knowledge, is in the knowledge knowledge)

            Nhà triết học Kant cho rằng triết học là nhận thức lý tính thuần túy (The philosophy is the pure rational understanding) 

            Nhà triết học Hegel cho rằng triết học là tri thức tuyệt đối (The philosophy is the absolute knowledge)

            Nhà triết học Wundt cho rằng triết học là một loại tri thức phổ thông, nó dùng một khoa học cá biệt làm môi giới, và trở thành một hệ thống không mâu thuẫn (The philosophy is one kind of ordinary knowledge, it makes the medium by the individual science, but becomes a set not to have the contradictory system)

            Khi chúng ta dùng những định nghĩa triết học vừa nói trên, và chủ trương triết học là ngành học vấn nghiên cứu chân thiện mỹ, chúng ta có thể thấy Phật học là một loại triết học. Vì Phật học là chân thật bất hư, đồng thời Phật học đối với quan hệ giữa người và người, cho đến giữa người và thiên nhiên rất hài hòa, có sự giúp đỡ lẫn nhau vô hạn. Phật học là một pháp thuần thiện, vì Phật học là một môn học nghiên cứu như thế nào để mưu cầu đem lại lợi ích cho toàn nhân loại và những sinh vật khác. Phật học mang đến cho con người cảm nhận tốt nhất, vì Phật học giúp cho con người sống một cuộc sống nhẹ nhàng, an lạc và hạnh phúc.

            Các chủ đề nghiên cứu thảo luận trong kinh Phật đối với triết học hiện đại đều có cách nhìn hợp lý. Như là có liên quan đến phương diện nhận thức luận: Vấn đề đúng sai của tư tưởng hình thức (tức nguyên tắc học hay nguyên lý học), vấn đề thật giả của bản chất tư tưởng, tính khả năng của nhận thức, phương pháp và bản chất; có liên quan đến phương diện giá trị luận: Giá trị đạo đức, giá trị về cái đẹp và nhiệm vụ giá trị của tôn giáo, bản chất, phân loại và thực hiện; có liên quan đến phương diện thật thể luận: Bản thể của vũ trụ là gì, bản chất của cuộc sống (sinh mạng) và vật chất là gì, như thế nào là thế giới quan chính xác… Những vấn đề này trong kinh Phật đều nói đến. Ðộc giả nếu có hứng thú, có thể tìm đọc quyển Triết Học Phật Giáo hoặc Phật Giáo Triết Học Thông Luận.

            Sau đây chúng ta đưa ra vài ví dụ để nói sự liên quan giữa Phật học và triết học:

            “Chân như” của Phật giáo rất giống với “lý niệm” (Idea) của Plato; “thực thể” (tiếng Hà Lan: Substaontia; tiếng Anh: Entity) của Spinoza; “Vật tự thể” (tiếng Ðức: Ding as sich; tiếng Anh: Thing from body) của Kant; “tuyệt đối” của Schelling; “lý tính” của Hegel; “thực tại”(tiếng Ðức: Des Real; tiếng Anh: Really) của Herbart.

Ví dụ như Plato phân chia thế giới thành thế giới hiện tượng và thế giới lý niệm, thế giới lý niệm là cái bóng của thế giới hiện tượng. Cho nên thế giới hiện tượng thay đổi không ngừng, là giả; thế giới lý niệm mới là thật, mới là căn bản của vạn hữu vũ trụ. Ðức Phật cho rằng tất cả thế giới vật chất đều là tướng bên ngoài của thế giới tâm linh (chân như), do thế giới tâm linh hiện ra, thế giới vật chất thì phát triển liên tục theo thứ tự thành trụ hoại không, tất cả hiện tượng vật chất đều biến đổi vô thường. Duy chỉ có chân như là bất sanh bất diệt, vô thủy vô chung, vĩnh cửu bất biến.

            Hegel cho rằng tất cả vật chất trong vũ trụ đều lưu động, thế là nghiên cứu các phương pháp để quán sát hiện tượng phát sinh, phát triển và hoại diệt của vật chất, và lập ra “pháp biện chứng” (Dialectics). Nhiều lần vận dụng ba bước: mệnh đề chính (Thesis), mệnh đề phản (Antithesis) và mệnh đề tổng hợp (Synthesis) để nghiên cứu vấn đề, cầu được tri thức.Thật không ngờ rằng, đã từ hơn 2500 năm trước Ðức Phật đã dùng phương pháp này rồi. Ví dụ như Ðức Phật cho rằng cùng một con người lúc còn nhỏ và khi trở thành người lớn, đối với cái tên mà nói, là phi dị: không có gì thay đổi (mệnh đề chánh), nhưng đối với thân thể và các tế bào thì là phi nhất: không phải là một (mệnh đề phản), vì vậy qui nạp kết quả của đứa bé và người lớn thì là “phi nhất phi dị, diệc nhất diệc dị” (mệnh đề tổng hợp), nghĩa là không phải một mà cũng không phải khác, cũng là một mà cũng không phải một. Lại ví dụ như trong kinh Kim Cang nói: “sở ngôn thiện pháp giả (mệnh đề chánh), Như Lai thuyết tức phi thiện pháp (mệnh đề phản), thị danh thiện pháp (mệnh đề tổng hợp)”, nghĩa là những thiện pháp nói ở đây (mệnh đề chính), chính là Như Lai nói không phải là thiện pháp (mệnh đề phản), cho nên mới được gọi là thiện pháp (mệnh đề tổng hợp).

            Bút giả nói thẳng với chư vị rằng: Những kiến giải của những nhà triết học đối với vũ trụ quan và bản thể luận đều là dựa vào sự tưởng tượng và suy lý, cho nên phát sinh ra sự lệch lạc hoặc không phù hợp với chân tướng. Nhưng Ðức Phật là một bậc Ðại Trí Tuệ, chính Ðức Phật tu tập và thể nghiệm chứng đắc. Vì vậy kiến giải của Phật sẽ không sai lạc, đồng thời còn chính xác hơn nhiều so với những nhà triết học thông thường. Ðặc biệt, có nhiều vấn đề mà phàm phu chúng ta không có cách nào giải quyết, hoặc dùng nhục nhãn của chúng ta và những thiết bị khoa học cũng không cách nào chứng thực được vấn đề, đối với Ðức Phật thì không có gì nghi hoặc, vì trí lực nhạy bén của Ngài có thể thấu rõ tất cả. Các nhà khoa học khắp nơi trên thế giới không cần nghĩ ngợi suy đoán lung tung, phí sức mệt óc về vấn đề siêu hình, hãy làm theo phương pháp chỉ dạy của Phật đi thực tập tu chứng và thể nghiệm lấy, thì vấn đề chủ yếu đã giải quyết, từ đó tất cả những vấn đề khó khăn liên quan khác cũng theo đó mà được giải quyết! Vì chính mình không chứng nghiệm hoặc chính mình thấy được, mà lại tiến hành suy nghĩ, suy lý, suy đoán, phỏng đoán. Suy đoán đúng, đương nhiên là tốt rồi; ngược lại, suy đoán sai rồi, lại đem đáp án sai công bố với thế giới, vô hình trung sẽ phao tin nhảm mê hoặc mọi người mà không tự biết.

            Theo cách nhìn của Phật, những vấn đề siêu hình rất khó suy đoán đúng. Vì suy đoán và kết luận vũ trụ là vấn đề hữu hạn hay vô hạn, vĩnh hằng hay không vĩnh hằng… đều là biên kiến và tà kiến không chính xác, cũng không có giúp ích gì đối với cuộc sống hiện thực và phát triển tâm trí.

7. DINH DƯỠNG HỌC

            Theo kinh điển, toàn bộ giáo dục của Ðức Phật đều lấy mục đích lợi mình lợi người làm xuất phát điểm. Mỗi một điều giới luật Phật chế ra đều vì giúp cho thân tâm của đệ tử được khỏe mạnh, an lạc. Ðức Phật từng nói cho đệ tử rất nhiều phương pháp để bảo dưỡng thân thể, đồng thời dặn dò chúng đệ tử phải chăm sóc chính mình cho tốt, giống như chăm sóc trẻ mới sinh vậy.

            Nhưng Ðức Phật nhắc nhở đệ tử: không được tham muốn dinh dưỡng thể xác và hưở

ng thọ cơ quan cảm giác, mà bỏ phí món ăn tinh thần - đạo nghiệp. Ðồng thời không được hiềm chê thức ăn ngon dở, để tránh dẫn đến những phiền não vô nghĩa. Ðức Phật cho rằng bảo dưỡng thân thể nên ở trong tình huống không có lo lắng gì, tiến hành tự nhiên, không phải trăm phương ngàn kế miễn cưỡng cầu cho được, càng không được tiến hành bằng phương thức làm tức giận hoặc làm tổn thương đến những động vật khác. Vì những phương thức này không có lợi ích gì đối với tâm linh cao thượng và tâm lý lành mạnh.

            Trong quyển 8 luật Ngũ Phần, Ðức Phật vì giúp đệ tử chuyên tâm dụng công tu hành, sớm thành tựu trí tuệ để hóa độ chúng sanh, không vì cái ăn mà hao phí quá nhiều sức lực và mất quá nhiều thời gian. Vì vậy, Ngài khuyến khích đệ tử mỗi ngày nên ăn một bữa vào buổi trưa (chú thích thêm: Theo kinh Phật ghi rằng, mỗi ngày ăn một bữa có nhiều lợi ích cho thân tâm hơn ăn một ngày ba bữa. Ví dụ: Bao tử được nhẹ nhàng, giảm nhẹ gánh nặng làm việc của gan, thân tâm không bị hôn trầm, ngủ nghĩ được yên ổn và thời gian ngủ tự nhiên sẽ giảm đi, trừ bỏ được dâm dục và bệnh tật... (Xem thêm Giáo Thừa Pháp Số)

            Sau đây, chúng ta dẫn ra những văn tự có liên quan đến phương diện ăn uống từ trong kinh Phật, để cúng dường chư vị thưởng thức:

            Quyển 26 luật Thập Tụng có nói đến tám loại cháo rất ngon và dinh dưỡng cũng rất phong phú:

            1. Cháo bơ: dùng sữa bơ của bò hoặc ngựa hoặc dê nấu chung với gạo lúa mạch.

            2. Cháo dầu: dùng dầu bạch tô, dầu bơ, dầu mè nấu chung với phiến mạch (bánh ép làm bằng yến mạch và đại mạch, tức làm từ một loại lúa mạch)

            3. Cháo mè: dùng mè nấu chung với gạo.

            4. Cháo đậu: dùng đậu xanh, đậu đỏ nấu chung với gạo.

            5. Cháo đậu nành: dùng đậu nành nấu chung với gạo.

            6. Cháo đay: dùng vỏ đay, mè nấu chung với gạo lúa mạch.

            7. Cháo sữa: dùng sữa bò tươi, sữa dê tươi nấu chung với gạo lúa mạch.

            8. Cháo nhạt: dùng hạt sen, táo đỏ, nấu chung với gạo lúa mạch. Nấu thành cháo rồi, sau khi để nguội thêm chút mật ong vào.

            Ðức Phật cho rằng cháo rất có ích cho cơ thể (xem thêm luật Tứ Phần và luật Tăng Kỳ quển 29), cho nên đặc biệt chú ý đến cách nấu. Ví dụ như trong quyển 29 luật Tăng Kỳ ghi rằng: Cháo phải nấu đến khi nhừ, sẽ có một màng mỏng bên trên, và nồng độ khi vẽ lên mà không có vết tích của dụng cụ vẽ là ngon nhất. Ðại Nhật Kinh Sớ quyển 7 ghi rằng: Cháo có thể thêm các loại thuốc, nhưng bình thường thêm sữa tươi vào là ngon nhất. Kinh Thập Nhất Diện Thần Chú, kinh Mạt Pháp Trung Nhất Tự Tâm Chú, kinh Nhất Thiết Công Ðức Trang Nghiêm Vương, kinh Ðại Vân Luân Thỉnh Vũ và kinh Ðại Bảo Lâu Các Thiện Trụ Bí Mật Ðà La Ni đều khuyến khích người ăn cháo nấu bằng sữa bơ với gạo tẻ.

            Kinh Luật Bộ đưa ra năm loại trái cây:

            1. Hạch quả: quả có hạt như quả táo, quả hạnh…

            2. Phu quả: quả có vỏ mềm như dưa leo, lê…

                        3. Xác quả: quả có vỏ dày như hạch đào, lựu…

                        4. Lương quả: quả có ruột dạng bột ngũ cốc như hạt thông, hạt bách …

                        5. Giác quả: quả có góc (sừng) như đậu nành, củ ấu… (xem thêm Danh Nghĩa Tập, quyển 3)

                        Kinh Kế Tôn Ðà La Ni nói đến cách ăn ngũ cốc. Pháp Hoa Huyền Nghĩa quyển 7 nói đến cách làm thạch mật. Phẩm Phụng Luận Cúng Dường kinh Cù Hê nói rõ tất cả trái cây, trái lựu là ngon nhất, tất cả các loại củ thì củ tì-đa-la là ngon nhất. Trong quyển 53 luận Ðại Trí Ðộ nói, thêm thuốc vào thức ăn, dùng hạt ba đậu là ngon nhất.

                        Trong Hành Sự Sao quyển 2 và trong Hữu Bộ Bách Yết Ma, đem những thức ăn duy trì sức khỏe và dược liệu quy nạp làm bốn loại:

                        1. Vào buổi trưa mỗi ngày thường dùng những thức ăn như: gạo, lúa mạch, các loại đậu và củ, rễ, cọng, hoa, lá, quả, đọt non của các thực vật khác (trừ những loại có độc). Thức uống như: tất cả những loại nước trái cây, nước cơm, sữa, bơ, sữa đậu nành...

                        2. Nếu thân thể yếu, có bệnh, quá giờ trưa đến tối, có thể cân nhắc uống nước trái cây, sữa, bột gạo và thuốc.

                        3. Những thức ăn và thuốc dùng để trị bệnh, 7 ngày dùng một lần như: dầu bơ, bơ, mật, thạch mật…

                        4. Những thức ăn và thuốc có thể dùng suốt đời như: hồ tiêu, kha-lê-lặc… và củ, rễ, cọng, hoa, quả các loại cỏ thuốc.

            Trong kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương quyển 9, ghi rõ rằng: Thời tiết mỗi mùa không giống nhau nên dùng những thức ăn gì có thể có ích cho sức khỏe của thân tâm và tiêu trừ những bệnh tật.

            Chúng ta ăn chay cần chú ý quân bình thức ăn, các loại rau và trái cây có thể nên dùng mỗi loại một chút, không nên nấu thức ăn quá lâu hoặc xào đến nỗi khét vàng hoặc đen, đặc biệt những gì chiên xào, dầu càng ít càng tốt. Cố gắng hết mức đừng dùng những gì quá kích thích hoặc quá cay, quá ngọt, quá mặn, quá chua. Tốt nhất thường lấy thành phần dinh dưỡng trong rau quả thiên nhiên (thành phần hữu cơ), giảm bớt dùng những gia vị được làm từ hóa học (thành phần vô cơ) hoặc những thực phẩm phục chế. Và luôn luôn nhớ rằng: Ðừng bao giờ ăn quá no!

8. VỆ SINH HỌC VÀ CON ÐƯỜNG DƯỠNG SINH

            Trong kinh Phật có nói rất nhiều về phương pháp vệ sinh và dưỡng sinh. Ví dụ như trong luật Tứ Phần và trong luật Tỳ Nại Da Tạp Sự quyển 36, Ðức Phật dạy đệ tử nên dùng năm phương pháp để xử lý thức ăn cho vệ sinh, sạch sẽ. Những thức ăn nào cần phải nấu chín để ăn. Những loại trái cây nào cần dùng dao để gọt vỏ, những loại trái cây nào có thể dùng tay để bóc vỏ, những loại trái cây nào nên phơi khô hoặc sấy khô… Những trái cây nào đã bị chim ăn, hái xuống sẽ ăn được. Ví dụ như, ổi chín đã bị chim mổ, ăn rất ngon, rất thơm và ngọt. Ðây là do sức thưởng thức của loài chim đối với trái cây nhanh nhạy hơn loài người nhiều, và nó thường chọn những loại trái cây đặc biệt ngon, cho nên phàm những trái cây nào đã bị chim mổ ăn đều là những trái cây ngon cao cấp.

            Trong quyển hạ kinh Phạm Võng và kinh Lăng Nghiêm quyển 8, Phật dạy đệ tử không nên ăn năm loại thực vật có tính chất cay nồng như: hành, hẹ, tỏi, nén và hưng cừ. Vì năm loại này, không những ăn chín cũng kích thích tính dâm dục, mà ăn sống cũng kích thích tính khí nóng nảy, mà chư vị thiện thần hộ thân cũng tránh xa.

            Trong kinh Phật Y, Phật nói rõ những nguyên nhân sanh ra các loại bệnh của con người, những sơ suất sai lầm đưa đến chết đột ngột. Trong kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Ðức, nói rõ tình trạng chín loại bệnh chết đột ngột. Trong kinh Cửu Hoạnh, nói rõ nguyên nhân của chín loại chết đột ngột, hay chết oan uổng:

            1. Ăn không được mà ăn: Ăn những thứ có hại, ví dụ như cây trúc đào; hoặc trộn hai loại thức ăn hay nhiều loại có tính tương khắc, ví dụ như mật ong với tàu hủ, sữa bò với rau chân vịt…

            2. Ăn không quen: Ăn những thức ăn mà thể chất của mình không thích hợp.

            3. Ăn không tiêu: Thức ăn đã ăn chưa tiêu hóa, lại tiếp tục ăn.

            4. Ăn không lượng sức: ăn uống không biết tiết chế, ăn uống lung tung, ăn quá no.

            5. Nín đại tiểu tiện: Nín đại tiểu tiện quá lâu, quá mức chịu đựng.

            6. Không giữ giới và phạm pháp luật.

            7. Thân cận với những bạn xấu nguy hiểm đến tính mạng.

            8. Vào làng không đúng lúc, làm việc không đúng thời.

            9. Có thể tránh mà không tránh, ví dụ như không tránh chó dại, bệnh dịch…

            Kinh Trung A Hàm, kinh Bảo Vân, và quyển 6 của luận Ma-đắc-lặc-ca, có nói về phương pháp nghỉ ngơi, phương pháp ngủ nghỉ. Trong quyển 6 luận Ma-đắc-lặc-ca ghi rằng, không nên đại tiểu tiện hoặc khạc nhổ đàm bừa bãi, và các phương pháp xử lý nó. Kinh Ôn Thất Tẩy Dục Chúng Tăng có nói đến những lợi ích của việc tắm rửa. Trong quyển 3 truyện Ký Quy ghi rằng: Ðức Phật dạy đệ tử nên tắm trước khi dùng cơm, hoặc khi bụng rỗng không (đói). Vì sau khi ăn no rồi đi tắm thì không hợp vệ sinh và trên phương diện y học cũng là điều kiêng kỵ. Bụng trống, tắm xong, sau đó dùng cơm, có thể tiêu đàm và dùng cơm cảm thấy ngon gấp mấy lần.

            Trong Hữu Bộ Bách Nhất Yết Ma và kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương quyển 9, Ðức Phật dạy đệ tử phương pháp súc miệng.

            Phàm những cách đi, đứng, nằm, ngồi trong sinh hoạt hằng ngày, Phật dạy bảo đệ tử rất tỉ mỉ và ân cần. Hiện nay thuật Du Già (Yoga) rất lưu hành ở Mỹ. Có rất nhiều tư thế từ trong Phật pháp. Ví dụ như: Bái nhật thức, Liên hoa tọa (Lotus pose), Kim cang tọa (Diamond pose) đều xuất phát từ tư thế lạy Phật và tư thế tĩnh tọa… trong đạo Phật. Theo báo cáo của thực nghiệm khoa học: Tư thế ngồi hoa sen (liên hoa tọa) có thể nhiếp tâm tĩnh lặng, máu huyết lưu thông; tư thế ngồi kim cương (kim cương tọa) có thể làm cho ruột được khỏe mạnh, trợ tiêu hóa, trừ phong thấp ở chân, đôi chân khỏe mạnh, trị đau thần kinh tọa v.v…

            Hình như không có một nhà giáo dục nào đặc biệt để ý đến vệ sinh như Ðức Phật như vậy. Những chuẩn mực trong cuộc sống hằng ngày mà Phật chế định không những chú ý đến sự hài hòa của giới sinh vật, sự cân bằng của hệ thống sinh thái, mà còn suy nghĩ đến ảnh hưởng từng chút và ảnh hưởng lâu dài đến chính bản thân con người.

            Phật nói về vệ sinh rất tường tận, đúng đắn có thể thực hành. Phàm là việc quan trọng và thực dụng trong cuộc sống, Phật chỉ ra rất chính xác. Ví dụ như Ngài dạy đệ tử: Khi ăn xong cái gì đó phải đi súc miệng ngay hoặc làm sạch khoang miệng. Tùy theo sự tiến bộ của khoa học, chúng ta càng thấy rõ tính quan trọng của nguyên tắc vệ sinh này. Vì những thức ăn vụn vặt ở trong khoang miệng thời gian lâu sẽ bắt đầu lên men và làm hại đến răng. Bởi vì Phật quan sát tinh tế, tỉ mỉ, chu đáo đến từng sự việc, sau đó lập ra rất nhiều nguyên tắc để giúp đỡ thân tâm của chúng sanh được khỏe mạnh, do đó mọi người tôn xưng Phật là “Bác sĩ giỏi nhất” và là “Người dẫn đường vĩ đại”.

            Do vì Phật gợi ý những nguyên tắc vệ sinh trong cuộc sống hằng ngày rất nhiều, để tiện lợi, ở đây bút giả đem nó quy nạp làm mười loại, đồng thời nói rõ xuất xứ tư liệu của từng loại, để dễ dàng cho những độc giả nào hứng thú với phương diện này, thì tìm sách đọc thêm.

            1. Vệ sinh khoang miệng (quyển 1 luật Tứ Phần, quyển 17, 40 và 59 luật Thập Tụng, quyển 27 luật Ngũ Phần)

            2. Vệ sinh tay (quyển 17 luật Ma Ha Tăng Kỳ)

            3. Vệ sinh tắm rửa:

                        (1) Phương pháp tắm rửa (quyển 16 và 57 luật Thập Tụng, quyển 18, 31 và 40 luật Ma Ha Tăng Kỳ, trang 47 Tỳ Kheo Tụng Hành Pháp)

                        (2) Dụng cụ tắm rửa (quyển 22 luật Thập Tụng)

                        (3) Nơi tắm và nước tắm (quyển 50 luật Tứ Phần, quyển 38 và 39 luật Thập Tụng)

                        (4) Dụng cụ đựng nước (quyển 38 luật Thập Tụng)

                        (5) Thời gian tắm (quyển 9 và 16 luật Tứ Phần)

                        (6) Lợi ích của việc tắm rửa (quyển 37 luật Thập Tụng)

                        (7) Cách làm phòng tắm (quyển 35 luật Ma Ha Tăng Kỳ)

            4. Vệ sinh những bộ phận khác của thân thể như cắt tóc, cắt móng tay, ráy tai, rửa chân v.v… (quyển 39, 17 và 61 luật Thập Tụng, quyển 43, 51 và 53 luật Tứ Phần, quyển 26 luật Ngũ Phần)

            5. Vệ sinh ngủ nghỉ (quyển 27 luật Thập Tụng, quyển 59 luật Tứ Phần)

            6. Vệ sinh ăn uống (quyển 17 Ma Ha Tăng Kỳ Luật)

            7. Vệ sinh quét dọn môi trường xung quanh (quyển 51 luật Thập Tụng, quyển 54 Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự, quyển 4 Nam Truyền Ðại Tạng kinh, Tiểu phẩm thứ 8 Nghi Pháp Kiền Ðộ trang 318 đến 335)

            8. Vệ sinh toilet

                        (1) Những cấm kỵ khi đại tiểu tiện (quyển 20, 38 và 47 luật Thập Tụng, quyển 13,14 và 26 luật Ngũ Phần)

                        (2) Cách làm nhà vệ sinh (quyển 34 luật Ma Ha Tăng Kỳ, quyển 26 luật Ngũ Phần, quyển 50 luật Tứ Phần, quyển 38 luật Thập Tụng)

                        (3) Cách vào nhà vệ sinh, phương pháp đại tiểu tiện được dễ dàng, cách ngồi trong nhà vệ sinh, cách lau chùi, cách rửa các nơi (quyển 41 và 57 luật Thập Tụng)

            9. Vệ sinh mang giày dép

                        (1) Những loại hài, dép và sự lựa chọn (quyển 50 luật Thập Tụng, quyển 22 và 31 luật Ma Ha Tăng Kỳ)

                        (2) Vệ sinh dép cỏ, dép làm bằng dây đay (quyển 25 và 39 luật Thập Tụng)

                        (3) Vệ sinh mang ủng (quyển 21 luật Ngũ Phần)

                        (4) Vệ sinh dép da ( quyển 56 luật Thập Tụng)

                        (5) Vệ sinh khi cởi dép ra (quyển 35 luật Ma Ha Tăng Kỳ)

            10. Những vệ sinh khác như hỉ mũi, khạc nhổ đàm, hắt xì hơi, ngáp…

                        (1) Vệ sinh hỉ mũi, khạc nhổ đàm (quyển 34 luật Ma Ha Tăng Kỳ)

                        (2) Vệ sinh dụng cụ nhổ nước bọt (quyển 38 và 57 luật Thập Tụng)

                        (3) Cách ho, hắt xì hơi, ngáp (quyển 35 luật Ma Ha Tăng Kỳ)

            Ðiều chúng ta cần biết rõ: Trong tất cả vệ sinh, vệ sinh tâm lý là quan trọng nhất. Vì giả như chỉ một mực coi trọng vệ sinh vật chất, xem thường sự bình an của tâm linh, như vậy không thể gọi là hạnh phúc được. Chúng ta phải nỗ lực, tinh tấn đoạn trừ những phiền não như tham ái, sân hận, đố kị, ghen ghét, kiêu ngạo, ngạo mạn, nghi ngờ và cố chấp, trong lòng chúng ta mới dần dần vệ sinh sạch sẽ, lành mạnh, từ đó chúng ta mới có cuộc sống hạnh phúc, an lạc, nhẹ nhàng.

9. Y HỌC

            Những vị thuốc được nói đến trong kinh Phật đều là thuộc về thuốc Ðông y. Lược thuật công năng và tên tuốc bằng âm Hán và âm Phạn như sau:

            1. Uất kim hương (âm Phạn: Cung-cử-ma): xuất xứ từ kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương. Vị cay, tính hàn, không độc, trị đông máu, hạ khí, đau tim, có thể trị túc huyết khí cho phụ nữ.

            2. Ðàn hương (âm tiếng Phạn: Chiên-đàn-na): xuất xứ từ kinh Phật Thuyết Chiên Ðà Thọ, kinh Chánh Pháp Niệm Xứ. Bạch đàn hương (đàn hương trắng): vị cay, tính ôn, có thể trị bệnh nóng sốt. Chân tử đàn (đàn hương tím): vị mặn, tính hơi lạnh, chủ trị phong độc, phong phù. Xích đàn hương (đàn hương đỏ): trị các vết thương bị dao cắt.

            3. Tô hợp hương (âm tiếng Phạn: Ðô-lư-sắc-ca): xuất xứ từ kinh Ðộ Chúng, kinh Ðà La Ni Tập, kinh Mâu Lợi, Ðại Nhật Kinh Sớ. Vị ngọt, không độc, trị tà, khiến người không nằm mơ, cảm thấy thân thể nhẹ nhàng, kéo dài tuổi thọ.

            4. Ðinh hương (âm tiếng Phạn: Sách-cù-giả): xuất xứ từ kinh Tối Thắng Vương. Vị cay, tính ôn, vô độc, chủ trị làm ấm tỳ vị, trị dịch thổ tả, trúng gió, sưng phù và trị vàng răng.

            5. Long não hương: (âm tiếng Phạn: Khước-bố-la): xuất xứ từ kinh Thiên Niên Hiệp Dược. Vị đắng và cay, tính hơi lạnh, vô độc, chủ trị lợi tim và ruột, hạ ác khí, giúp tiêu hóa, tản trường.

            6. Thanh mộc hương (âm tiếng Phạn: Cú-sắc-thác): xuất xứ từ kinh Tối Thắng Vương. Vị cay, tính ôn, vô độc, chủ trị tà khí, ngừa dịch độc, trị đau tim của phụ nữ.

            7. Bạch chỉ (âm tiếng Phạn: Tỵ-yết-la-ma): xuất xứ từ Hương Dược sao. Vị cay, tính ôn, vô độc, chủ trị phụ nữ bị ra đỏ trắng, viêm âm đạo, ra gió chảy nước mắt.

            8. Linh lăng hương (âm tiếng Phạn: Ða-yết-la): xuất xứ từ kinh Tối Thắng Vương. Vị ngọt, tính bình, vô độc, chủ trị ác khí, đau tim, đau bụng, mãn hạ khí.

            9. Quế tâm hương (âm tiếng Phạn: Huyên-giả): xuất xứ từ kinh Tối Thắng Vương. Vị cay ngọt, có chút độc, trị ấm tim, lợi gan phổi, trị nhức đầu đau bụng.

            10. Xạ hương (âm tiếng Phạn: Mạc-hà-bà-ca): xuất xứ từ kinh Tối Thắng Vương. Vị cay, tính ôn, vô độc, tránh ác khí, bình tâm an thần.

            11. Nhĩ tùng hương (âm tiếng Phạn: Na-la-đà, lại còn có âm Nã-nhậm): xuất xứ từ kinh Tô Tất Ðịa và kinh Tối Thắng Vương. Vị ngọt, tính ôn, vô độc, chủ trị ác khí, trị đau bụng.

            12. Ích trí (âm tiếng Phạn: Tô-khấp-mê-la): xuất xứ từ kinh Tối Thắng Vương. Vị cay, tính ôn, vô độc, chủ trị làm cho ấm bụng, bổ máu, trừ hôi miệng.

            13. Mục túc (âm tiếng Phạn: Tát-tất-lật-ca): xuất xứ từ kinh Ðộ chúng, kinh Bảo Số Các và kinh Tối Thắng Vương. Vị đắng, tính bình, vô độc, chủ trị tim, bổ ích thân thể, có thể dùng lâu dài.

            14. Mao hương (âm tiếng Phạn: Ôn-thi-la): xuất xứ từ kinh Tối Thắng Vương và kinh Ðà La Ni Tập. Vị đắng, tính ôn, vô độc, chủ trị trúng ác khí, ói mửa, lạnh bụng, lao tâm (do làm việc quá sức) bổ trung ích khí, làm tan máu do ứ lại (máu bầm), lợi tiểu tiện.

            15. Hoắc hương (còn có tên là dâm dương hoắc) (âm tiếng Phạn: Bát-đát-la): xuất xứ từ kinh Khởi Thế và kinh Ðộ Chúng. Vị cay, tính hàn, vô độc, chủ trị âm đạo bị khô, lợi tiểu tiện, tăng lực, mạnh gân cốt, tăng cường tinh lực.

            16. Huyên thảo (âm tiếng Phạn: A-du-ca): xuất xứ từ kinh Ðại Ðà La Ni Mạt Pháp. Vị ngọt tính bình, vô độc, chủ trị an ngũ tạng, khiến người vui vẻ, nhẹ nhàng, mắt sáng.

            17. Nhân sâm (âm tiếng Phạn: Cực-lê-thảo): xuất xứ từ kinh Kim Tỳ La Ðồng Tử. Vị ngọt, hơi hàn hơi ấm, vô độc, bổ ngũ tạng, an thần, tỉnh táo, dừng trống ngực đập thình thình (vì sợ hãi), tự tin vui vẻ, có ích cho trí lực, thông huyết mạch, trị ruột và dạ dày bị trúng lạnh.

            18. Cam thảo (âm tiếng Phạn: Mâu-sách-khư): xuất xứ từ kinh Ðể Li Tam Muội Da. Vị ngọt, tính bình, vô độc, lợi lục phủ ngũ tạng, chắc gân cốt, phát triển cơ bắp, tăng lực, giải độc, thông kinh mạch, lợi huyết khí.

            19. Cẩu khởi (âm tiếng Phạn: Thẩm-minh): xuất xứ từ kinh Trị Bệnh Hiệp Dược và kinh Sắt Ma Minh Vương. Vị đắng, tính hàn, vô độc, chủ trị tà khí trong ngũ tạng, bệnh tiêu khát (đông y chỉ chứng uống nước nhiều, tiểu tiện nhiều, bao gồm cả bệnh tiểu đường), lợi sức do lao lực, cường âm, lợi ruột già ruột non, dùng lâu ngày lợi gân cốt, thân thể nhẹ nhàng ích khí, chịu lạnh.

            20. Thiên môn đông (âm tiếng Phạn: Ba-ca-lặc): xuất xứ từ kinh Kim Tỳ La Ðồng Tử và kinh Sắt Ma Minh Vương. Vị đắng ngọt, tính bình đại hàn, vô độc, chủ trị các bệnh tê phong thấp, cứng xương tủy, định khí phổi, dưỡng cơ ích khí, lợi tiểu tiện.

            Dược liệu được nhắc đến trong kinh Phật nhiều không thể kể xiết, hai mươi loại nói trên chỉ là một bộ phận nhỏ mà thôi. Nếu độc giả có hứng thú, có thể đọc thêm các sách Hương Dược Sao, Dược Chủng Sao, Chư Hương Dược Công Năng Hình Thể, Tuệ Lâm Âm Nghĩa và Huyền Ứng Âm Nghĩa… trong Ðại Tạng kinh.

            Tong kinh Phật, chúng ta có thể thấy sự tích Phật trị bệnh cho người. Kinh Ðại Phương Ðảnh Vương miêu tả Phật là một Ðại Ðức Y Vương, vì Phật khéo biết bệnh tình, nguyên nhân của bệnh, thuốc tốt trị bệnh, và làm thế nào để bệnh mãi mãi không tái phát. Càng có ý nghĩa hơn nữa là khi Phật trị bệnh cho người thường hay bổ sung thêm đạo lý cuộc sống và con đường dưỡng sinh cho đối phương. Trong quyển 1 Ðại Tạng Bí Yếu có ghi phương pháp trị các chứng bệnh đau đầu, đau mắt, đau tai, đau tim, phù thũng, lỡ loét, bệnh trĩ lậu, bệnh lị a míp; phương pháp đuổi chuột, tránh giao long (thuồng luồng) và trị rắn cắn; phương pháp trị kinh nguyệt không đều, đứt tay, té ngả bị thương. Trong quyển 2 có ghi cách khử độc, cách trị ung nhọt và sâu độc, cách làm cho em bé không khóc nhòe, cách trị sinh nở khó khăn, cách trị dịch bệnh từ súc vật, cách trị bệnh sốt rét, cách cầu con. Trong quyển 3 có ghi cách trị giun đũa, cách trị vết lỡ loét, cách trị mắt đỏ, cách trị ngũ thấy ác mộng, cách trừ ấu trùng. Trong quyển 4 có ghi cách trị đau mắt, cách trị thói quen hay ăn đêm, cách trị kiết lị ói mửa, cách làm cho cơ bắp phát triển, cách sinh con dễ dàng, cách trị chảy máu cam, cách trị bị những côn trùng độc cắn, cách thông mũi nghẹt, cách trị bệnh nóng sốt, cách trừ ác mộng. Trong quyển 5 có ghi cách trừ hôn trầm…

            Bút giả nghĩ rằng, nguyên nhân chủ yếu Phật dùng thực vật thiên nhiên để trị bệnh, có thể là: Ngài hiểu biết hiệu quả trị bệnh bằng thực vật sẽ duy trì được lâu hơn các phương pháp khác như châm cứu, phẫu thuật… và không có tác dụng phụ. Mà còn mỗi lần sau khi trị hết bệnh cho đối phương Phật giáo hóa đối phương những phương pháp phòng ngừa bệnh tái phát, đây đúng là “Thượng y y vị bệnh”, nghĩa là Bác sĩ giỏi là phòng bệnh hơn chữa bệnh!

10. TƯƠNG LAI HỌC

            Thông thường, nhiều người cho rằng “tương lai học” là do những người Âu Mỹ cận đại sáng lập. Không ngờ hơn 2500 trước Ðức Phật đã nói qua rồi. Những học giả hiện đại nói đến tương lai vẫn là căn cứ những tư liệu có liên quan để suy đoán. Ðức Phật nói về tương lai là căn cứ vào lực quan sát, lực quan sát này có được sau khi thiền định.

            Theo kinh Phật ghi rằng, Ðức Phật biết chính xác tất cả những sự việc phát sinh trong vũ trụ vô hạn này cho đến xu thế và kết quả diễn biến trong tương lai. Trong quá trình dạy học, thỉnh thoảng Phật nói cho đệ tử những việc trong tương lai, hoặc từ những phương pháp này làm tăng thêm hiệu quả giáo dục, hoặc nâng cao sự hiểu biết của đệ tử đối với toàn bộ cục diện và quan hệ nhân quả.

            Ví dụ, trong kinh Vô Lượng Thọ, Ðức Phật đã nói lời tiên đoán về tình hình nâng cao dục vọng, lãng phí vật chất, tranh đấu tàn nhẫn, rối loạn tâm linh, thiếu hụt năng lượng v.v…

            Kinh Nam Truyền Ðại Bát Niết Bàn quyển 1 ghi rằng: Ðức Phật dùng thiên nhãn nhìn thấy dấu nhà ở đầy trong làng Bát-đáp-lý, Phật bèn nói với đệ tử rằng: làng Bát-đáp-lý hoang vắng kia, tương lai sẽ trở thành một đô thị lớn và trung tâm thương nghiệp… Những lời này quả nhiên linh nghiệm, vì sau này vua A-so-ka xây một đô thị ở nơi này (tức Patna hiện nay).

            Toàn bộ quyển kinh Phật Lâm Niết Bàn Ký Pháp Trụ, đều là những lời của Phật nói rõ về tình hình Phật pháp hưng suy sau khi Phật viên tịch 1000 năm.

            Trong kinh Ðương Lai Biến, Ðức Phật nói rõ mười nguyên nhân suy diệt của Phật pháp trong tương lai:

            1. Ðệ tử Phật không giữ giới luật Phật đã dạy, tu không đạt thiền định và trí tuệ, phóng túng tình dục, chỉ cầu danh lợi, không sống theo giáo pháp của Phật, không tinh tấn tu tập đạo nghiệp phổ độ thế nhân.

            2. Người xuất gia nuôi dưỡng vợ con, phóng túng tình dục, làm việc buôn bán để mưu sinh.

            3. Cấu kết đảng phái, phe nhóm, treo đầu dê bán thịt chó, bên trong phạm ác hạnh, bên ngoài ngụy trang là thanh khiết.

            4. Ðọc kinh Phật không hiểu nghĩa lý và cú pháp, đảo lộn thật giả, tự cho là đúng.

            5. Ðố kỵ ghen ghét với bậc hiền tài, không nghe lời chỉ giáo của bậc hiền tài, ngược lại mang lòng đố kỵ sân hận.

            6. Người xuất gia sau này, từ bỏ nhà cửa, nhàn cư sơn lâm, nhưng lại không tu đạo nghiệp.       

            7. Người xuất gia thích nơi đô thị náo nhiệt, lời lẽ qua lại, đòi hỏi mặc những y, áo ca sa tốt.

            8. Khinh mạn tự cao, cho rằng phẩm đức trí tuệ của mình không ai bằng, không chịu học để tiến thêm.

            9. Ðùa giỡn với phụ nữ, ăn nói những lời hoa mỹ để xúc động lòng người, chính bản thân mình không những không thực tài thực học, mà còn hoang phế Phật học.

            10. Loại bỏ những kinh điển thâm diệu Ðại thừa, ngược lại dựa thế leo lên, mượn lời những sách tạp nhạp vô dụng để đón ý cho vừa lòng thế tục.

            Tiếp theo Phật nói ra những phương pháp sống nên có của đệ tử Phật trong tương lai. Như là: Theo tâm nguyện từ bi với tất cả chúng sanh, chuyên tâm nghiên cứu phương pháp độ thế. Tinh tấn học kinh điển Tiểu thừa và Ðại thừa cho đến nơi đến chốn, không cầu hưởng thọ danh lợi. Lấy thân mình làm gương, cảm hóa người khác. Thường như pháp tu hành, phải đạt được trí tuệ thiền định, thường bố thí vật ngon cho người nghèo. Không tham luyến mỹ vị, cũng không chê ghét cơm áo đạm bạc…

            Trong kinh Liên Hoa Diện và kinh Pháp Diệt Tận, Ðức Phật nói trong tương lai có những hiện tượng đáng thương phát sinh giữa xã hội và cửa Phật. Nay lược thuật như sau:

            1. Người xuất gia thích mặc áo quần thế tục, hoặc mặc ca sa ngũ sắc, ăn thịt uống rượu, sát hại sinh linh để hưởng thọ thỏa mãn lòng tham ăn, tâm không có chút nhân từ, đố kỵ với mọi người.

            2. Người xuất gia phải làm việc tốt, phát tâm từ, ngược lại gặp phải những người xuất gia khác lại phỉ báng, bài xích, thậm chí xua đuổi họ.

            3. Dùng chùa chiền làm nơi buôn bán tham lam tích góp tiền tài vật chất, nhưng lại keo kiệt không bố thí cho người nghèo khó.

            4. Phạm những ác nghiệp, để trốn tránh hiện thực, hoặc tham những tiện nghi nhỏ mà vào chốn thiền môn. Vì vậy tham ăn lười làm, không tu giới luật, tụng kinh chỉ là hình thức bên ngoài, miệng đọc mà vô tâm, thậm chí cũng không tụng kinh điển gì.

            5. Người xuất gia mà lại chán ghét nghe Phật pháp, tham danh lợi. Cuộc sống không thanh tịnh, nam nữ tạp cư, dâm đãng vô đạo đức.

            6. Kinh Thủ Lăng Nghiêm và kinh Bát Chu Tam Muội thất truyền trước nhất, tiếp theo là tất cả kinh tạng dần dần cũng đều thất truyền.

            7. Lúc ấy người ác nhiều như cát trong biển, người hiền thưa thớt như sao buổi sáng. Mưa nắng thất thường, ngũ cốc không được mùa, bệnh dịch lưu hành, xác chết khắp nơi.

            8. Mọi người đề xướng tính khai phóng, phóng túng tình dục, dâm dục quá độ, kết quả nam nữ mới 40 tuổi tóc đã bạc, hơn nữa chết yểu chết non, chỉ có số ít sống đến 60 tuổi. Tuổi thọ người nữ dài hơn người nam, có thể sống đến 80 - 90 tuổi.

            9. Khoảng mấy triệu năm sau, sau khi Phật Di Lặc đản sanh, thiên hạ thái bình, độc khí tiêu trừ, gió thuận mưa hòa, ngũ cốc tươi tốt, tuổi thọ người người nâng cao, chúng sanh được hóa độ nhiều không thể tính kể.

            Sau khi nghe xong Phật giảng kinh Pháp Diệt Tận, chúng đệ tử đều cảm thấy vô cùng thương cảm, mọi người đều phát tâm từ bi vô hạn với chúng sanh, và phát tâm nguyện truy cầu trí tuệ vô thượng, sau đó lễ Phật và lui ra.

11. KINH TẾ HỌC GIÁO DỤC

     Chủ đề kinh tế học giáo dục ở chỗ làm thế nào có kinh phí giáo dục một cách đầy đủ, để hoàn thành mục tiêu giáo dục; đồng thời dùng vốn kinh tế ít nhất để đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất. Ðây là một môn học tương đối mới, hiện nay thông thường những học giả Âu Mỹ đều cho rằng quan niệm kinh tế học giáo dục bắt đầu từ thế kỷ 17, vì thế kỷ này nhà kinh tế học Adem Smith người Anh trước tác quyển Quốc Phú Luận (The Wealth Nation). Vì trong quyển Quốc Phú Luận của Adem Smith đã phát huy quan niệm đầu tư giáo dục, xem con người là đối tượng đầu tư có lợi. Thông qua phát triển nguồn nhân lực, để đạt được mục tiêu giáo dục và kinh tế.

            Trên thực tế, có rất nhiều quan niệm về kinh tế học giáo dục hiện đại, hơn 2500 năm trước Ðức Phật đã nói qua rồi, điều này có nhiều người cũng khó tin, sau đây bút giả dẫn ra hai đoạn từ trong kinh Phật ra xem:

            Trong kinh Niết Bàn, Ðức Phật đã từng dùng ruộng lúa để thí dụ nguồn nhân lực là một loại đầu tư giáo dục, và trong đầu tư giáo dục nên chú ý đến một số đối tượng trước nhất. Ðồng thời nói rõ đầu tư giáo dục, lần lượt nên dùng hiệu quả giáo dục sau khi đầu tư có được, làm mục tiêu đánh giá—Ðối tượng hiệu quả giáo dục càng cao, càng tốt thì càng ưu tiên đầu tư[32].

            Bút giả cử một ví dụ để nói rõ quy luật đầu tư giáo dục. “Ðầu tư giáo dục giống như làm ruộng vậy. Giả dụ có ba mảnh ruộng, đất đai rất màu mỡ. Không những không có gạch, sỏi, đá, hay bụi cây có gai nào, mà đường dẫn nước rất tiện lợi. Ðầu tư một phần vốn vào mảnh ruộng này, có thể thu hoạch được kết quả gấp 100 lần vốn đầu tư. Mảnh ruộng thứ hai, tuy cũng không có gạch, sỏi, đá và bụi cây có gai nào, nhưng thổ nhưỡng không màu mỡ lắm, và địa thế cũng không tốt lắm, đường dẫn nước không tiện lợi. Ðầu tư một phần vốn vào mảnh ruộng này, chỉ có thể thu hoạch được kết quả gấp 50 lần vốn đầu tư. Mảnh ruộng thứ ba, có rất nhiều cỏ dại, đá và gạch, đất đai không màu mỡ. Ðầu tư một phần vốn vào mảnh ruộng này, chỉ có thể thu lại phần vốn mà thôi. Như vậy, vị nông phu, cày cấy vào mùa xuân, thì nên làm mảnh ruộng nào trước?... Nên trồng trọt trên mảnh ruộng thứ nhất, sau đó đến mảnh ruộng thứ hai và cuối cùng mới đến mảnh ruộng thứ ba. Nhà giáo dục giáo hóa chúng sanh cũng nên như vậy, trước hết giáo dục những học sinh có tư chất bẩm sinh đặc biệt tốt, sau đó giáo dục những học sinh có tư chất trung bình và cuối cùng là giáo dục những học sinh có tư chất kém.” ( Kinh Niết Bàn, quyển 33)

            Ðức Phật lại dùng thí dụ về ba đứa trẻ, để nói rõ giáo dục, nên dạy đứa trẻ dễ thu được kết quả trước, sau đó giáo dục đứa trẻ kém hơn một chút, cuối cùng chuyên tâm giáo dục đứa trẻ khó dạy nhất. Vì như vậy, trong quá trình dạy học Thầy giáo sẽ có nhiều niềm vui thành tựu. Mà đứa trẻ đã được dạy tốt cũng có thể giúp đỡ Thầy giáo giáo hóa đứa trẻ chưa dạy tốt. Sau khi dạy đứa trẻ có tư chất ưu việt, đứa trẻ ấy khi sống chung với những đứa trẻ chưa giáo hóa, vô hình trung cũng sẽ ảnh hưởng đến chúng, hun đúc tài năng và phẩm hạnh cho chúng tốt dần lên. Nếu không, đang bắt đầu dạy đứa trẻ khó dạy nhất, Thầy giáo sẽ cảm thấy rất vất vả, thậm chí phát sinh hiện tượng Thầy giáo rơi nước mắt hoặc nản lòng. Cho nên Ðức Phật nói:[33]

            “Lại cử một ví dụ nữa để nói rõ, giả dụ một gia đình có ba người con, người con thứ nhất, không những hiếu thuận mà còn rất thông minh. Người con thứ hai không hiếu thuận lắm, nhưng cũng rất thông minh. Ðứa con thứ ba đã không hiếu thuận rồi, lại không thông minh. Như vậy, cha mẹ dạy ba người con này, nên dạy người con thứ nhất trước hết, sau đó dạy người con thứ hai và thứ ba. Thứ tự Ðức Phật giáo hóa chúng sanh cũng giống như vậy” ( Kinh Niết Bàn, quyển 33)

            Ðức Phật lại dùng thí dụ về bảy đứa trẻ để nói rõ: Ðối với những học sinh khác thường và những đệ tử thiếu tình thương ấm áp, nên đặc biệt quan tâm và phối hợp giúp đỡ. Học sinh càng cần sự ấm áp, thì càng quan tâm nhiều hơn[34].

            “Thí dụ có một người nuôi bảy người con. Trong đó có một người con bị bệnh. Tình yêu thương của cha mẹ hoàn toàn không phải không bình đẳng, nhưng cha mẹ đặc biệt chăm sóc người con có bệnh kia. Ðức Phật cũng như vậy: Từ bi của Phật phổ biến khắp tất cả, nhưng đối với người tội lỗi trầm trọng, Ðức Phật đặc biệt quan tâm; đối với người phóng đãng, hay phạm lỗi Ðức Phật cũng đặc biệt chịu khó dạy dỗ; đối với người thông thường hành thiện, cầu bình an, có thể tự mình ý thức hạn chế Ðức Phật chăm sóc ít một chút. Nhưng đây, hoàn toàn không phải là không bình đẳng. (Ðây cũng là một nguyên tắc khác của kinh tế học giáo dục)” (quyển 20 kinh Niết Bàn)

            Như trên đã nói, Ðối với lập trường kinh tế học giáo dục, thứ tự đầu tư giáo dục, nên lấy hiệu quả kinh tế lớn nhỏ làm y cứ. Hiệu quả kinh tế càng lớn, nên càng đầu tư trước. Như vậy giáo dục mới có thể đạt được hiệu lực và tác dụng tốt nhất. Một Thầy giáo giỏi nên dạy học sinh thông minh trước, và nắm vững những phần tử có vấn đề, đồng thời đặc biệt quan tâm, chiếu cố, giúp đỡ những con em nghèo và những học sinh cần tình thương ấm áp. Khi tình hình không cho phép, cùng lúc vận dụng những nguyên tắc trên (dạy những học sinh thông minh trước, cảm hóa những thành phần ngoan cố, quan tâm những đệ tử cần chăm sóc), người làm giáo dục nên tùy cơ ứng biến, vận dụng linh hoạt những phương pháp khác, để đạt được hiệu quả kinh tế lớn nhất. Ví dụ như cung cấp các loại sách thích hợp trình độ cao thấp, để thông thường học sinh tự đọc nghiên cứu, hoặc chọn mấy tác phẩm hay cho học sinh đọc diễn cảm hoặc đọc thêm, hoặc tìm những học sinh ưu tú ra làm đầu tàu, hướng dẫn thảo luận hoặc các hoạt động giáo dục khác… sau đó Thầy giáo tập trung giải quyết những học sinh có vấn đề cần giải quyết.

            Nói tóm lại, trong trạng thái bình thường, Thầy giáo có thể dựa vào tư chất nhanh chậm của học sinh mà lần lượt giáo hóa họ, nhưng khi gặp tình huống đặc biệt phát sinh, như là: tâm lý học sinh có trở ngại lớn cần chăm sóc giúp đỡ, hoặc những phần tử ngoan cố gây rối hoạt động dạy học… đối với những việc trở ngại hoạt động dạy học này, Thầy giáo phải gấp xử lý thỏa đáng. Ðối với những việc ngẫu nhiên xảy ra ảnh hưởng đến hoạt động dạy học càng lớn, càng phải giải quyết nhanh. Vì sau khi giải quyết thỏa đáng những chướng ngại cay nghiệt, hoạt động dạy học có thể bắt đầu tiến hành thuận lợi trở lại.

            Có một điều chúng ta cần chú ý là: Ðối với những học sinh ngoan cố hoặc những phần tử có vấn đề, Thầy giáo nên xem như ruột thịt và quan tâm vô điều kiện, âm thầm tha thứ cho chúng. Nên đặt mình vào hoàn cảnh của chúng để thông cảm và hiểu chúng. Nhưng thông thường Thầy giáo không nên biểu hiện ra vẻ thông cảm và thương xót. Ðặc biệt ở nơi đông người càng không nên làm như vậy. Vì ở trước mặt mọi người mà ra vẻ thương xót chúng, có khi làm tổn hại đến lòng tự trọng của chúng khiến chúng sinh ra cảm giác khó chịu và giận dữ.

            Trong kinh Phật miêu tả: Ðức Phật vận dụng nguyên tắc kinh tế học giáo dục đã đạt đến bước lửa lò đã xanh (tương truyền đạo gia luyện đan, nhìn vào lò thấy ngọn lửa lên màu xanh, coi là đã thành công, ví với việc thành thục của học vấn). Ngài không phải nghĩ ngợi gì, không cần phí tâm sức, mà cũng đạt được hiệu quả giáo dục lớn nhất một cách nhẹ nhàng. Càng kỳ diệu hơn nữa là, Phật phát huy hết mức nguyên tắc kinh tế học giáo dục, hoàn toàn không có trở ngại đến tình thương giáo dục bình đẳng đối với đệ tử. Phật giáo dục chúng sanh giống như ánh sáng mặt trời chiếu khắp quả địa cầu.

            Khi mặt trời mới mọc, ánh sáng trước hết chiếu đến đỉnh núi, sau đó chiếu đến sườn núi, gò đồi và đồng bằng, cuối cùng mới chiếu vào hang núi. Thứ tự ánh sáng mặt trời chiếu đến vạn vật tuy không hoàn toàn nhất chí, nhưng nó không nghĩ rằng cần chiếu vào nơi cao trước, sau đó chiếu vào thung lũng. Vì bản thân vạn vật vốn có cao có thấp, nên ánh sáng chiếu đến mới có sự sai biệt trước sau, đây hoàn toàn không phải mặt trời có tâm phân biệt. Việc Ðức Phật giáo dục đệ tử cũng giống như vậy: Ngài theo tinh thần hữu giáo vô loại để giúp đỡ chúng sanh giải quyết nghi vấn. Phật bình đẳng quan tâm đến tất cả chúng sanh, hoàn toàn không có khởi tâm phân biệt. Phật cũng không có chấp trước là phải giáo dục học sinh có tư chất ưu tú trước, sau đó mới giáo dục học sinh có tư chất kém hơn. Phật chỉ là toàn tâm toàn ý làm việc giáo dục, thành khẩn vận dụng tâm trí có được để dẫn dắt mọi người. Do vì tư chất bẩm sinh, cá tính, thói quen, năng lực cảm thọ và sức lãnh ngộ mỗi người không giống nhau, do đó hiệu quả giáo dục của Ðức Phật mới có sai biệt nhanh chậm lớn nhỏ. (Phẩm Xuất Hiện kinh Hoa Nghiêm)

12. TÂM LÝ HỌC

     Trong quyển Bản Chất Tư Tưởng Giáo Dục của Ðức Phật, bút giả đã thảo luận qua rất nhiều về chủ đề có liên quan đến tâm lý học, đồng thời nói rõ điểm khác nhau của tâm lý học Phật giáo và tâm lý học Tây phương, nên ở đây bút giả không nói nữa.

            Hôm nay bút giả thảo luận chủ đề “mộng”rất thú vị trong tâm lý học.

            Bác sĩ tâm thần kiêm nhà tâm lý học Sigmund Frend (1856-1939) người Áo, đã từng sáng lập ra lý luận phân tích tinh thần. Ðặc biệt ông ấy nhấn mạnh đến kinh nghiệm trong quá khứ và tình dục ảnh hưởng đến hành vi hiện tại của con người, và động cơ tiềm thức quan trọng đối với sự lành mạnh về thể xác và tinh thần. Ông ấy chia nhân cách của con người ra làm ba phần:

            1. Bản ngã (id)—Tức cái ngã, cái ta trên phương diện tính sinh vật. Chỉ phương diện xung lực tiềm tàng trong bản năng, xung lực này lấy thỏa mãn nhu cầu sinh vật và theo đuổi khoái lạc của cơ quan cảm giác làm nguyên tắc duy nhất. “Bản ngã” tương tự như “vô minh từ vô thủy” trong kinh Phật. Vì “vô minh” mà Phật nói và “bản ngã” mà Frend nói đều lấy tham dục làm cơ sở, và đều thuộc về tiềm thức, cá nhân mỗi người không cách nào tự biết được.

            Nhưng sự khác nhau lớn nhất giữa kiến giải của Ðức Phật và Frend là: Ðức Phật cho rằng vô minh là khách trần ô nhiễm tâm thức, Phật tánh thanh tịnh sáng suốt hay tánh linh (trong kinh gọi tánh linh là Thức thứ tám, Tạng thức, hoặc A-lại-da thức đã được tu tập) mới là “bản ngã” chân chánh. Ngược lại, Frend cho rằng vô minh và tham dục là “bản ngã”, đúng là điên đảo mê hoặc! Trong kinh Lăng Nghiêm Ðức Phật luôn nói rõ rằng: Ðừng bao giờ nhận lầm khách trần và đạo tặc (chỉ tham dục và vô minh) làm chủ nhân (chỉ bản tánh của chân ngã)

            2. Tự ngã (ego) - Tức là cái ngã trên phương diện tính tâm lý (cái tôi). Nó có thể hiểu biết vấn đề, đồng thời điều tiết xung lực, điều tiết xung đột, và điều tiết mâu thuẫn để thích hợp với hoàn cảnh hiện thực.

            3. Siêu ngã (supper-ego)—Tức cái ngã trên phương diện tính xã hội, nó do sự dạy dỗ của cha mẹ, đạo đức xã hội, tập tục văn hóa… hình thành, nó là một cái ngã tiêu biểu cho quy phạm xã hội và lý tưởng (idea self or social self).

            Frend cho rằng hành vi của con người là do sự chi phối tác dụng qua lại của ba phương diện bản ngã, tự ngã và siêu ngã. Sau khi xung lực của bản ngã bị qui phạm của siêu ngã kìm chế, nó hoạt động ẩn náo trong tiềm ý thức, và hiện tượng nằm mộng chính là sự hiển hiện của những xung lực bị kìm chế trong tiềm ý thức. Nằm mộng là những ngôn ngữ và hoạt động tượng trưng nào đó để biểu hiện tư tưởng bị kìm nén, do đó mộng là tiêu biểu cho dục vọng và thỏa mãn dục vọng của một người.

            Frend đã từng viết quyển Giải Thích Những Giấc Mộng (The Interpretation of Dream). Quyển sách này đã từng được nhà thư viện học R.B. Downs người Mỹ liệt vào một trong 15 quyển sách làm thay đổi lịch sử. Không ngờ quyển sách giải thích giấc mộng này vẫn chưa sâu sắc thấu triệt bằng trong kinh Phật.

            Ví dụ như, Frend phân chia giấc mộng làm hai loại, giấc mộng mang tính rõ ràng (manifest dream) và giấc mộng mang tính tìm ẩn (latent dream). Giấc mộng mang tính rõ ràng, chỉ những gì thấy trong giấc mộng tương tự với những sự vật trong cuộc sống thực tế, và nội dung của giấc mộng có thể đi ngược với nguyện vọng và cuộc sống thực tế. Giấc mộng mang tính tiềm ẩn thì chỉ dùng phương thức gián tiếp hoặc tượng trưng để biểu thị hoạt động và nguyện vọng trong tiềm ý thức của mỗi người. Ví dụ, quốc vương là tượng trưng cho phụ thân. Ðược cứu vớt từ trong nước tượng trưng cho đản sanh. Tàu hỏa biểu thị sự chết chóc, do đó không kịp chuyến tàu hỏa biểu thị ý nghĩa chạy trốn khỏi sự chết chóc. Cái vali biểu thị tử cung (hoặc nơi che chở) nằm mộng thấy vali biểu thị muốn trở về nơi được che chở.

            Tong Phật học có rất nhiều chủng loại và nguyên nhân nói đến giấc mộng. Ví dụ như, trong quyển 12 luật Thiện Kiến chia giấc mộng làm bốn loại. Trong quyển 37 luận Tỳ Bà Sa nói đến giấc mộng có năm nguyên nhân như sau:

            1. Do các bộ phận trong cơ thể không điều hòa dẫn đến nằm mộng - Trong quyển 6 luận Ðại Trí Ðộ nói: Khí nóng trong thân thể nhiều, sẽ nằm mơ thấy sự vật màu vàng hoặc màu đỏ. Khí lạnh nhiều, sẽ nằm mơ thấy nước hoặc sự vật màu trắng. Phong khí nhiều, sẽ nằm mơ thấy bay lượn hoặc sự vật màu đen.

            2. Do thường suy nghĩ, phân biệt, mong cầu một sự vật nào đó dẫn đến nằm mơ—Ban ngày, cứ nhớ nghĩ những sự vật canh cánh trong lòng hoặc quấn quanh trong não, thông thường rất dễ xuất hiện trong giấc mộng. Suy nghĩ những điều lương thiện sẽ hiện ra giấc mơ đẹp. Suy nghĩ những điều xấu ác sẽ mơ thấy ác mộng, hoặc một giấc mơ rất sợ hãi.

            3. Tổ hợp lại những sự việc đã từng thấy, từng nghe, từng kinh nghiệm hoặc đã từng làm qua, và lại hiện ra trong giấc mộng.

            4. Vì việc tốt hoặc không tốt sắp xảy ra, cho nên hiện ra một điềm báo trước trong giấc mộng.

            5. Giấc mộng do quỷ thần, chú thuật, dược thảo và Thánh hiền dẫn đến. Ví dụ, một người A nào đó ăn hiền ở lành, trong giấc mơ thiên thần thoái thác cho người A để tăng trưởng niềm tin cho ông ấy làm việc tốt. Người B làm ác, thiên thần gửi ác mộng đến ông ấy, để ông ấy sợ hãi ác quả mà trở lại làm những điều thiện…

            Ðức Phật là một vị Ðại sư giải thích về giấc mộng. Ví dụ quyển hạ kinh Ma Ha Ma Da, ghi rằng Ðức Phật giúp mẫu thân của Ngài phân tích năm loại mộng. Quyển 9 luận Câu Xá và quyển 8 Câu Xá Quang Ký, đã giải thích mười loại mộng…

            Kinh Xá Vệ Quốc Vương Mộng Kiến Thập Sự, nói: Có một lần vua Ba Tư Nặc nước Xá Vệ nằm mộng thấy có mười giấc mơ, bèn chạy đến hỏi Phật. Phật bảo ông ấy rằng:

            Giấc mơ thứ nhất, mơ thấy hai cái bình, một cái bình rỗng không, một cái đầy nước, nước trong bình chảy tới chảy lui, nhưng lại không chảy vào cái bình trống không. Ðiều này biểu thị: Những người sau này giàu có tặng lễ vật qua lại với nhau, nhưng không bố thí cho người nghèo.

            Giấc mơ thứ hai, mơ thấy có người để rất nhiều thức ăn bên miệng và mông của con ngựa. Biểu thị: Tương lai quan lớn bóc lột quan nhỏ và bá tánh.

            Giấc mơ thứ ba, mơ thấy cây nhỏ ra hoa. Biểu thị: Người sau này đến 30 tuổi đầu tóc sẽ bạc hết.

            Giấc mơ thứ tư: Mơ thấy cây nhỏ kết trái. Biểu thị: người con gái sau này tuổi còn nhỏ đã sanh con.

            Giấc mơ thứ năm, mơ thấy con cừu non ăn dây rơm. Biểu thị: Sau này người chồng ra ngoài làm ăn, vợ ở nhà ở với người đàn ông khác, tiêu phí tiền của chồng.

            Giấc mơ thứ sáu, mơ thấy con cáo ngồi trên cái giường vàng. Biểu thị: Sau này có nhiều người có phẩm cách hạ tiện, vì dùng thủ đoạn xảo quyệt nên giàu có.

            Giấc mơ thứ bảy, mơ thấy con bò lớn theo liếm vú con bò con. Biểu thị: Sau này có những người đem con gái mình bán cho những người đàn ông, làm gái bán dâm, để lấy tiền vàng từ việc làm đê tiện của mình là đưa con gái vào con đường xã hội chê cười.

            Giấc mơ thứ tám, mơ thấy có bốn con trâu đấu chọi với nhau từ bốn phía, nhưng chưa đấu đã chạy. Biểu thị: Người sau này đa số đều phóng dật hành sát, đạo, dâm không sợ trời đất; vũ sư cầu mưa, chỉ có mây đến từ bốn phía, một lúc sau lại tan đi mất hết, đại địa nắng hạn lâu dài không có mưa.

            Giấc mơ thứ chín, mơ thấy khe nước ở dưới sườn núi, bên trong hết sức dơ bẩn, vẩn đục. Biểu thị: Nhân dân Ấn Ðộ sau này nghèo khổ loạn lạc, dân không thể sống được.

            Giấc mơ thứ mười, mơ thấy nước suối biến thành màu đỏ. Biểu thị: Sau này, giữa các nước thường giết hại lẫn nhau hàng loạt, máu chảy khắp nơi.

            Trong kinh A Nan Thất Mộng cũng ghi rằng: Có một lần A Nan đệ tử Phật, nằm mộng, có bảy giấc mộng, đến thỉnh giáo Ðức Phật. Phật bèn bảo A Nan rằng: Bảy giấc mộng này là biểu thị cho vận mạng của người xuất gia sau này:

            Giấc mơ thứ nhất, mơ thấy ao nước, hồ nước ở sườn núi phát hỏa. Biểu thị: Người xuất gia sau này không hành theo giáo pháp của Ðức Phật, ác nghịch hừng hực.

            Giấc mơ thứ hai, mơ thấy rất nhiều mặt trăng mặt trời và các tinh tú rơi xuống. Biểu thị: Sau khi Phật niết bàn, rất nhiều bậc Thánh cũng theo đó mà niết bàn hoặc ẩn dật và dần dần không còn nhìn thấy nữa.

            Giấc mơ thứ ba, mơ thấy Tỳ kheo xuất gia ở trong hố bất tịnh, cư sĩ tại gia lên tòa. Biểu thị: Người xuất gia sau khi chết đọa địa ngục rất nhiều, cư sĩ tại gia sau khi chết lại được sanh thiên rất nhiều.

            Giấc mơ thứ tư, mơ thấy có một đàn heo đến ủi bới rừng đàn hương. Biểu thị: Sau này có nhiều người tại gia vào chùa phỉ báng Tăng chúng, phá tháp hại Tăng.

            Giấc mơ thứ năm, A Nan mơ thấy đầu mình đội quả núi lớn và không cho là thật. Biểu thị: Sau khi Phật niết bàn, A Nan sẽ ra làm Thầy nói kinh, có thể tiếp tục truyền thừa chân lý Phật đã nói.

            Giấc mơ thứ sáu, mơ thấy con voi lớn đuổi bỏ voi con và không chăm sóc. Biểu thị: Sau này tà thuyết lộng hành, tà kiến hoành hành. Người có đức có trí đều ẩn hết, không xuất hiện.

            Giấc mơ thứ bảy, mơ thấy sau khi sư tử vương chết rồi trên đầu vẫn còn bảy sợi lông dài, tất cả cầm thú thấy đều rất sợ hãy, nhưng cuối cùng lại xuất hiện con trùng nhỏ (như bọ chét…) trên thân sư tử và ăn thịt con sư tử. Biểu thị: Sau khi Phật niết bàn trong vòng 1470 năm, đệ tử Phật dựa theo giáo pháp của Phật tu hành, tất cả tà thuyết không hoành hành được. Sau đó đệ tử Phật tự mình phạm giới luật, không hành theo giáo pháp của Phật, Phật pháp theo đó mà suy tàn.

            Giải thích giấc mộng trong kinh Phật, đã có nhiều linh nghiệm, ví dụ như giấc mộng thứ năm đã nói trên. Năm giấc mộng của Vua A Xà Thế trong kinh Niết Bàn, sau này cũng đều chứng thực.

           

Theo quyển 20 của luận Tỳ Bà Sa, nói rằng: Phàm người có vô minh đều nằm mộng, thậm chí quả dự lưu cho đến bậc Thánh A La Hán cũng đều nằm mộng. Thông thường Bồ tát và bậc Thánh tuy đã đoạn trừ tất cả phiền não, nhưng tập khí vô minh và tập khí điên đảo vẫn tồn tại, cho nên vẫn còn nằm mơ. Duy chỉ có Phật là không nằm mơ, vì Phật đã đoạn trừ triệt để tất cả tập khí vô minh và tập khí điên đảo. Lại căn cứ phẩm Mộng Hành kinh Ðại Bát Nhã và quyển 75 luận Ðại Trí Ðộ ghi rằng: Trong giấc mộng Bồ tát có thể nhập giải thoát tam muội, cũng có lợi ích đối với trí tuệ của Bồ tát. Bất cứ người nào nếu trong giấc mộng có thể hành thiện tu tuệ, ít nhiều cũng có ích cho phẩm hạnh và trí tuệ của người đó.

13. LOGIC HỌC

            Phật giáo gọi logic học là Nhân Minh Học. Một bộ Nhân Minh Học giới thiệu có hệ thống nhất gọi là Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận. Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận nói rõ ba chủ đề: Tông, Nhân và Dụ.

            1. Tông - Nghĩa lý và mệnh đề được thành lập, và chín điều sai lầm có thể phạm: Hiện lượng tương vi, tỷ lượng tương vi, tự giáo tương vi, thế gian tương vi, tự ngữ tương vi, năng biệt bất cực thành, sở biệt bất cực thành, câu bất cực thành, tương phù bất cực thành.

            2. Nhân - Lý do thành lập nghĩa lý, và mười bốn điều sai lầm có thể phạm: (1) Tứ bất thành: Lưỡng câu bất thành, tùy bất thành, do dự bất thành, sở y bất thành. (2) Lục bất định: Cộng bất định, bất cộng bất định, đồng phẩm nhất phân chuyển dị phẩm biến chuyển bất định, dị phẩm nhất phân chuyển đồng phẩm biến chuyển bất định, câu phẩm nhất phân chuyển bất định, tương vi bất định. (3) Tứ tương vi: Pháp tự tương vi, pháp sai biệt tương vi, hữu pháp tự tướng tương vi, hữu pháp sai biệt tương vi.

            3. Dụ - Những thí dụ giúp đỡ nghĩa lý thành lập. Dụ chia làm hai loại đồng dụ và dị dụ. Ðồng dụ chỉ cho pháp dụ có hai nghĩa tong - nhân, dị dụ chỉ cho pháp dụ không có hai nghĩa tong - nhân. Lúc dẫn dụng thí dụ, có thể phạm mười điều sai lầm sau: (1) Năm điều sai lầm giống đồng dụ: Năng lập pháp bất thành, sở lập pháp bất thành, câu bất thành, vô hợp, đảo hợp. (2) Năm điều sai lầm giống như dị dụ: Sở lập pháp bất khiển, năng lập pháp bất khiển, câu bất khiển, bất ly, đảo ly.

            Ba phần nói trên trình bày thành tám mệnh đề thật giả: năng lập, năng phá, tợ năng lập, tợ năng phá, hiện lượng, tỷ lượng, tợ hiện lượng, tợ tỷ lượng. Vì ý nghĩa và quan hệ của những danh xưng nói trên rất phức tạp, không tiện trình bày rõ, cho nên chỉ nói sơ lược. Nếu độc giả có hứng thú với logic học, mời đọc quyển Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận (nguyên văn chữ Hán: Ðại Chánh Ðại Tạng kinh NO. 1630. Nhưng bút giả không biết có tác giả nào dịch ra Việt văn chưa).

14. LUÂN LÝ HỌC

     Những vấn đề liên quan đến luân lý trong kinh Phật có rất nhiều. Phàm phương pháp quan hệ đối xử giữa cha con, Thầy trò, anh em, chị em, vợ chồng, bạn bè đều ghi rất tường tận. Bây giờ chúng ta chỉ nói về quan niệm luân lý trong hai bộ kinh như kinh Thiện Sanh và kinh Ưu Bà Tắc Giới.

            Ðức Phật dạy làm người, con cái nên dùng năm phương thức sau đây để phụng dưỡng cha mẹ:

            1. Cúng dường, hầu hạ đừng để cha mẹ cảm thấy thiếu thốn.

            2. Dù làm việc gì, trước hết nên thưa hỏi cha mẹ.

            3. Khéo lượng thứ những hành động của cha mẹ, cung kính và không được ngỗ nghịch.

            4. Ðối với mệnh lệnh và những lời dạy bảo nhắc nhở đúng đắn của cha mẹ không được làm trái.

            5. Phát huy tích cực để làm rạng rỡ gia phong. (Xem thêm kinh Thiện Sanh và kinh Trường A Hàm)

            Những bậc cha mẹ cũng nên dùng năm phương thức sau đây để quan tâm đến con cái của chính mình:

            1. Yêu thương bảo vệ con cái chu đáo từng li từng tí.

            2. Cung cấp cho con cái những phẩm vật cần thiết, đừng để chúng thiếu thốn.

            3. Dạy cho con cái những tri thức và kỹ năng.

            4. Dạy con cái những đạo lý đối nhân xử thế.

            5. Xây dựng mối quan hệ tốt với con cái, giao của cải cho con cái trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau. (Xem thêm kinh Lục Phương Lễ)

            Ðệ tử (học trò) đối với sư trưởng (Thầy):

            1. Cung kính nhận lời, việc sư trưởng dạy.

            2. Thường nhớ nghĩ đến thâm ân của sư trưởng.

            3. Việc sư trưởng sai bảo, nên nhanh chóng đi làm.

            4. Làm người và giải quyết công việc theo lời dạy bảo của sư trưởng.

            5. Không nên nói xấu sau lưng, nên thường xưng tán những ưu điểm của sư trưởng.

            Sư trưởng đối với đệ tử:

            1. Tận tâm dạy bảo đệ tử và không nên bỏ lỡ thời cơ.

            2. Dạy cho đệ tử toàn bộ những gì mình biết, không được keo kiệt.

            3. Không được đố kỵ khi đệ tử “thanh xuất ư lam” (Trò giỏi hơn Thầy, thế hệ sau giỏi hơn thế hệ trước).

            4. Có thể giới thiệu Thầy tốt bạn hiền thích hợp cho đệ tử.

            5. Thường bố thí tài vật, cứu giúp những đệ tử có gia cảnh nghèo khó. (Phẩm Thọ Giới kinh Ưu Bà Tắc Giới)

            Chồng đối với vợ:

            1. Yêu thương quan tâm đến vợ.

            2. Không được xem thường vợ hoặc ngạo mạn với vợ.

            3. Vì vợ mà làm những vật trang sức nhỏ, mới mẻ, đặc biệt dễ thương.

            4. Giúp cho vợ sống trong nhà một cách an tâm, tự tại.

            5. Quan tâm đến những người thân bên vợ.

            Vợ đối với chồng:

            1. Hết lòng kính yêu chồng, săn sóc từng li từng tí.

            2. Xử lý việc nhà không được lơ là chậm chạp.

            3. Ðối đãi với chồng một cách thành thật.

            4. Nói chuyện phải ôn hòa nhẹ nhàng, không nên thô lỗ.

            5. Có thể khen ngợi chồng đúng lúc hợp thời, đồng thời tiếp nhận những kiến nghị tốt của chồng. (Kinh Thiện Sanh và phẩm Thọ Giới kinh Ưu Bà Tắc Giới)

            Ðối đãi với bạn bè:

            1. Kính yêu bạn thân và không nên khinh mạn.

            2. Dùng những lời hay ý đẹp khuyên bảo lẫn nhau.

            3. Ðối với bạn bè phải giữ lòng tin, tuyệt đối không được bịp bợm dối trá.

            4. Lúc bạn bè gặp khó khăn, nguy nan, nên hết lòng ra tay cứu giúp.

            5. Lúc bạn bè mê muội phóng dật, có thể khéo dùng phương tiện hướng dẫn bạn ấy sửa chữa khuyết điểm. (Kinh Thiện Sanh và phẩm Thọ Giới kinh Ưu Bà Tắc Giới)

            Những luân lý hay khác như “tam tùng” trong luận Ðại Trí Ðộ và kinh Thắng Man, “bát kỉnh pháp” trong quyển 48 luật Tứ Phần và quyển 38 kinh Trung A Hàm (còn gọi là kinh Cù Ðàm Di)

15. NHỮNG MÔN HỌC KHÁC NHƯ: CHÍNH TRỊ VÀ PHÁP LUẬT

     Mục đích chế định pháp luật ở chỗ củng cố quyền làm chủ quốc gia, bảo vệ quyền làm người của nhân dân, làm cho xã hội ổn định vững chắc, tăng thêm phúc lợi cho nhân dân. Nhìn từ mặt bên ngoài, pháp luật hình như đang hạn chế hành vi tự do của con người, nhưng thực tế, nó giống như luật giao thông vậy, muốn mọi người đi đường được dễ dàng, được tiện lợi, thì mọi người nhất định phải tuân thủ luật lệ giao thông. Nếu không, chỉ lo đến tiện lợi của chính mình, lái xe với tốc độ tùy tiện, vượt đèn đỏ một cách loạn xạ, thiên hạ há chẳng phải đại loạn sao?!

            Ngày nay, chúng ta đã bước vào thế kỷ 21, phần lớn các nước trên thế giới đều tuyên xưng quốc gia mình là quốc gia phúc lợi, quốc gia mình có chính trị, giáo dục và pháp luật không ngừng tiến bộ. Nhưng, vì sao vẫn còn tồn tại rất nhiều vấn đề xã hội? Những người xem báo chí đều hiểu: Mỗi ngày đều có rất nhiều vụ án cướp đoạt, giết người, gian dâm, tham ô… Những điều này hình như mãi mãi không bao giờ hết. Tại sao như vậy? Vì những người học chính trị và những người chế định pháp luật chỉ suy nghĩ đến nhân tố con người, mà xem thường toàn bộ giới sinh vật và sự cân bằng hệ thống sinh thái. Họ chỉ xem tình hình hiện tại và mặt ngoài mà không đi sâu vào quan sát nhìn rõ hậu quả nguyên nhân trước của vấn đề. Họ không tin “đầu thai luân hồi” và “nhân quả ba đời”, họ cho rằng đó là những lời nói năng vô căn cứ, thật không biết rằng “đầu thai luân hồi” và “nhân quả ba đời” là chân lý mà các bậc Thánh đã thực chứng. (Phật nói: “Tu pháp của Ta, chứng rồi mới tự biết được”) Thậm chí có người một mực cho rằng: Vấn đề xã hội là vấn đề mãi mãi không có cách nào giải quyết, do đó đợi đến khi vấn đề xảy ra rồi mới đi tìm biện pháp giải quyết. Họ không giải quyết trên phương diện toàn diện hoặc không giải quyết trên phương diện căn bản, mà chỉ là đau đâu chữa đấy, ngứa đâu gãi đấy, làm như vậy thì không cách nào phát hiện ra trung tâm của vấn đề.

            Ví dụ như nói, thông thường mọi người đều biết rằng: Giết người là do tranh chấp, hận thù và ý kiến chia rẽ mà sanh ra. Cưỡng hiếp là do tham ái và do không tiết chế được tính dục mà ra. Họ đều thấy được sự quan trọng của vấn đề xã hội, nhưng khổ nỗi là không biết cứu cánh của vấn đề, là vì sao lại sinh ra tranh chấp nhau, vì sao chia rẽ ý kiến… Một mặt mọi người thông qua công năng của giáo dục và chính trị để từ bỏ sát đạo và gian dâm; nhưng mặt khác, phim ảnh và tiểu thuyết về sắc tình và bạo lực lại đầy rẫy ngoài thị trường. Mâu thuẫn này làm cho vấn đề càng trở nên phức tạp, khó giải quyết. Trên thực tế, vấn đề sát đạo dâm trong xã hội chỉ là “quả” mà thôi, “nhân” của sát đạo dâm có thể ở đời quá khứ (hoặc đời trước, trước nữa… hoặc vô số đời về trước) đã trồng rồi. Cái “nhân” ẩn nấp kia, đời này gặp được “duyên” đầy đủ (ví dụ như: thiếu sự chăm sóc của cha mẹ, không được giáo dục tốt, thường qua lại với những bạn bè xấu ác, vật chất mê hoặc, ý chí không kiên cường…) cho nên mới sinh ra “quả” sát đạo dâm. Ðiều này cũng giống như quy luật “hạt giống gặp ánh sáng đầy đủ, đất đai màu mỡ, nước vừa đủ, không khí tốt, hạt giống ấy sẽ phát triển tốt và sẽ ra hoa kết trái”. Vì lúc trước chúng ta đã gieo trồng quá nhiều nhân tốt lành và nhân xấu ác, cho nên đời này, có những người (hoặc những sinh vật khác) chúng ta nhìn rồi trong lòng cảm thấy rất thoải mái dễ chịu, có những người (hoặc những sinh vật khác) chúng ta vừa nhìn liền cảm thấy không vừa mắt, không hài lòng. Ðây là do đời trước chúng ta trồng nhiều nhân lành và nhân xấu chen lẫn nhau. Nhìn không vừa mắt, ngoài sự tu dưỡng của chính mình (hoặc những duyên khác) ra, chính là quá khứ đã từng phát sinh những chuyện không vui hoặc gây nhân xấu với người đó hoặc loài động vật nào đó. Ðây là “nhân” ẩn tàng cùng gặp “duyên” tu dưỡng đời này không tốt, cho nên mới nhìn người kia cảm thấy không vừa mắt, dễ sinh ra mâu thuẫn và tạo nghiệp sát. Tất cả “quả” trong vũ trụ đều có “nhân”, nhưng có “nhân” mà không có “duyên” thì không thể sinh ra “quả”. Trong kinh Phật nói: (đời nay) người giàu có từ trong (đời trước) bố thí mà có được, người bần cùng nghèo khó là do keo kiệt tiếc rẻ mà ra, người đoan chánh do nhẫn nhục mà ra, người hạ tiện là do kiêu mạn mà ra, người cao sang trọng vọng là do cung kính mà ra, người câm không nói được là do phỉ báng mà ra, người mù điếc là do không có lòng tin mà ra, người trường thọ là do từ bi mà ra, người đoản mạng là do sát sanh mà ra, người các căn không đầy đủ là do phá giới mà ra, người có lục căn đầy đủ là do trì giới mà ra… Giả dụ như một người từ nhiều kiếp trong quá khứ chưa bao giờ trồng nhân xấu ác, ông ấy mãi mãi sẽ không bị người khác nhìn không vừa mắt, cũng mãi mãi không bao giờ gặp cái họa bị giết. Vì từng giờ từng khắc trên đời này luôn có quá nhiều người đang làm tổn thương hoặc ngược đãi động vật (bao gồm cả người), cho nên những án giết người và đấu tranh trên thế giới này mãi mãi không bao giờ ngừng phát sinh. Nếu trong xã hội không có phát sinh sự tàn sát và đấu tranh, phương pháp căn bản nhất là người người đều giữ giới: không sát sanh, bồi dưỡng tâm từ bi “dân bao vật dữ” (xem mọi người như đồng bào, xem động vật như đồng loại), “vật ngã đồng thể” (vật và mình đồng một thể), và không làm tổn thương hoặc nhiễu loạn bất cứ động vật nào. Cổ đức lưu truyền bài kệ rằng:

                        Chén canh đầy, mấy trăm nghìn năm,

                        Oan sâu như biển, hận khó hòa,

                        Trên đời, muốn biết kiếp binh đau,

                        Chỉ cần nghe tiếng giết đêm khuya.

            Bài kệ này nói lên việc giết hại động vật vào nữa đêm trong thế kỷ này, không làm con người chúng ta phản tỉnh sao?!

            Chính trị và pháp luật hoàn mỹ nhất nên bao gồm năm nhân tố sau đây:

            1. Nó không những nghĩ đến nhân loại, mà còn nghĩ đến sự hài hòa của toàn bộ thế giới tự nhiên và sự cân bằng của hệ thống sinh thái.

            2. Giải quyết vấn đề xã hội, nên chú ý đến nhân quả ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai, không nên chỉ nhìn trước mắt.

            3. Chú trọng ở cảm hóa và không có oán hận trả thù.

            4. Chú trọng ở giáo dục nhân cách và không có giày vò tâm lý.

            5. Chú trọng việc rèn luyện tâm linh và trí tuệ, chứ không phải chỉ phòng ngừa những hành vi bên ngoài.

            Bây giờ bút giả lược thuật những quan niệm pháp trị trong kinh Ðại Tát Già Ni Kiền Tử Thọ Ký như sau: Vị vua muốn hành nền chính trị nhân từ, nên từ bỏ tham ái, căm thù và vô tri (si mê), mà hãy từ bi, cần cù liêm chính để mưu cầu lợi ích cho toàn dân, phải nhìn xa trông rộng phán đoán tình hình thật và sự khác nhau về tính cách và sở thích của nhân dân mà đưa ra những phương pháp thích hợp để sửa chữa uốn nắn (đối trị) các loại hành vi phạm tội.

            Làm một người lãnh đạo nên thường quán sát phản tỉnh những sơ suất, những sai lầm của chính mình, tự mình tuân theo luật lệ, lấy mình làm gương, không tham lam tiền tài sắc đẹp và thường hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Tùy thời, tùy nơi, tùy vật, tùy người mà dùng phương pháp có hiệu quả để giúp nhân dân. Ông ấy mãi mãi không bức bách, không bóc lột và không quấy nhiễu những người nghèo khó; thậm chí đối với bọn trộm cướp, tội phạm giết người và những người phạm pháp cũng khởi từ bi tâm để quan tâm cảm hóa. Ông ấy không nên sợ hãi hoặc trốn tránh nguy hiểm mà phải dũng cảm bảo vệ chúng sanh. Ðối với người nghèo khó thì bố thí cơm áo, hướng dẫn họ những kỹ năng mưu sinh. Ðối với những người làm việc xấu ác thì dùng những đạo lý tốt đẹp để dạy họ, dùng hoàn cảnh thích hợp để hun đúc tính chất phẩm cách cho họ. (Phẩm Vương Luận kinh Tát Già Ni Kiền Tử Thọ Ký)

            Ông vua làm chính trị nhân từ không nên tùy tiện phá hoại (thiêu đốt hoặc dùng vòi rồng phun nước) thành ấp, tụ lạc, rừng núi, sông ngòi, vườn tượt, cung điện, lầu các, đường xá, cầu cống; không nên chặt phá, thiêu đốt, phá hoại, phun nước các loại như ngũ cốc, đậu, mè, lúa mạch, hoa quả, cỏ cây, tòng lâm. Vì sao? Vì phúc lợi của nhân loại phải xây dựng ở trên giới sinh vật hài hòa và hệ thống sinh thái cân bằng, mới duy trì được lâu dài. Phá hoại thiên nhiên, cuối cùng con người phải tự chuốc lấy hậu quả. Rừng núi, sông ngòi, đồng ruộng có rất nhiều động vật, vi sinh vật và quỷ thần đang sinh tồn ở đó. Chúng hoàn toàn không có lỗi lầm, do đó không nên tổn hại chúng để thọ dụng mà khiến cho chúng phải đau khổ. Có thể dùng lòng nhân từ để suy xét đến tất cả động vật, vi sinh vật và giới quỷ thần, mới có thể gọi là “viên mãn thiện hộ chúng sanh”.

            Người làm chính trị nhân từ nên có tám cách nghĩ đối với tất cả chúng sanh:

            1. Xem tất cả chúng sanh như con của mình.

                        a. Quan tâm đến chúng như cha mẹ quan tâm đến con cái của mình.

                        b. Thường mang tâm từ đối với tất cả chúng sanh.

            2. Xem tất cả chúng sanh làm việc xấu ác như những người bệnh.

                        a. Thương xót cho cảnh ngộ của chúng, thấy rõ những khó khăn mà chúng không vượt qua được.

                        b. Kiên nhẫn giáo hóa chúng để chúng sửa lỗi hướng thiện.

            3. Khởi đại từ bi tâm đối với tất cả chúng sanh đang chịu khổ.

                        a. Khi chúng gặp hoạn nạn khó khăn, có thể giúp đỡ chúng thoát khỏi khốn khổ đúng lúc kịp thời.

                        b. Thường hành bố thí, đem đến niềm vui và niềm an ủi đặt biệt.

            4. Khởi tâm hoan hỷ đối với những chúng sanh có cuộc sống ấm no hạnh phúc.

                        a. Không khởi lòng tham đắm đối với của cải.

                        b. Không ghen tỵ đố kỵ với những niềm vui và sự hưởng thọ của người khác.

            5. khởi lòng tha thứ những sai trái của chúng sanh oan gia.

                        a. Xem oan gia như bạn bè thân, như đồng bào.

                        b. Thường xả bỏ những nguyên nhân gây ra thù oán, hóa giải oán thù làm hòa với nhau.

            6. Khởi lòng che chở bảo vệ những bạn thân.

                        a. Thường bảo vệ tình hữu nghị được vững bền

                        b. Không sanh lòng sân hận oán giận với những sai sót của chúng.

            7. Có niềm vui đối với của cải vật chất.

                        a. Xem thực phẩm như các loại thuốc, không tham đắm đối với sắc đẹp và hương vị.

                        b. Có dục vọng nhưng không hành tà dâm.

            8. Sanh tâm vô ngã đối với bản thân của mình.

                        a. Lễ kính bậc hiền nhân, thường thỉnh giáo những bậc trí.

                        b. Nghe và tiếp nhận chân lý, như thuyết tu hành.

            Giả như một người lãnh đạo có thể làm được tám điều nói trên, ông ấy không cần truy cầu tiền tài vật chất, nhưng nhân dân tự nhiên sẽ hiến cho ông ấy những vật lạ quý hiếm, kho lẫm của chính phủ lúc nào cũng dồi dào đầy đủ. Trong nước không có phi pháp ác vương và quan lại ức hiếp bá tánh dân lành, thì đất nước có được thiên thời địa lợi nhân hòa, mưa hòa gió thuận, ngũ cốc được mùa, nhân dân ấm no, tất cả thiên tai dịch bệnh nguy hại đến cuộc sống của người dân như muỗi mồng, chim chuột, rắn độc, thú dữ… tự nhiên mất hẳn. Vì những thiên tai ôn dịch nói trên cũng là do nghiệp ác của chúng sanh chiêu cảm ra những quả báo đó. Người người đều không tạo nghiệp xấu ác, thì quả báo không tốt dần dần mất hết, tất cả phi nhân, ác tà ác quỷ không cách nào tìm đến một cách dễ dàng. Những người làm ác phạm pháp, chính họ đều bị quả báo, báo ứng, khổ não, loại giáo dục tự nhiên này sẽ khiến họ phản tỉnh sám hối tội lỗi và làm lại cuộc đời.

            Nếu như yêu thương bảo vệ chúng sanh và đất nước như vậy, thì không có phụ lòng với quốc dân. Tất cả quốc dân, tri thức Thánh nhân không có cách nào xoi mói bắt bẻ những lầm lỗi của quốc vương. Vị vua nhân từ này khi mạng chung sẽ sanh thiên, hưởng thọ lạc cảnh vi diệu. (Quyển 4 và 5 kinh Ðại Tát Già Ni Kiền Tử Thọ Ký)

            Tiếp theo chúng ta nói đến quan niệm pháp luật trong kinh:

            Vị vua thực hành nền chính trị nhân từ nên thực hiện pháp trị[35]. Khi nhân dân phát sinh hành vi làm việc xấu ác phạm pháp, vị vua ấy trước hết phải theo tâm từ bi, dùng trí tuệ quán sát chân tướng một cách rõ ràng, đồng thời suy nghĩ đến năm hạng mục sau đây, sau đó lại tiến hành trừng phạt:

            1. Dựa vào thực tế chứ không phải vô căn cứ - Khéo biết lỗi lầm của đối phương và dựa vào tình hình thực tế mà trị tội.

            2. Dựa vào thời cơ - Nắm bắt thời cơ trị tội.

            3. Dựa vào nghĩa chứ không phải bất nghĩa - Tha thứ, khoan dung những lỗi lầm vô tình, nhưng nghiêm trị những hành vi cố ý.

            4. Dựa vào lời nói nhu nhuyến, chứ không phải thô lỗ - Nhằm đúng vào hành vi sai trái, khéo dùng những lời nói khuyên bảo, không được phê bình nhân cách của người ấy, để không làm tổn thương đến lòng tự trọng của người ấy.

            5. Dựa vào lòng từ bi chứ không nên sân hận - Ðối với những hành động xấu ác nghiêm trọng, ngoài việc quở trách ra, có thể cân nhắc tình hình cho họ ngồi tù, hoặc mang gông đeo xiềng, tra hỏi, đánh vào mông, hoặc đem tài sản của họ sung công, hoặc đưa họ đến một nơi đặc biệt để giáo dục và huấn luyện họ. Nhưng những phương thức trên phải làm theo lòng từ bi và trí tuệ, vận dụng xem xét kỹ lưỡng mới có thể đạt được mục đích khiến cho họ sửa sai, sám hối làm lại cuộc đời.

            Những chúng sanh làm việc xấu ác, đại khái có thể chia ra làm năm loại:

            1. Chúng sanh đối với vua (hoặc lãnh đạo quốc gia) không có lợi ích, đại thể có 11 loại: (1) Chúng sanh phản nghịch, (2) Chúng sanh dạy người phản nghịch, (3) Chúng sanh hạ độc vua, (4) Chúng sanh cướp đoạt tiền tài của quốc gia, (5) Chúng sanh phá hoại việc làm của vua, (6) Chúng sanh cướp đoạt cung nữ thê thiếp của vua, (7) Chúng sanh phản lại lệnh của vua, (8) Chúng sanh nói ra những lời bí mật của vua, (9) Chúng sanh dòm ngó lãnh thổ quốc gia, (10) Chúng sanh mắng chửi vua, (11) Chúng sanh hủy báng bới móc vua.

            2. Chúng sanh không có lợi ích đối với quốc kế dân sinh, đại khái có 10 loại: (1) Giết người, (2) Cướp của, (3) Tà dâm (gian dâm vợ của người khác), (4) Làm giả bằng chứng, (5) Dối gạt lừa bịp người khác, (6) Phá hoại quan hệ bạn bè của người khác (xúi giục ly gián, đâm bị thóc thọc bị gạo), (7) Ác khẩu mắng người, (8) Lường cân thay đấu, vào nhiều ra ít, (9) Hủy báng lẫn nhau, (10) Thiêu đốt tài sản của người khác.

            3. Chúng sanh phản nghịch: Chỉ những thần dân không phục tùng lệnh của vua.

            4. Chúng sanh tà hạnh: Tức chúng sanh không giữ thiện giới. Ví dụ như đồ tể, thợ săn hoặc ngược đãi với các loài động vật như heo, dê, chó, mèo, ngỗng, chim ưng, diều hâu; câu hoặc bắn cá, ba ba; chế các loại lưới văng bắt, hầm hố, tên độc, cướp đoạt mạng sống các loại cầm thú, tự mình phóng túng làm ác…

            5. Chúng sanh tà mạng: Chỉ những người tu tập lại ăn mặc những trang phục kỳ lạ, không giữ giới luật, hành vi quái dị, phát biểu lời lẽ sai trái… Và những tín đồ không tu hành đúng như pháp.

            Những hạng chúng sanh như trên, hạng chúng sanh phạm pháp thứ nhất (chúng sanh không lợi ích đối với vua) và nên cho ông ấy ngồi tù, hoặc đem ông ấy đến nơi đặc biệt để quản lý giáo dục, nhưng không được lợi dụng chức quyền đối xử bất nhân với ông ấy.

            Ðối với chúng sanh phạm pháp thứ hai (chúng sanh vô ích đối với quốc kế dân sinh) cũng có thể cho ông ấy đi ngồi tù, hoặc đem ông ấy đến nơi đặc biệt để quản lý giáo dục, nhưng không được lợi dụng chức quyền đối xử bất nhân với ông ấy..

            Ðối với chúng sanh phạm pháp thứ ba (Chúng sanh phản nghịch), trước hết nên dùng những lời hay ý đẹp khuyên bảo, nói những lý lẽ cho ông ấy nghe, nếu như ông ấy biết lỗi sửa sai, thì có thể tha cho tội nặng của ông ấy. Ngược lại nếu như đối phương không hối cải, thì đưa ông ấy đến nơi đặc biệt để giáo huấn.

            Ðối với hạng chúng sanh thứ tư (chúng sanh tà hạnh), chỉ dùng lời khuyên hoặc trách cứ: Nếu lần sau còn làm như vậy sẽ bị nghiêm trị, đồng thời đưa đi đến nơi quản huấn.

            Ðối với hạng chúng sanh thứ năm (chúng sanh tà mạng), chỉ có thể quở trách la rày, bài trừ hoặc đưa đến nơi giáo dục đặc biệt.

            Vì những bậc lãnh đạo thực hành nền chính trị nhân từ, có thể cảm hóa và giáo dục tất cả chúng sanh tà ác, cho nên họ đối với năm hạng chúng sanh phạm pháp nói trên không có dùng hình phạt tử hình, cũng không có cắt những bộ phận trên thân như tai, mắt, lưỡi, mũi, tay hoặc các bộ phận khác trên thân của phạm nhân. Vì dùng phương thức sát thương sẽ tạo thành khổ quả đời đời kiếp kiếp oan oan tương báo vô cùng vô biên. Người bị giết lúc thọ hình hoặc lúc sắp chết, thường khởi lên lòng oán hận, dẫn đến sau khi chết thọ sanh vào ác đạo báo thù trở lại, cứ tuần hoàn mãi không dứt. Lại nữa, thân thể bị tàn phế rồi, đời này cũng khó hồi phục nguyên vẹn trở lại. Dù người ấy có sám hối sửa lỗi, khuyết tật trên cơ thể sẽ gây nên khổ não và lo lắng trong lòng người ấy, cho nên những bậc hiền nhân trị thế không dùng những hình phạt tàn khốc như tử hình, cắt thịt, cắt mũi… Nhưng nếu như, vì cứu nhiều người mà giết đi một người cực ác hoặc người hoàn toàn không có thiện căn, thì không phạm giới sát. Vì giết người ấy là vì cứu nhiều người, vì lợi ích nhiều người. Nhưng nếu như đối phương có chút thiện căn, thì nên nỗ lực cảm hóa ông ấy, mà không nên khinh suất giết hại ông ấy.

            Còn về những tham quan ô lại lấy danh nghĩa công để mưu lợi tư, không lo cho nước không lo cho dân, cho đến những người lấn trên hiếp dưới nguy hại lợi ích chung đều là giặc nguy hiểm độc ác nhất của quốc gia. Những người này nên nghiêm trị tội trạng thượng phẩm tội cướp đoạt (hạng chúng sanh phạm pháp thứ hai).

            Những người vong ân bội nghĩa, chỉ lo cho vợ, không nghe lời khuyên của cha mẹ, hoặc chỉ lo che chở cho vợ, quở trách cha mẹ, hoặc trộm tiền của của cha mẹ, cho riêng vợ con sung sướng thọ hưởng, bất hiếu bức bách cha mẹ, cũng nên nghiêm trị tội trung thượng phẩm tội cướp đoạt.

II. NỘI DUNG GIÁO DỤC, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC VÀ ÐIỂM XUẤT PHÁT HOÀN THIỆN

1. NỘI DUNG GIÁO DỤC HOÀN THIỆN

     Theo kinh điển: Ðức Phật thuyết pháp rất khế cơ. Trong mỗi lời nói của Phật hàm chứa nghĩa lý và ý thú vô hạn, khiến cho người nghe sau khi nhớ lại thú vị vô cùng, không bao giờ thấy chán. Giáo pháp thuần túy mà Phật nói là kết tinh của chân thiện mỹ. Giáo pháp Phật nói có thể thích hợp với thời gian vô tận và không gian vô cùng, đồng thời có ích đối với bất kỳ loài sinh vật nào; chứ không phải chỉ thích hợp ở một khoảng thời gian nào đó hoặc chỉ hữu dụng đối với một số loài sinh vật, lại có hại đối với những sinh vật khác. Cho nên trong kinh gọi những đạo lý Phật nói là “pháp thuần thiện” (tức chân lý hoàn mỹ)[36]

            “Lời Phật nói mỗi câu đều hay, chân thật và có lợi ích rất lớn đối với chúng sanh. Ðạo lý Phật nói có sâu có cạn. Khi Ðức Phật giảng đến chân lý viên đốn cứu cánh, thì tỏ ra thâm áo vô cùng; nhưng khi giảng đến những thí dụ tùy thuận thế tục thì đơn giản dễ hiểu. Dù Phật lập lại, nhắc lại một sự vật nào đó, mỗi lần đều có ý nghĩa và diệu dụng khác nhau, cho nên không có bất kỳ sai sót nào” (quyển 22 luận Ðại Trí Ðộ)

            “Lời Phật thuyết từ đầu đến đuôi đều là ý nghĩa xâu xa, thú vị, hay vô cùng. Lời của Phật không có chỗ nào không hay hoặc không thỏa đáng. Phật luôn tùy theo tư chất và cá tính của đệ tử mà thuyết giảng những pháp môn khác nhau. Ví dụ, đối với những đệ tử muốn độc thiện kỳ thân, thì Phật dạy cho phương pháp giải thoát sanh lão bệnh tử. Ðối với những đệ tử tự tu tự ngộ, Phật thuyết giảng làm thế nào vận dụng tâm trí của mình để quán sát quy luật nhân quả của sự vật. Ðối với những đệ tử thích giúp đỡ người khác, thì Phật thuyết giảng chân lý từ bi với chúng sanh, giúp cho đệ tử thành tựu trí tuệ viên mãn.” (Xem thêm phẩm Danh Tự Công Ðức kinh Niết Bàn và quyển 1 kinh Diệu Pháp Liên Hoa)

            Cho nên, phẩm Tam Thiện trong Thành Thật Luận nói, kinh điển Phật thuyết có đầy đủ “thất thiện” (bảy điều thiện):

            1. Thiện về thời: Từ đầu đến đuôi đều rất hay, ý thú phong phú.

            2. Thiện về nghĩa: Pháp của Phật nói có thể giúp cho con người đạt được lợi ích đời hiện tại, đời tương lai và cả lợi ích xuất thế.

            3. Thiện về ngữ: Tùy phương tiện mà diễn thuyết chánh nghĩa.

            4. Thiện về pháp riêng biệt: Ngoài chư Phật ra, những bậc Thánh giả triết học khác không cách nào giảng thuyết đạo lý thâm diệu này.

            5. Thiện về cụ túc (đầy đủ): Trong một bài kinh, một bài kệ cũng đầy đủ tất cả các pháp.

            6. Thiện về thanh tịnh điều nhu: Câu cú hay đẹp hoàn thiện không khiếm khuyết.

            7. Thiện về phạm hạnh: Giáo pháp của Phật có thể giúp con người thẳng đến niết bàn.

2. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HOÀN THIỆN

            Theo kinh Phật, Ðức Phật không những dùng những phương pháp thích hợp khác nhau để giáo dục đệ tử, mà khi Phật nói một giáo pháp nào đó, Ngài đều khiến mỗi một vị đệ tử trong buổi thuyết giảng, tùy theo sở thích và nhu cầu của mình mà lãnh thọ những đạo lý khác nhau. Ví dụ, những đệ tử muốn lợi mình lợi người sẽ nghe được giáo lý đại thừa. Những đệ tử thích tu tập một mình sẽ cảm nhận được đạo lý tiểu thừa. Ðiều này trong kinh gọi là “đồng thính dị văn” và “nhất âm viên giải”.

            Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa miêu tả, đạo lý Ðức Phật nói và phương pháp giáo dục Ðức Phật áp dụng vô cùng vi diệu. Phật khéo dùng vô số thí dụ và phương thức để giúp cho đối phương hiểu rõ tất cả đạo lý thâm sâu. Phật giáo dục đúng đối tượng (nhân tài thí giáo), vì vậy mỗi mỗi đệ tử đều hoan hỷ an lạc khi tiếp nhận được sự giáo hóa của Phật[37].

            Ðức Phật không những khéo vận dụng các phương thức hay, nhẹ nhàng để khích lệ cổ vũ đệ tử, mà còn lúc cần thiết, Ngài cũng tỏ ra rất uy nghiêm, tha thiết dùng lời nói nghiêm khắc và phương thức la rày để giáo dục đối phương. Nhưng dù Phật dùng phương pháp khen thưởng hay la rày hoặc những phương thức giáo dục khác, hiệu quả giáo dục của Ngài rất là tốt. Mà Phật cũng luôn giữ được trạng thái tâm luôn định tĩnh, khoan thai, từ bi. Mỗi phương thức giáo dục Phật áp dụng đều rất hoàn thiện tốt đẹp, khéo léo đúng lúc hợp thời[38].

            Những kỹ xảo Ðức Phật giáo dục đệ tử thật là cao siêu. Phật có thể khiến cho đối phương sau khi nghe một thời pháp xong, dẫn dắt người ấy truy cầu chân lý và tâm nguyện từ bi với chúng sanh hoặc khiến cho đối phương nỗ lực làm các việc tốt việc lành như uống nước cam lồ vậy. Có khi lại khiến cho đối phương sau khi nghe pháp xong cảm thấy sởn tóc gáy, lưng đẫm mồ hôi, từ đó tự sửa lỗi lầm làm lại cuộc đời, trừ bỏ tất cả tập khí và tham dục trước đây. (Xem thêm quyển 22 luận Ðại Trí Ðộ)

3. XUẤT PHÁT ÐIỂM GIÁO DỤC HOÀN MỸ

            Phẩm Phật Quốc kinh Duy Ma nói rằng: “Dùng diệu pháp này để cứu tế chúng sanh”. Quyển 2 của Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Sớ: “Thánh nhân thuyết giáo chỉ vì chúng sanh”. Từ trong hai câu này, chúng ta có thể thấy được xuất phát điểm giáo dục của Ðức Phật thuần túy là làm cho thế giới hiền lành và làm cho cuộc đời tốt đẹp.

            Vì sao Ðức Phật muốn nói pháp để lợi ích cho chúng sanh? Ngài không phải vì danh lợi, không phải vì cúng dường hoặc không phải vì tự đề cao… mà là vì sau khi đắc đạo, Phật phát hiện tất cả chúng sanh đều có tiềm năng và Phật tánh bình đẳng, do bị vô minh và tham dục che lấp cho nên Phật lập nguyện, hoằng nguyện từ bi giáo hóa chúng sanh[39].

            “Ngày đản sanh của Ðức Phật thực sự quá đặc biệt và kỳ lạ, vì Đức Phật khiến cho tất cả chúng sanh thật sự đạt được lợi ích” (quyển 8 kinh Hiền Ngu)

            “Ðức Phật vì độ chúng sanh ra khỏi biển khổ sanh, già, bệnh, chết cho nên Ngài diễn thuyết pháp môn vi diệu nhất. Vì đoạn trừ phiền não và vô minh của chúng sanh, cho nên Ngài làm sự nghiệp lớn về giáo dục” (quyển 4 kinh Ðại Bát Niết Bàn)

            “Ðức Phật biết mỗi một chúng sanh đều có trí tuệ tiềm tàng vô cùng, nhưng lại bị tham chấp sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp ngăn che, vì vậy Phật phát tâm giáo hóa chúng” (Bí Tạng Ký)

            “Ðức Phật dạy chúng sanh giải thoát những trói buộc hiện thực, đạt được Thánh quả và niềm vui xuất thế, đây là một việc bất khả tư nghì!” (quyển 1 kinh Kim Cang Tam Muội)

III. ÐỐI TƯỢNG GIÁO DỤC PHỔ BIẾN

     Ðức Phật có một điểm lớn khác biệt với những nhà giáo dục khác chính là: Ðức Phật giáo hóa tất cả động vật, nhưng đối tượng giáo dục của những nhà giáo dục khác chỉ giới hạn ở con người hoặc chỉ một số rất ít động vật.

            Theo kinh Phật, đối tượng mà Ðức Phật giáo hóa bao gồm các loài động vật trong không gian vô tận. Ðây là vì Ðức Phật tinh thông tất cả ngôn ngữ của động vật. Không những trong khoảng sát na thời gian có thể đạt đến những thế giới mấy triệu năm ánh sáng để giáo hóa chúng sanh, mà còn ở trong cùng một thời gian có thể phân ra vô lượng thân ở các thế giới khác nhau, vận dụng các phương thức khác nhau để giáo dục chúng sanh. (Xem thêm quyển 10 Duy Thức Luận)[40].

            Chính vì Ðức Phật có tài năng này, do đó chúng ta đọc kinh Phật thường thường có thể thấy được sự tích Ðức Phật giáo hóa các động vật. Ví dụ như trong Ngũ Phần Luật quyển 15, kinh Nhân Quả quyển 3, kinh Thụy Ứng Bổn Khởi quyển hạ, kinh Tu Hành Bổn Khởi quyển hạ, kinh Trung Bổn Khởi quyển thượng, kinh Phương Quảng Ðại Trang Nghiêm quyển 10, kinh Phật Bổn Hạnh Tập quyển 32, đều nói về sự tích Ðức Phật giáo hóa thương nhân. Trong kinh Diệt Thập Phương Minh có câu chuyện Ðức Phật giáo hóa Diện Thiện Duyệt đồng tử. Trong phẩm Thí Dụ của kinh Diệu Pháp Liên Hoa miêu tả Ðức Phật giáo hóa chúng sanh ở địa ngục, giống như niềm vui đi dạo ở công viên vậy. Những đối tượng được giáo dục khác của Phật như: Quốc vương, đại thần, bá quan văn võ, sĩ, nông, công, binh, bọn cướp, kỹ nữ, tội phạm bị truy nã, thần tiên, thiên chủ, chim nhạn, voi, rắn độc v.v… tất cả đối tượng đã có đủ cả rồi.

            Ở đây bút giả chỉ nói về sự tích Phật giáo hóa kỹ nữ và đạo tặc, trích dịch như sau:

            Kinh Luật Dị Tướng ghi rằng, có 500 tên cướp, cướp đoạt tài sản của bá tánh. Quốc vương nước Xá Vệ ra lệnh binh sĩ truy bắt nhóm đạo tặc này. Kết quả 500 tên cướp này đều bị bắt. Quốc vương muốn giết hết những tên cướp này, những tên cướp này vì sợ hãi mà kêu gọi Ðức Phật. Phật bảo A-nan đến thưa với quốc vương như thế này: “Ngài là chủ của một nước, phải thương yêu dân như con, vì sao cùng một lúc mà giết 500 người vậy?” A-nan đến cung vua và chuyển những lời của Phật đến quốc vương, đồng thời nói với quốc vương rằng: “Giết một người, tội đã rất nặng rồi, sao Ngài cùng lúc mà giết 500 mạng người!” Quốc vương nói: “Nếu như Ðức Phật có thể khiến những người này không làm cướp nữa, ta sẽ thả họ!” A-Nan đi đến chỗ Phật kể cho Phật nghe rõ việc này. Ðức Phật bèn đến cung vua và giảng về bố thí, trì giới, nhân quả, nghiệp báo cho 500 tên cướp kia nghe. Những người này sau đó đều sám hối hướng thiện, trở thành đệ tử của Phật.

            Trong kinh Quán Phật Tam Muội ghi rằng: Trong thành Xá Vệ có rất nhiều kỹ nữ, thường thường họ trang điểm rất đẹp để quyến rũ nam giới. Phàm những người khách muốn cùng qua đêm với họ, nhất định phải trả 200 đồng tiền vàng (tiền thời ấy). Lúc đó có một vị đại thần rất giàu có tên là Như Lư Ðạt. Ông ấy có ba người con trai đều ăn chơi vô độ, thường đi đến những kỹ viện để vui đùa với các cô gái ấy. Ngày tháng lâu dần, tài sản của vị đại thần kia không mấy chốc tiêu xài hết. Lúc ấy Như Lư Ðạt đến chỗ vua kiện rằng: “Những cô gái kỹ nữ kia mê hoặc những con trai của tôi, khiến nhà tôi sắp đến bờ vực phá sản. Mong Bệ hạ đem những cô ấy giết hết, để giải hận trong lòng của thần!”. Quốc vương bảo vị đại thần kia rằng: “Ta đã thọ giới luật của Phật rồi, bây giờ ngay con kiến ta cũng đều không giết hại, hà huống gì giết người! Nghe nói Ðức Phật chỉ có giáo dục chứ không có phân biệt thứ loài, mà đối với bất cứ người nào Phật cũng đều có biện pháp, chúng ta có thể cùng đi thỉnh giáo Ngài vậy”. Thế là vua và vị đại thần đều đến bái kiến Ðức Phật, cầu thỉnh Ðức Phật giáo hóa những kỹ nữ kia. Lúc ấy Ðức Phật mời quốc vương tập hợp những kỹ nữ, đồ tể, bá tánh ở quảng trường, sau đó Phật cùng với 1250 vị đại đệ tử nhập thiền định, thị hiện thần thông đến giáo hóa chúng sanh ở quảng trường. Sau khi tiếp nhận lời dạy của Phật, những kỹ nữ đều phát tâm từ nay về sau không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu.

            Kinh Quá Ðộ Nhân Ðạo và Long Thơ Tịnh Ðộ quyển 2 nói rằng: Ðối với các côn trùng nhỏ nhít, các côn trùng biết bay và cả những vi khuẩn Ðức Phật cũng đều tận tâm giáo hóa, hà huống gì con người!

            Ðức Phật tích cực quan tâm đến tất cả sinh vật, Ngài là một nhà đại giáo dục chân chính làm được “hữu giáo vô loại”. Từ trong lịch sử chúng ta có thể thấy rằng: Ðối với tất cả chúng sanh Ðức Phật đều đối đãi như nhau. Ngài không những không từ chối lời thỉnh cầu của mọi người mà còn chủ động giáo hóa tất cả chúng sanh, chưa bao giờ Ngài bỏ lỡ cơ hội giáo dục. Trong kinh có hai câu nói của Ðức phật đối với đệ tử, rất có thể biểu đạt tính phổ biến của Phật, giáo dục đối tượng[41].

            “Tất cả chúng sanh khác nhau về chủng loại, dù là noãn sanh, thai sanh, thấp sanh hay hóa sanh; dù là chúng sanh hữu hình hay vô hình; chúng sanh có tưởng hoặc không có tư tưởng, Ta đều cần giáo hóa triệt để, phát triển tiềm năng lớn nhất của chúng, khiến cho chúng đạt được trí tuệ viên mãn, có cuộc sống hạnh phúc an lạc, liễu thoát những thống khổ của sanh, già, bệnh, chết.” (Phần Chánh Tông Ðại Thừa thứ ba của kinh Kim Cang)

            “Ðức Phật vì chúng sanh ở mười phương mà diễn thuyết đạo lý vi diệu nhiệm mầu.” (Kinh Vô Lượng Thọ quyển hạ)

            Vì sao Ðức Phật dùng tâm bình đẳng giáo hóa tất cả chúng sanh? Như trong kinh Phật nói, vì Phật đã phá trừ triệt để chấp ngã, tự tư, ích kỷ, đồng thời chứng đắc được bản thể bình đẳng của các pháp, cho nên đối với tất cả chúng sanh Ngài từ bi bình đẳng rũ lòng bảo hộ, không có kỳ thị oán thân, quý tiện. Trong kinh Phật Ðịa và kinh Tâm Ðịa Quán quyển 2, gọi khả năng đặc biệt này của Phật là “Bình đẳng tánh trí”. Và theo sự giải thích của Phật Trí Luận, bình đẳng tánh trí là: “Do phá trừ được giới hạn của nhân ngã và ngoại cảnh mà phát sinh ra trí tuệ. Trong cảnh giới này có thể phát ra tâm từ bi mãi mãi, mà còn tùy theo nhu cầu và sở thích của chúng sanh, thị hiện ra các hình tướng khác nhau để giáo hóa chúng”. (Quyển 3 Phật Trí Luận)

            Nói tóm lại, pháp thân của Ðức Phật (bản thể) thì không nơi nào mà không có, Ngài có thể tùy duyên thị hiện báo thân và vô lượng hóa thân (hiện tượng) để giáo háo những chúng sanh có thiện căn thành thục hoặc chúng sanh có duyên (tác dụng). Ví dụ như nước ở biển có thể tùy duyên thị hiện ra các hiện tượng như sóng, núi băng, hơi nước… và còn sinh ra rất nhiều tác dụng khác. Trong kinh Phật nói: trong một sát na, Ðức Phật có thể giáo hóa chúng sanh nhiều không thể kể xiết. Trong một ngày, số chúng sanh mà Phật giáo hóa còn nhiều hơn trăm nghìn vạn ức triệu lần… so với số chúng sanh giáo hóa trong một tỷ năm ở cõi người và cõi trời, cho đến con số rất nhiều không thể tính đếm được. Nếu độc giả muốn hiểu thêm điều này, mời quý vị đọc thêm kinh Hoa Nghiêm và luận Ðại Trí Ðộ.

IV. MỤC TIÊU GIÁO DỤC CAO THƯỢNG

     Kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Phương Tiện nói rằng: “Chư Phật vì một đại sự đặc biệt mới xuất hiện ở đời”. Cái gọi là “một đại sự đặc biệt” chính là vì giúp cho chúng sanh đoạn trừ phiền não, liễu thoát tất cả sanh tử và đạt được tất cả trí tuệ. Ðây là chỗ độc đáo nhất về mục tiêu giáo dục của Ðức Phật, hoàn toàn không có một nhà giáo dục hay triết nhân nào trong lịch sử làm được. Vì, theo luận Ðại Trí Ðộ quyển 27 nói rằng: Duy chỉ có Phật mới hiểu biết triệt để về tổng tướng và biệt tướng của tất cả sự vật trong vũ trụ, những Thánh giả khác (như Bồ tát và A la hán) chỉ có thể hiểu biết sự vật cục bộ và tổng quan của sự vật. Do đó trong kinh Phật nói rằng:[42]

            “Như Lai xuất hiện ở đời là vì giúp cho chúng sanh thành tựu trí huệ cao nhất” (kinh Pháp Hoa phẩm Phương Tiện)

            “Như Lai là bậc nhất thiết trí, là bậc nhất thiết kiến, là bậc khai đạo, thuyết đạo, là bậc dùng trí tuệ để độ chúng sanh” (kinh Pháp Hoa phẩm Dược Thảo Dụ)

            “Mục tiêu giáo dục của Phật là muốn giúp cho tất cả chúng sanh đều đạt được trí tuệ chân chánh và tri thức cuộc sống an lạc” (Ðại Nhật Kinh Sớ quyển 9)

            “Phật giáo hóa chúng sanh là vì gợi mở bảo tàng tâm linh vô cùng của chúng sanh” (kinh Tâm Ðịa Quán quyển 2)

            Chúng ta nên nói rõ rằng: kinh Pháp Hoa lấy việc giúp cho tất cả chúng sanh hiển hiện Phật tri kiến làm mục tiêu giáo dục của Phật. Kinh Niết Bàn lấy việc giúp tất cả chúng sanh minh tâm kiến tánh làm mục tiêu giáo dục. Kinh Xưng Tán Tịnh Ðộ lấy việc giúp tất cả chúng sanh được lợi ích an lạc làm mục tiêu giáo dục. Kinh Duy Ma Cật và kinh Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn lấy bất khả tư nghì làm mục tiêu giáo dục. Kinh Hoa Nghiêm lấy Pháp giới làm mục tiêu giáo dục. Kinh Nhân Vương và kinh Bát Nhã lấy việc thành Phật đạo làm mục tiêu giáo dục. Danh xưng của mục tiêu giáo dục trong những kinh này tuy không giống nhau, nhưng kỳ thật, nghĩa lại giống nhau. (Xem thêm Thiên Thai Nhân Vương kinh sớ quyển thượng)

            Chúng ta nên chú ý rằng: Trí tuệ trong kinh Phật nói và trí tuệ của người bình thường nói hoàn toàn không giống nhau. Trí tuệ của người bình thường thì luôn mang theo phiền não, có phân biệt chấp trước, không hoàn mỹ, không thuần thiện, còn lo lắng bất an, không cứu cánh, không viên mãn. Nhưng trí tuệ mà Ðức Phật hướng dẫn cho chúng sanh đạt được là cứu cánh, viên mãn, hoàn mỹ, thuần thiện và không có chen lẫn bất cứ phiền não, chấp trước và tâm lý lo lắng nào.

V. NỘI DUNG GIÁO DỤC THỰC DỤNG VÀ NGHIỆM CHỨNG

            Ðiểm khác nhau lớn nhất giữa học Phật và nghiên cứu những môn học khác của thế gian chính là tự bản thân mình nghiệm chứng được “kết quả”. Nghiên cứu tất cả các môn học của thế gian như: Văn học, số học, khoa học, y học, nghệ thuật, tâm lý học, âm nhạc, điêu khắc, pháp luật, kế toán, thống kê v.v… mãi mãi không bao giờ, không có cách nào đoạn trừ phiền não một cách triệt để. Những môn học ấy ngoài việc mang lại danh lợi cho con người ở kiếp này ra, đối với các vấn đề lớn như sanh, lão, bệnh, tử… thì lợi ích không bao nhiêu. Chúng ta có thể thấy được rất nhiều nhà tâm lý học, văn học hoặc nhà nghệ thuật rất nổi tiếng đã bỏ ra tinh lực của cả một đời để nỗ lực làm sự nghiệp của chính mình, đến lúc lâm chung lại cảm thấy mù mịt xa vời, đối với con đường phía trước không nắm bắt được gì, mà còn không có cách nào mang theo tất cả của cải và danh lợi của chính mình… Học Phật thì không như vậy, học Phật có thể giúp cho cuộc sống trong đời hiện tại được khỏe mạnh, hạnh phúc, an lạc. Nếu dùng tâm học Phật, thực hành từng bước theo phương pháp trong kinh Phật đã dạy, thực hành đến nơi đến chốn, nhất định sẽ có được đáp án và niềm tin như ý đối với các vấn đề sanh, già, bệnh, chết…

            Cho nên luận Ðại Trí Ðộ nói:[43]

            “Nếu mọi người làm theo lời của Phật dạy, từng bước tu hành, tất nhiên sẽ đạt được quả báo tốt đẹp. Tuy nhiên, không nhất định mỗi người trong cuộc sống hiện tại đều có thể đoạn trừ phiền não, chứng đắc thánh quả. Ít nhất, ngay cuộc sống hiện tại, những phiền não giảm đi rất nhiều và đạt được thân tâm an lạc nhẹ nhàng. Cũng như người bệnh uống thuốc theo lời hướng dẫn của bác sĩ thì bệnh sẽ thuyên giảm và sẽ hết bệnh. Giả như không làm theo giáo pháp của Phật, không nương vào thứ lớp tu hành, phá giới, lại loạn tâm, cuối cùng không đạt được kết quả gì. Ðây hoàn toàn không phải là giáo pháp của Phật không hay! Vả lại, những người ngay trong đời này không đạt được cảnh giới cao nhất bất sanh bất diệt, đời sau cũng sẽ nhận được phước báo và an lạc. Trong đời sau, những người ấy tiếp tục tu tập, cuối cùng cũng có một ngày sẽ thành tựu trí tuệ cao nhất.” (Dịch từ luận Ðại Trí Ðộ quyển 22)

            “Giữ gìn giới luật thanh tịnh, trong lòng sẽ không có ăn năn hối hận. Tâm không có ăn năn hối hận, sẽ tràn đầy niềm vui chân lý. Ðạt được niềm vui chân lý, thân tâm sẽ an lạc. Thân tâm an lạc không dễ phát sinh phiền não. Sau khi phiền não giảm đi, thì càng không có hiện tượng tâm viên ý mã. Không có tâm viên ý mã thì dễ dàng giữ được bình tĩnh. Tâm bình tĩnh thì dễ dàng hiểu biết tất cả hiện tượng một cách chính xác. Có thể hiểu biết tất cả chân tướng một cách chính xác, thì càng dễ dàng xa lìa các dục niệm tham, sân, si. Xa lìa được những dục niệm tham, sân, si thì có thể giải quyết được sự đau khổ của sanh, già, bệnh, chết. Giải thoát được nỗi khổ của sanh, già, bệnh, chết thì có thể đạt được cảnh giới bất sanh bất diệt. Ðạt được cảnh giới này mới có thể hưởng thọ niềm vui lớn nhất.” (Dịch từ luận Ðai Trí Ðộ quyển 22)

            Vì phương pháp theo đuổi hướng ngoại và qua đ

ó tư duy phân biệt, những tri thức có được sẽ mang đến phiền não và không đầy đủ. Cho nên kinh Lăng Nghiêm nói rằng: “Chấp trước vào tư duy, tình cảm và ý thức phân biệt đều che lấp trí tuệ của tâm linh. Giả như con người xả bỏ được chấp trước về tư duy, tình cảm và ý thức phân biệt, lập tức phát sinh tri giác kỳ diệu và trí tuệ viên mãn.”[44].

            Vì vậy, trong kinh Thập Báo Pháp, Ðức Phật luôn khuyên khích đệ tử nỗ lực nội chứng lý minh tâm kiến tánh, tự mình thể nghiệm Phật pháp, chớ đừng hoài nghi bất định.

            Trong kinh Tạp Bảo Tạng còn cử rất nhiều thí dụ chứng minh để nói rõ: Tinh thông Phật pháp, tế độ chúng sanh không hạn lượng. Dù tán tâm nghe một bài kệ, nữa câu kinh, hoặc tùy ý đọc được một chút Phật lý cũng đều có được quả báo tốt. Hà huống gì hết lòng chân thành cầu đạo, làm sao có chuyện không chứng Thánh quả!

            Trong kinh Tập Nhất Thiết Phúc Ðức Tam Muội cũng đặc biệt nhấn mạnh: Nếu mọi người cung kính truy cầu chân lý, thực hành pháp Phật, Phật đối với họ không những không nhập Niết bàn, mà Phật pháp sẽ mãi mãi trường tồn. Tuy họ không cùng thời gian và không gian với Phật, nhưng chính mình luôn luôn có thể nhìn thấy dung nhan của Phật, chính mình nghe được chân lý mà các bậc Thánh giả tuyên thuyết. Ðiều này thật kỳ diệu biết bao!

            Phật pháp không khoe khoang huyễn hoặc. Phật pháp không những có thể hoàn toàn nghiệm chứng, mà còn mỗi khi vừa đưa ra lý tưởng hoặc trạng thái (cảnh giới) nào đó, thì phương pháp cụ thể để đạt được lý tưởng và cảnh giới đó được bày ra một cách thứ tự rõ ràng: từng bước, quá trình, chướng ngại, nguyên lý nguyên tắc, đặc trưng nội tại, điều kiện bên ngoài v.v… Ðiều này tiện lợi, rõ ràng giống như bạn đi mỗi đoạn đường, đều có phương tiện chỉ dẫn, dẫn dắt bạn và không bị thất lạc phương hướng. Ví dụ như trong kinh Hoa Nghiêm nói rõ 41 giai đoạn thành tựu trí tuệ cao nhất, đặc trưng, điều kiện, phương pháp, chướng ngại… của từng giai đoạn đều nói rõ một cách tường tận. Chỉ cần chúng ta so sánh tình trạng tâm trí, ngôn hạnh của chính mình với từng giai đoạn kinh điển đưa ra, chúng ta sẽ biết ngay chính mình tu hành đến cảnh giới nào, tâm trí đã phát triển đến trình độ nào. Ðây là điều hoàn toàn chính xác.

VI. NỘI DUNG GIÁO TÀI CHÂN THẬT

            Theo kinh Phật, Ðức Phật thấy rõ chân tướng cứu cánh của tất cả hiện tượng, đồng thời xưa nay Ðức Phật không có vọng ngữ:[45]

            “Ðức Phật quả thật là hóa thân của tất cả chân lý, lời của Ngài nói không có hư vọng.” (Kinh Pháp Hoa quyển 2)

            “Chỉ có Phật mới hiễu rõ triệt để tất cả sự vật và cứu cánh của hiện tượng.” (Kinh Pháp Hoa quyển 2)

            “Tất cả pháp môn tu hành của Như Lai lúc sơ phát tâm, đều tuân theo tâm trí thanh tịnh kỳ diệu, sau khi đoạn trừ tất cả vô minh, mới có thể thành tựu Phật đạo.” (Kinh Viên Giác)

            “Cảnh giới (trạng thái) mà chư Phật và Bồ tát thể nghiệm, thực chứng, đều là chân thật bất hư.” (Tứ Giáo Nghi quyển 1)

            “Cái gọi là chân lý cứu cánh, chính là viễn ly tất cả cảnh giới hư vọng… Mỗi bộ kinh Ðại thừa Phật thuyết, đều thể hiện chân lý cứu cánh này.” (Tam Tạng pháp số quyển 4)

            “Tất cả những lời Phật nói không có sai lầm và lệch lạc, dù cạn hay sâu, nhiều hay ít, thô hay tế… đều rất thực tế.” (Luận Ðại Trí Ðộ quyển 22)

            Ðức Phật vì để thích ứng với tập tính và tư chất bẩm sinh của chúng sanh khác nhau, cho nên Phật vận dụng các giáo tài, phương thức, phương tiện quyền nghi để giúp đối phương dần dần thấu hiểu chân lý chân thật. Nhưng điều kỳ diệu là: Ðạo lý chân thật và giáo tài quyền nghi lại không có mâu thuẫn với nhau[46].

            “Ðức Phật diễn thuyết rất nhiều pháp môn phương tiện, từng bước dẫn dắt chúng sanh hiểu rõ chân lý chân thật nhất, cứu cánh nhất.” (Pháp Hoa Văn Cú quyển 3)

            “Vì Phật thấu triệt tất cả hiện tượng, cho nên không có nói một cách tùy tiện. Vì những điều Phật nói hoàn toàn hợp lý cho nên không có bất kỳ thiên kiến nào. Phật tuy đã thuyết chân lý thành Thánh quả, lại thuyết chân lý của thế tục, nhưng cả hai không trái ngược nhau. Mà còn giúp cho đối phương được lợi ích.” (Luận Ðại Trí Ðộ quyển 22)

            “Lợi ích sinh vật có nguyên tắc nhất định, đồng thời có thể cứu độ chúng sanh ở thời cơ thích hợp, gọi là ‘phương tiện’.” (Pháp Hoa Huyền Tán quyển 3)

            Ðức Phật có thể tùy theo tư chất bẩm sinh, sở thích và tính cách cá nhân của đối tượng, khéo léo vận dụng phương thức, phương pháp để dạy văn nghĩa sâu cạn khác nhau.” (Gia Tường Pháp Hoa Nghĩa Sớ quyển 4)

VII. NỘI DUNG GIÁO DỤC CHÍNH XÁC

     Về tính chính xác của Phật pháp, chúng ta có thể thấy một phần từ khái niệm tinh tế về độ dài, thời gian và dung lượng trong Phật pháp:

            Trong kinh Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã ghi rằng: Trong một niệm có 90 sát na, trong một sát na có 900 lần sanh diệt (“cửu thập sát na vi nhất niệm, nhất niệm trung chi nhất sát na, kinh cửu bách sanh diệt”). Trong luật Ma Ha Tăng Kỳ quyển 17 ghi rằng: Một chốc lát có 20 cái do dự, một do dự có 20 cái khảy móng tay, một cái khảy móng tay có 20 cái nháy mắt, một nháy mắt có 20 niệm…

            Về phương diện độ dài, ví dụ như trong luận Câu Xá quyển 12 miêu tả rằng: Bảy con rận làm một quảng mạch, một quảng mạch là một tiết, 3 tiết là một chỉ, 24 chỉ là một khuỷu tay, 4 khuỷu tay là một cung, một cung có 7 thước 2 tấc (1 thước ngày xưa chỉ bằng 0,333 mét ngày nay)…

            Về phương diện dung lượng, ví dụ trong Câu Xá Luận quyển 12 nói: Vật chất có một đơn vị rất nhỏ gọi là cực vi, 7 cực vi bằng một vi trần, 7 vi trần là một hạt bụi vàng… Bụi vàng có thể xuyên qua khe hở giữa kim loại. Chúng ta thấy nhỏ biết mấy! Những gì Phật và Bồ tát thấy còn nhỏ hơn hạt bụi vàng.

            Vì có đo lường tinh tế như vậy, lại thêm Ðức Phật hiểu rõ các sự vật như chân tơ kẽ tóc, đồng thời Ngài nói lời chân thật, cho nên Ngài xây dựng một học thuyết có hệ thống hoàn bị và tinh xác tỉ mỉ.

            Trong kinh Ðại Tập miêu tả tường tận về sự tinh xác nội dung giáo dục của Phật. Và trong kinh có kết luận như sau: “Dù cho bể cạn đá mòn cũng không thể nói những lời của Phật là lệch lạc, vì những lời Phật nói đều là những lời chân lời thật và lời thuần thiện.” (Kinh Ðại Tập quyển 10)

VIII. PHƯƠNG PHÁP, GIÁO TÀI VÀ KHÓA TRÌNH MÔN HỌC VIÊN DUNG

1. NỘI DUNG GIÁO TÀI LIÊN QUÁN VÀ BIẾN HÓA

     Theo kinh Phật ghi rằng, chân lý Phật Thích Ca Mâu Ni đã thuyết và chân lý của tất cả Thánh giả mười phương quá khứ đã thuyết, hiện tại thuyết, tương lai thuyết đều ăn khớp với nhau (kinh Pháp Hoa quyển 3).

            Ðức Phật vì độ chúng sanh căn cơ trình độ không giống nhau, do đó từ chân lý tối thượng (kinh Phật gọi là “chân đế” và “đệ nhất nghĩa đế”) suy diễn các môn học tùy thuận theo thế tục (kinh Phật gọi là “tục đế” hoặc “thế đế”), nhưng hai chân lý này liên tiếp nhau, thông suốt nhau, không chống trái nhau[47].

            “Kinh điển Phật thuyết, có lúc miêu tả cảnh giới của Ngài chứng, có lúc thích ứng căn cơ và sở thích của đệ tử, có lúc đem cảnh giới Ngài chứng vận dụng phối hợp với tính hướng của chúng sanh.” (Kinh Niết Bàn quyển 35)

            “Chân lý cứu cánh rõ ràng, gọi là thật trí. Thông hiểu phương pháp giáo dục thích nghi tạm thời, gọi là phương tiện trí” (Ðại Thừa Nghĩa Chương quyển 19)

            “Cảnh giới của Phật không thể nghĩ bàn, Ngài có thể hiểu biết một sự vật từ mọi góc độ” (kinh Hoa Nghiêm quyển 2)

2. KHÓA TRÌNH GIÁO DỤC GIÀU TÍNH ÐÀN HỒI

     Cuộc đời Ðức Phật du hóa 49 năm, thuyết pháp hơn 360 hội. Trong Hoa Nghiêm Nhất Thừa Giáo Nghĩa phân Tề Chương quyển 1, chúng ta có thể thể hội được sự viên dung và hoàn mỹ về nội dung giáo dục của Phật. Ví dụ, đối với những đệ tử có lòng tham dục quá nặng, Phật dạy họ “quán bất tịnh”; đối với đệ tử có lòng sân hận oán thù căm ghét, Phật dạy họ “quán từ bi”; đối với đệ tử si mê tà kiến, Phật dạy họ “quán nhân duyên”; đối với đệ tử tâm ý tán loạn, Phật dạy “quán sổ tức”; đối với chúng sanh nghiệp chướng nặng nề, Phật dạy “quán niệm Phật”; đối với đệ tử chỉ lo tu dưỡng cho chính bản thân mình, thích tự học, tự cầu giải thoát, Phật dạy họ giáo pháp tiểu thừa giải thoát phiền não; đối với đệ tử căn cơ tiểu thừa bất định, Phật dẫn dắt họ dần dần thâm nhập diệu lý đại thừa, khuyến khích họ phát tâm giúp đỡ chúng sanh khác; đối với những đệ tử có căn cơ lanh lợi, Phật trực tiếp khai thị cho họ pháp môn đốn ngộ. Có lúc Phật thuyết giáo pháp ngũ thừa (Nhân thừa, Thiên thừa, Thinh Văn thừa, Bồ tát thừa, Phật thừa); có lúc Phật chỉ giảng diệu lý viên dung vô thượng. Nguyên nhân vì sao như vậy? Vì căn tánh của chúng sanh không giống nhau, do đó Như Lai khéo thuyết những giáo pháp không giống nhau, tùy căn cơ mà dạy, tức giáo dục đúng đối tượng (nhân tài thí giáo).

            Ðọc kinh Phật càng nhiều, chúng ta càng thấy rõ giáo pháp của Phật rất sâu sắc uyên bác và viên dung, đồng thời chúng ta cũng sẽ khâm phục trí sáng suốt nhìn thấu rõ được tất cả, biện tài và kỹ xảo dạy học của Phật. Khi mới bắt đầu có lẽ chúng ta khó chấp nhận những giáo pháp trong kinh điển, nhưng khi chúng ta có tuổi hoặc tuổi cao dần, kiến thức thu được qua sự từng trải nhiều rồi, chúng ta càng thấy rõ kiến giải chính xác và thấu triệt trong từng câu nói của Phật, diệu dụng của mỗi lời dạy không giống nhau.

            Ðức Phật rất giỏi về nhân tài thí giáo (giáo dụng đúng đối tượng hay tùy căn cơ của mỗi người mà thí giáo), dù Phật nói như thế nào cũng đều hợp thời, mỗi lần đều luôn đạt được hiệu quả giáo dục tốt đẹp. Phật thường tùy theo tính hướng của đối phương mà dạy những môn học và giáo tài khác nhau. Ví dụ:

            Tong kinh Trường A Hàm, Phật nói rõ thế gian có các hiện tượng nhân quả, để giúp cho chúng sanh hiểu rõ thực trạng khổ vui và thiện ác, tiến thêm hơn nữa là lìa khổ được vui, bỏ ác hướng thiện, chuyển mê khai ngộ, sống cuộc sống an lạc hạnh phúc khỏe mạnh.

            Tong kinh Bát Ðại Nhân Giác, Phật nói rằng “Vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều thay đổi không ngừng, sanh diệt vô thường” để phá trừ ngã chấp và quyến luyến của cải vật chất của mọi người.

            Trong kinh Tu Hành Từ Phần, Phật lại nói rõ “bản thể của tất cả sự vật là bất sanh bất diệt, bình đẳng và không phân biệt”, để đãng trừ tình chấp của chúng sanh, giúp chúng sanh hành thiện và không chấp trước tướng thiện.

            Trong kinh Giải Thâm Mật, Ðức Phật nói bản thể, hiện tượng và tác dụng của sự vật, để giúp đệ tử hiểu rõ tâm trí sâu xa huyền diệu.

            Trong kinh Ðại Bát Niết Bàn, Ðức Phật nói rõ chân lý “Phật tánh của con người là chân ngã bất sanh bất diệt, không ô nhiễm”, để khuyến khích đệ tử mở mang bảo tạng vô cùng và tiềm năng vĩ đại của chính mình.

            Bất luận Phật nói như thế nào, luôn tùy thời, tùy lúc, tùy nơi, tùy người, tùy vật, tùy việc mà thay đổi cho thích hợp. Phật khéo dùng các hoàn cảnh, nhân tố và cơ hội có lợi để giáo hóa chúng sanh. Cho nên kinh điển nói: Tám vạn bốn ngàn pháp môn mà Phật diễn thuyết đều có thể tiêu trừ bệnh tật về thân và tâm của chúng sanh. Những lời Ngài nói đều hợp tình hợp lý và không mâu thuẫn nhau.

            Do vậy, trong kinh Nhân Quả Quá Khứ Hiện Tại nói: Khóa trình giáo dục của Phật không những giàu tính đàn hồi, mà còn biểu hiện đầy đủ tri thức tinh túy nhất và tinh hoa khoa học:[48]

            “Phật có thể biết căn tánh nhanh chậm của mỗi vị đệ tử, đồng thời tùy theo bẩm chất và thói quen cá tính của chúng mà khuyên bảo, giúp chúng hiểu rõ yếu lĩnh của Phật pháp và then chốt tu hành, vì thế mỗi mỗi chúng đệ tử nỗ lực tinh tấn, giải thoát những nỗi khổ của sanh già bệnh chết.” (kinh Nhân Quả Quá Khứ Hiện Tại quyển 4)

            Trong Pháp Hoa Văn Cú miêu tả Ðức Phật có bốn nguyên tắc giáo hóa chúng sanh, giúp chúng sanh thấm nhuần lợi ích của pháp, bốn nguyên tắc này trong kinh gọi là “Tứ tất đàn”. Cái gọi là “Tất” nghĩa là phổ biến, rộng khắp. “Ðàn” nghĩa là bố thí. Bốn nguyên tắc bố thí lợi ích rộng khắp cho chúng sanh gọi là “Tứ tất đàn”.

            1. Thế giới tất đàn - Do căn cơ của chúng sanh nông cạn, cho nên Phật tùy theo sở thích thú vui mà giảng những lời thích hợp theo thứ tự, khiến cho họ sanh tâm hoan hỷ, đây gọi là “Thế giới tất đàn”.

            2. Vi nhân tất đàn - Trước khi thuyết pháp Ðức Phật quán sát căn cơ trình độ ưu liệt của chúng sanh và thiện căn sâu cạn, sau đó tùy căn cơ thuyết pháp khiến cho họ có đầy đủ tín tâm, thiện căn có thể sinh trưởng.

            3. Ðối trị tất đàn - Ðối với chúng sanh nhiều tham dục, Phật dạy họ quán sát sự vật bất tịnh như thế nào để đối trị lòng tham dục. Ðối với đệ tử lòng sân hận oán hờn tương đối nặng, Phật dạy họ bồi dưỡng tâm từ bi. Ðối với người si mê tà kiến, Phật dạy họ quán sát nhân quả của sự vật… Phật diễn thuyết tám vạn bốn ngàn pháp môn để đối trị tám vạn bốn ngàn phiền não của chúng sanh. Ðây là giáo pháp tùy bệnh cho thuốc, gọi là “đối trị tất đàn”.

            4. Ðệ nhất nghĩa tất đàn - Khi thiện căn của chúng sanh thành thục rồi, Phật bèn thuyết chân lý cứu cánh, giúp chúng ngộ nhập Thánh đạo, đây gọi là “Ðệ nhất nghĩa tất đàn”.

            Về nội dung giáo dục của Phật và sự viên dung của môn học, chúng ta có thể thấy trong “Ngũ thời” và “Bát giáo”. Cái gọi là “Ngũ thời”, chính là Trí Giả Ðại sư của Thiên Thai tông đem những giáo pháp của Phật đã thuyết trong một đời phân làm năm thời:

            1. Thời Hoa Nghiêm - Sau khi Ðức Phật mới thành đạo, vì hàng Bồ tát đại thừa căn khí đã thành thục mà thuyết kinh Hoa Nghiêm, Ngài thuyết giảng tất cả hiện tượng và bản thể của chân lý kỳ diệu thâm sâu nhất, viên dung vô ngại trong không gian vô cùng và thời gian vô tận, đồng thời Phật chỉ ra con đường ngắn nhất và lịch trình thành tựu trí tuệ cao nhất.

            2. Thời A Hàm - Ðức Phật vì tiếp dẫn chúng sanh căn cơ tiểu thừa mà diễn thuyết bốn kinh A Hàm, nói rõ phương pháp giải thoát phiền não và quy luật nhân quả sanh diệt, để đoạn trừ “kiến hoặc” (tâm phân biệt đối với pháp trần) và “tư hoặc” (tâm yêu ghét đối với ngũ trần sắc, thinh, hương, vị, và xúc) của chúng sanh.

            3. Thời Phương Ðẳng - Do hàng tiểu thừa nghe Thánh pháp tiểu thừa ở thời A Hàm được chứng đắc được chút ít và cho là đủ, cho nên Ðức Phật lại thuyết kinh điển đại thừa như kinh Duy Ma Cật và kinh Lăng Già, tán dương Bồ tát đạo, giúp cho họ xả bỏ chấp trước tiểu thừa, phát tâm từ bi với chúng sanh.

            4. Thời Bát Nhã - Tuy sau khi hàng tiểu thừa bị quở trách hồi tâm chuyển hướng đại thừa, nhưng tình chấp của họ vẫn chưa thể xả bỏ, cho nên Phật nói pháp môn khởi phát tâm trí, để trừ tâm chấp trước phân biệt của họ, giúp họ hành thiện mà không chấp trước các danh tướng.

            5. Thời Pháp Hoa Niết Bàn - Vì chúng sanh sau khi tiếp nhận sự giáo hóa của Phật ở ba thời trước (A Hàm, Phương Ðẳng, Bát Nhã), tâm trí đã dần dần lanh lợi nhạy bén, nhưng họ vẫn dừng ở trong quyền pháp và tiệm pháp. Cho nên Phật lại thuyết kinh Pháp Hoa, dẫn dắt họ từ pháp phương tiện quyền xảo ngộ nhập diệu pháp viên đốn chân thật, và những chúng sanh thượng trung hạ khác nhau về căn cơ, trình độ, tư chất bẩm sinh đều thu được nhiều lợi lạc sau khi được sự dạy bảo của Phật.

            Có một phần nhỏ chúng sanh vẫn chưa hoàn toàn được độ, Phật Ðà lại thuyết kinh Niết Bàn để độ hóa triệt để chúng, giúp cho chúng sanh đó đều chứng được giáo pháp cứu cánh của Phật Ðà và quả Phật thường trụ viên mãn. Do đó chúng ta có thể biết thời Pháp Hoa giống như mùa gặt lớn, và thời Niết Bàn giống như nhặt bông lúa còn rơi rớt lại. Ðây chính là ví dụ minh chứng hay nhất của việc khéo dẫn dắt đệ tử từng bước của Ðức Phật!

            Vì thời Hoa Nghiêm thuộc về Ðốn giáo, thời này là khóa trình cao cấp, Phật thuyết cho hàng Bồ tát thượng căn lợi khí. Thời A Hàm, Phương Ðẳng và Bát Nhã thuộc về Tiệm giáo, nó giống như một môn học đi từ cạn đến sâu, dẫn dắt từ từ những chúng sanh có tư chất bẩm sinh chậm chạp, vụng về. Ðiều này rất giống với sở trưởng Sở nghiên cứu Nhận Biết Tâm Lý Học của đại học Harvard, tiến sĩ Jerome Bruner nói “khóa trình hình xoắn óc” (Spiral Curriculum). Vì trước hết họ lấy kết cấu căn bản khoa học để giáo dục chỉ bảo học sinh, sau đó theo bối cảnh và phát triển tâm lý của học sinh để tăng cường đầy đủ nội dung cho môn học. Chúng ta phải đặc biệt chú ý là: Năm thời giáo pháp nói trên của Phật, hoàn toàn không có giới hạn ở thời gian và địa điểm cố định. Chỉ cần căn cơ của đối phương thành thục, họ liền nghe được thời giáo và pháp vị thích hợp với mình từ nơi Ðức Phật. Chúng sanh có căn cơ tốt thường có thể nghe được Phật Ðà diễn thuyết giáo pháp Hoa Nghiêm. Chúng sanh căn cơ thấp hơn một chút thường nghe Phật diễn thuyết giáo pháp A Hàm. Chúng sanh căn cơ không cố định sẽ thường nghe Ðức Phật thuyết những lời có tính gợi mở và khuyến khích họ tinh tấn… Có chúng sanh tư chất bẩm sinh tốt, nghe xong một thời pháp thì có thể nhập đạo; có chúng sanh phải nghe hai ba thời mới hiểu rõ chân lý cứu cánh; có chúng sanh phải trải qua thời gian lâu một chút mới có thể ngộ đạo, hoàn toàn không phải mỗi mỗi chúng sanh đều phải trải qua ngũ thời ngũ vị. Mời độc giả xem thêm Giáo Quán Cương Tông[49].

            “Bát giáo” chính là hóa nghi tứ giáo và hóa pháp tứ giáo.

            “Hóa nghi tứ giáo” chính là bốn loại nghi thức hoặc hình thái mà Ðức Phật giáo hóa chúng sanh:

            1. Ðốn giáo - Không nói tiểu thừa và tiệm pháp, mà nói thẳng giáo nghĩa diệu pháp viên đốn đại thừa.

            2. Tiệm giáo - Chỉ phương thức giáo dục đi từ cạn đến sâu, theo thứ tự mà tiến.

            3. Bí mật giáo - Sức thần thông trí tuệ của Phật không thể nghĩ bàn, có thể ẩn mật tùy cơ thí giáo, khiến cho đại chúng cùng nghe giáo pháp, nhưng mỗi người nghe đều khác nhau, mọi người không ai biết ai, giáo nghi này gọi là “bí mật giáo”.

            4. Bất định giáo - Trí tuệ thần thông của Phật không thể nghĩ bàn, có thể khiến chúng sanh nghe pháp, có chúng sanh nghe pháp ít mà chứng quả cao, có chúng sanh nghe pháp nhiều mà chứng quả thấp, có chúng sanh nghe pháp đốn giáo mà được lợi ích của tiệm giáo, có chúng sanh nghe pháp tiệm giáo mà được lợi ích của đốn giáo, đây là lấy đốn trợ tiệm, lấy tiệm trợ đốn, và khiến cho người nghe pháp đạt được lợi ích không giống nhau, gọi là “bất định giáo”.

            “Hóa pháp tứ giáo” chính là bốn nội dung hoặc tính chất mà Phật giáo hóa chúng sanh. Nội dung giáo dục thứ nhất là nói rõ quan hệ của sự vật từ quan điểm của hiện tượng. Thứ hai là nghiên cứu thảo luận quan hệ của sự vật từ quan điểm bản thể. Thứ ba là đàm luận một sự vật nào đó từ nhiều góc độ khác nhau. Thứ tư là nói rõ các sự vật từ quan điểm viên dung hoàn chỉnh.

            Ðem bốn quan điểm trên vận dụng vào một sự vật, có thể sinh ra bốn nội hàm giáo dục khác nhau. Ví dụ:

            1. Ðối với hạnh lành tự lợi lợi tha mà nói, nội dung giáo dục thứ nhất nghiên cứu thảo luận phương pháp tự lợi lợi tha từ quan điểm của “sự” (hoặc hành vi), khuyến khích mọi người thực hành nhiều về các hạnh lành như bố thí trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Nội dung giáo dục thứ hai, nghiên cứu phương pháp tự lợi lợi tha từ quan điểm “lý” (hoặc động cơ), khuyến khích mọi người lúc hành thiện không nên chấp trước danh lợi hoặc ngã tướng. Nội dung giáo dục thứ ba, nghiên cứu thảo luận các hạnh lành đủ các kiểu các loại một cách rộng rãi. Nội dung giáo dục thứ tư, lại nghiên cứu thảo luận làm thế nào việc thực hành tự lợi lợi tha biến khắp thời gian vô cùng và không gian vô tận, và mỗi hạnh lành đều viên mãn đầy đủ tất cả các hạnh lành khác.

2. Ðối với những vần đề của bản thân như: Chân tướng của khổ, nguyên nhân của khổ, phương pháp diệt khổ, và cảnh giới sau khi diệt khổ. Nội dung giáo dục thứ nhất nói rằng: Quả thực con người có những nỗi khổ của già nua, bệnh tật, chết chóc và những nỗi khổ khác. Những nỗi khổ này đều là do tham dục, sân hận, si mê và ích kỷ mà có. Giả như mọi người tu hành giới định tuệ có đầy đủ chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định thì có thể từ từ phá trừ được ích kỷ, tham dục, sân hận và si mê và giải thoát những phiền não cuộc đời, đạt được cảnh giới an lạc, niết bàn.

            Nội dung giáo dục thứ hai nói đến: Tất cả khổ não của con người, đều là do những nhân tố tập hợp lại với nhau mới sinh ra, cho nên hoàn toàn không có thực thể. Phàm sự vật do những nhân tố hợp lại mà thành, bản thân của nó chẳng qua chỉ là tên gọi hoặc là giả tướng mà thôi. Hình tướng và nguyên nhân của đau khổ, phương pháp và cảnh giới diệt trừ khổ cũng đều là như vậy. Những điều này vốn chưa từng thực sự sanh, đương nhiên cũng không gọi là diệt. Ví dụ trong không trung vốn không có hoa đốm, nhưng người có bệnh mắt, lại sai lầm cho rằng trong không trung có hoa đốm. Một ngày nào đó bệnh mắt đã hết, sau khi thị lực khôi phục lại bình thường thì hoa đốm trong hư không liền tiêu mất. Lúc này chúng ta không thể nói sau khi những hoa đốm này mất rồi có chỗ mất cố định. Vì những hoa đốm này không có thực thể, chỉ là huyễn tướng, nó vốn chưa từng sanh, vậy nó có diệt không? Phàm phu chỉ thấy biểu hiện của sự vật, nhưng không thấy bản thể của sự vật. Vì vậy trong cảnh giới vô sanh, vọng thấy có hiện tượng sanh diệt, không ngờ những hiện tượng sanh diệt đều là giả tướng hư huyễn, giống như người nằm mơ cảm thấy cảnh trong mơ rõ mồn một, sau khi tỉnh dậy, mới phát hiện hồi nảy chấp trước cảnh mộng, chứ thực sự không có gì hết.

            Chú thích - Trong kinh Phật nói: Thánh giả (Thất địa Bồ tát trở lên) thấy rõ bản thể của tất cả sự vật, hiểu rõ chân lý bất sanh bất diệt của tất cả sự vật, mới có niềm tin tuyệt đối và mãi mãi không thối lui. Nếu không thì, niềm tin giống như bong bóng bay trong không trung không ổn định, lúc thì lên, lúc thì xuống.

            Trong nội dung giáo dục thứ ba, Ðức Phật chỉ ra rất nhiều tướng trạng của khổ, nguyên nhân đưa đến đau khổ, phương pháp diệt khổ và cảnh giới sau khi diệt khổ. Vì mức độ tham dục, sân hận, si mê, tự tư ích kỷ của chúng sanh và chủng loại rất nhiều, cho nên họ thọ quả báo cũng khác nhau và rất phức tạp. Phật có rất nhiều pháp môn có thể phá trừ nhiều quả báo khổ và nguyên nhân đưa đến đau khổ.

            Ở trong nội dung giáo dục thứ tư, Phật đà nói rõ: Hiện tượng và bản thể của bất cứ sự vật nào đều là bất nhất, bất dị (không phải một không phải khác), bất tức bất ly (không phải gần không phải xa), viên dung vô ngại. Phật tánh của con người biến khắp trong không gian vô cùng và thời gian vô tận, dung nhiếp với nhau, không chỗ nào mà không có, và xưa nay vẫn thường tồn tại. Tánh linh (Phật tánh, chân như) này là bản thể của chư Phật, cũng là chân ngã của mỗi người. Vì tất cả sự vật không rời khỏi bản thể viên giác thanh tịnh, do đó thể tánh của si mê và trí tuệ, phiền não và giải thoát, sanh tử và Niết bàn hoàn toàn như nhau. Trí tuệ, giải thoát và Niết bàn vốn có đầy đủ trong tâm linh, hà cớ gì phí sức tạo tác hoặc hướng ra bên ngoài tìm cầu? Vì vậy, Như Lai Thế Tôn nói: Cảnh giới viên dung này có thể hành thiện một cách tự nhiên, giúp người khác một cách vô điều kiện, có thể thành tựu trí tuệ cao nhất. Cảnh giới này không có bất kỳ phiền não và si mê nào, trong lòng của chúng ta cũng không có vướng mắc bất kỳ danh tướng nào—Chúng ta cảm thấy không có khổ não để xả bỏ, cũng cảm thấy không có niết bàn để cầu, càng không có ý thức mình đang hành thiện. Cảnh giới này hoàn toàn không có sự ràng buộc của danh tướng, nhưng vẫn luôn có tác dụng tự lợi lợi tha và giáo hóa chúng sanh.

            Những gì vừa nói trên, chẳng qua chỉ là một số ít quan niệm quan trọng mà thôi. Nếu độc giả muốn hiểu thêm về tầng lớp và phương thức giáo pháp của Phật, mời quý vị đọc thêm Giáo Quán Cương Tông Khoa Thích, Thiên Thai Tứ Giáo Nghi, Hiền Thủ Ngũ Giáo Nghi, Hoa Nghiêm Nhất Thừa Giáo Nghi Phân Tề Chương, Hiển Mật Viên Thông Thành Phật Tâm yếu.

3. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC BIẾN HÓA NHIỀU NHẤT

            Theo kinh Anh Lạc Bổn Nghiệp ghi rằng, Phật Thế Tôn không có dùng một phương thức giáo dục cố định nào, mà hoàn toàn tùy theo tư chất bẩm sinh, tập tính, nhu cầu và sở thích để vận dụng linh hoạt các phương pháp giáo dục thích hợp. Cho nên trong kinh Anh Lạc Bổn Nghiệp gọi Ðức Phật là “đại dụng vô phương pháp Vương”, nghĩa là Bậc Thầy, bậc Ðại Ðạo Sư đạt được hiệu quả giáo dục to lớn mà không có một phương thức dạy học cố định.

            “Phương pháp giáo dục và nội dung giáo dục của Phật vô lượng vô biên như hư không. Thiên vạn loại chúng sanh khác nhau, sau khi được Phật dạy dỗ đều thấm nhuần rất nhiều lợi ích. Phật làm lợi ích cho chúng sanh hoàn toàn không có phương pháp cố định” (Ðồng Tư Trì ký)

            “Phương thức Phật giáo hóa phẩm cách chúng sanh không những không cố định, mà ngay cả phương thức gợi mở tâm trí chúng sanh, khuyên bảo chúng sanh cũng không phải nhất thành bất biến (đã hình thành thì không thể thay đổi), (Tam Luận Huyền Nghĩa)[50].

            Phương thức giáo dục của Phật thực sự nhiều không thể kể hết. Ví dụ, kinh Thắng Man và kinh Vô Lượng Thọ quyển thượng ghi rằng: Phương thức giáo dục của Như Lai Thế Tôn là tích cực chủ động, chứ không phải bị động. Phật không cần đợi đối phương đến thỉnh cầu, sau đó mới tiến hành giáo dục, mà lúc nào Phật cũng quan sát căn cơ của đối phương thành thục hay chưa và Phật chủ động giáo hóa.

            Nhưng có lúc Ðức Phật lại dùng phương thức “dạy mà không dạy” để hóa độ học trò. Ví dụ, Ðại Trí Ðộ Luận quyển 2 miêu tả, Ðức Phật vận dụng phương pháp “mặc tẩn” (lặng lẽ, gạt bỏ) và “bính khí” (vứt bỏ) để hóa độ một để tử có cá tính xấu ác khó sửa như Xa Nặc.

            Có lúc Ðức Phật dùng phương pháp mới mẻ, khác thường, đặc biệt để giáo hóa chúng sanh. Ví dụ kinh Mạt La Vương ghi rằng, có một lần nọ, trong nước Mạt La có một hòn đá chắn ngang giữa đường đi, rất nhiều người dùng sức dời đi, nhưng đều bất động với hòn đá ấy. Lúc ấy Phật dùng thần lực di dời hòn đá ấy sang một bên, sau đó Phật giảng giáo pháp “tứ lực” để giáo hóa họ.

IX. CƠ HỘI GIÁO DỤC QUÝ BÁU

“Pháp Phật cao siêu lý rộng sâu,

Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu.

Con nay nghe đặng chuyên trì niệm,

Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.”

            Từ bài kệ khai kinh hay bài kệ tán dương giáo pháp ở trên, chúng ta có thể hiểu được rằng, việc nghe được pháp Phật khó đến mức nào. Kinh Bồ Tát Anh Lạc Bổn Nghiệp quyển hạ và Ðại Trí Ðộ Luận quyển 5 và quyển 38 ghi rằng, Như Lai Thế Tôn đã từng dùng hai ví dụ rất thú vị để hình dung sự lâu dài của một kiếp. Ðại Trí Ðộ Luận nói: Ví dụ cứ cách mỗi 100 năm có một người trường thọ, dùng chiếc khăn mềm mại lau một lần lên hòn đá lớn khoảng 40 dặm, mãi cho đến khi hòn đá ấy được lau bóng lên, một kiếp vẫn chưa hết. Lại ví dụ, có một cái thành lớn khoảng 40 dặm, chất đầy những hạt cải, cứ cách mỗi 100 năm lấy ra một hạt từ trong đống hạt cải ấy, mãi cho đến khi lấy ra hết những hạt cải trong thành ấy, một kiếp vẫn chưa hết. Một kiếp lâu dài như vậy, hà huống gì Phật pháp là trăm ngàn vạn kiếp khó gặp thay!

            Kinh Niết Bàn quyển 2 và kinh Tạp A Hàm quyển 16 đều dùng thí dụ con rùa mù nổi lên gặp bộng cây để hình dung “đời người khó được”, “Phật pháp khó nghe”: Trong biển cả mênh mông có một khúc gỗ, khúc gỗ ấy nổi trên mặt biển và khúc gỗ ấy có một cái bộng, tùy theo gió và sóng mà bộng cây ấy trôi nổi không dừng trên mặt biển. Một con rùa mù sống rất thọ, cứ cách mỗi 100 năm nó nổi lên một lần và muốn gặp bộng cây nổi trên mặt biển kia, thật sự trong cái khó lại còn cái khó khác. Nghe được Phật pháp còn khó hơn việc này!

            Trong quyển 12 kinh Niết Bàn lại hình dung con người sinh ra đời mà gặp được Phật còn khó hơn dùng hạt cải ném trúng đầu cây kim trong không gian.

            Kinh Tâm Ðịa Quán quyển 1 và kinh Niết Bàn quyển 14, đều ghi rằng: Từ lâu đời về trước Như Lai Thế Tôn đã từng làm Tuyết Sơn Ðồng Tử, lúc ấy không có Phật tại thế, nhưng Ngài Tuyết Sơn vì cầu 8 chữ sau của một bài kệ trong Phật pháp (bài kệ đó là: “Chư hành vô thường, thị sanh diệt pháp, sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”, nghĩa là: Tất cả sự vật có sanh có diệt đều là hư huyễn vô thường. Không sanh không diệt mới là an lạc cứu cánh và tồn tại mãi mãi), mà hy sinh thân mạng, từ việc này đủ để thấy rằng nghe được Phật pháp thật đáng quý!

            Sau đây, chúng ta trích dẫn vài đoạn văn trong kinh điển để nói rõ Phật pháp đáng quý:[51]

            “Như Lai Thế Tôn dùng lòng từ ái vô hạn và vô điều kiện làm điểm xuất phát, vì vậy Như Lai Thế Tôn đản sanh ở thế giới này, hoằng dương phương pháp giải thoát sanh lão bệnh tử và thành tựu trí tuệ viên mãn, giúp cho tất cả chúng sanh đều đạt được lợi ích chân thật. Ðây là cơ hội tốt ngàn năm khó gặp!” (Kinh Vô Lượng Thọ)

            “Bất kỳ một câu pháp kỳ diệu nào của Phật, đều là ức kiếp khó gặp” (Bí Tạng Bảo Thước quyển trung)

            “Ta không tiếc thân mạng, mà chỉ trân quý Phật đạo vô thượng” (phẩm Khuyến Trì kinh Pháp Hoa)

            “Chúng con làm thế nào báo đáp ân đức sâu nặng của Như Lai Thế Tôn? Chúng con nghe những lời dạy bảo của Như Lai, được lợi ích vô cùng, đây là việc vui mừng biết bao!” (Phẩm Tín Giải kinh Pháp Hoa)

            “Giả như có người nói: Tìm một câu Phật pháp, có thể làm tăng thêm đạo hạnh cho ngươi để từ bi với chúng sanh, bây giờ nếu ngươi đi vào hầm lửa lớn, nhẫn chịu sự thống khổ, ta sẽ đem câu Phật pháp này truyền cho ngươi! Bồ tát nghe câu nói này, bèn nghĩ rằng: Ta có câu giáo pháp này của Phật, có thể giúp tăng trưởng đạo hạnh từ bi đối với chúng sanh. Dù cả đại địa này đều là lò lửa, ta vẫn bằng lòng từ trên không trung nhảy xuống, hà huống gì là hầm lửa kia!...” (Kinh Hoa Nghiêm quyển 35)

            Theo kinh Pháp Hoa phẩm Chúc lụy ghi rằng, Phật pháp là do Phật đã trải qua vô lượng kiếp không ngừng nỗ lực tu tập mà thành[52].

            Ðức Phật đã từng nói: Nếu có đệ tử của Phật nghe được kinh Pháp Hoa, trong lòng cảm thấy hoan hỷ vô cùng, sau đó tận lực diễn thuyết cho cha mẹ hay bạn bè nghe. Những người bạn này sau khi nghe xong lại giáo hóa người khác, như vậy truyền đến 50 lần. Người thứ 50 đó nghe được, nếu cũng tùy hỷ tán thán kinh Pháp Hoa, công đức của người ấy nhiều hơn so với người bỏ cả thời gian 80 năm đem những việc vui chơi bố thí cho người khác: Công đức bố thí tài vật này không bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần ức công đức tùy hỷ kinh Pháp Hoa. (Phẩm Tùy Hỷ Công Ðức kinh Pháp Hoa)

            Ðây là nguyên nhân “bố thí chân lý quý hơn bố thí tài vật”.

            Trong kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Phật đã từng đặc biệt nhấn mạnh pháp thí và tài thí có năm điểm khác nhau như sau:

            1. Pháp thí lợi người lợi mình, tài thí chưa chắc lợi cả hai.

            2. Pháp thí có thể làm cho tâm thanh tịnh và trí tuệ phát sanh, nhưng tài thí lại dễ tăng trưởng tình sắc.

            3. Pháp thí có thể đoạn trừ vô minh một cách triệt để, tài thí chỉ khắc phục phần nào tham ái.

            4. Pháp thí có thể giúp chúng sanh giải thoát tất cả khổ não, nhưng tài thí chỉ có thể giải thoát một phần nhỏ khổ não.

            5. Quả báo của pháp thí là không cùng tận. Nhưng tài thí lại có hạn.

            Phật pháp trân quý như vậy! Thảo nào người xưa, lúc viết kinh Phật, mỗi lần viết một chữ là lễ ba lạy. Ðiêu khắc tượng Phật, mỗi lần khắc cũng lễ ba lạy.

            Ðại Trí Ðộ Luận quyển 16 và quyển 49 đều ghi rằng, mấy đời về trước, Ðức Phật là một vị Bồ tát Dược Pháp, đã từng vì cầu Phật pháp mà phát tâm nguyện lột da của mình làm giấy, lấy xương làm bút, lấy máu làm mực để viết bài kệ của chư Phật đã thuyết.

            Kinh Ðại Phẩm Bát Nhã, trong phẩm Bồ Tát Ba Luân ghi rằng: Ðã từng có vị Bồ tát vì nhớ đến Phật và những giáo pháp của Phật và cảm thán rằng mình không có gì tốt để cúng dường Phật. Lúc ấy vị Bồ tát ấy vừa gặp được một vị phú hào muốn mua tủy xương để điều chế thuốc trị bệnh. Thế là vị Bồ tát ấy lấy tủy xương của mình bán cho vị phú hào kia, dùng tiền có được mua các loại hoa cúng dường Phật.

X. HOÀN CẢNH GIÁO DỤC KỲ DIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC SÂU XA

1. HOÀN CẢNH GIÁO DỤC KỲ DIỆU

            Hoàn cảnh giáo dục của Phật rất đặc thù. Theo kinh Bát Nhã và kinh Pháp Hoa ghi rằng, khi Phật thuyết kinh điển đại thừa và đạo lý thâm diệu đều có hoàn cảnh giáo dục nhất định. Ví dụ: Trước hết Phật nhập định quán sát căn cơ của chúng sanh, sau đó chư thiên rải hoa cúng dường, đại địa hiện ra sáu loại chấn động, trên thân Phật phóng ra các loại hào quang, khiến cho chúng sanh trong pháp tòa đều sanh lòng hoan hỷ, sau đó Phật Thế Tôn bắt đầu giảng kinh[53].

            Trong quyển 1 kinh Bảo Tích miêu tả: Khi giảng kinh ở núi Kỳ Xà Quật trong thành Vương Xá, Phật Thế Tôn đã từng dùng thần lực, khiến tất cả các động vật như sư tử, cọp, sói, voi, ngựa, gấu, chim khổng tước, chim anh vũ, chim ưng, chim uyên ương… xa lìa những phiền não tham dục và sân hận. Lúc ấy, tất cả động vật không những không tàn sát ăn thịt nhau, mà còn vui đùa với nhau. Khắp nơi trong núi đều có hương hoa, khắp nơi đều có hạt dẻ ngon và suối ngọt. Rất nhiều loài chim nhỏ reo hót, thiên nữ ca vịnh tán thán. Nhiều Thiên chủ và Thiên đế biến ra rất nhiều mây lành, rải xuống thiên hoa, bảo vật, áo thơm, bảo cái và cờ phướng đẹp đẽ để bố trí đạo tràng. Lúc ấy có 9500 vị đệ tử, 8000 vị đại Bồ tát và mười mấy ức thiên chúng ở tại đạo tràng kính cẩn chờ đợi sự giáo huấn của Phật, có người chấp tay lễ bái, có người yên lặng khấn cầu, có người chí thành chiêm ngưỡng, có người kiền thành phủ phục… Những cảnh tượng trang nghiêm, thật sự là giấy trắng mực đen khó mà hình dung!

            Trong phẩm Thần Lực quyển 6 của kinh Pháp Hoa, Phật hiện mười loại thần tích để bố trí hoàn cảnh giáo dục:

            1. “Phật hiện đại thần thông, với tướng lưỡi rộng dài, đến cõi Phạm thiên”—biểu thị rằng lời nói của Phật không hư vọng. Theo kinh Phật ghi rằng, vô số đời về trước cho đến nay Phật đều nói lời chân thật, nên lưỡi vừa mỏng vừa khéo léo, đưa ra có thể chạm đến trán. Người có lưỡi dài có tài nói chuyện rất hay.

            2. “Mỗi lỗ chân lông đều phóng ra vô số hào quang, mỗi một hào quang đều biến chiếu khắp mười phương thế giới”—biểu thị trí tuệ cứu cánh nhất của Như Lai Thế Tôn.

            3. “Sau đó thu lại tướng lưỡi rộng dài, và khánh khái (ho) lên mấy tiếng”—Âm thanh nhẹ gọi là khánh, âm thanh nặng gọi là khái. Khánh khái có hai cách giải thích. Một là tượng trưng cho sự thông suốt, trôi chảy, lưu loát, để biểu thị Phật pháp quyền cơ nhị đế, thông suốt vô ngại. Hai là đem ý nghĩa những lời muốn nói, biểu thị đem pháp bảo này truyền cho Bồ tát để làm lợi ích cho chúng sanh đời sau.

            4. “Bật ngón tay”—biểu thị thấy việc thiện tùy hỷ theo.

            5. “Hai loại âm thanh này chuyển biến khắp thế giới mười phương chư Phật, cả đại địa hiện ra sáu loại chấn động”—biểu thị pháp của Phật có thể phá trừ triệt để vô minh phiền não.

            6. “Những chúng sanh ở thế giới kia… do thần lực của Phật đều thấy thế giới Ta bà này có vô số vạn ức Phật Bồ tát…”—biểu thị đạo lý của mỗi một vị Phật đều tương đồng.

            7. “Chúng sanh thấy được những hiện tượng này, trong lòng rất vui mừng. Lúc ấy chư Thiên trên không trung xướng rằng: Xuyên qua vô số hệ thiên hà, có một thế giới gọi là thế giới Ta bà. Thế giới ấy có một vị tôn Phật gọi là Thích Ca Mâu Ni. Hiện nay đang chuẩn bị diễn thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa cho hàng Bồ tát, diệu pháp này từ bi với tất cả chúng sanh, cho nên quý vị nên cúng dường Phật Thích Ca Mâu Ni” —biểu thị bộ kinh này và giáo pháp sau này sẽ được truyền bá rộng rãi.

            8. “Những chúng sanh sau khi nghe được âm thanh trên không trung, đều chấp tay hướng về thế giới Ta bà, niệm: Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật…”—biểu thị tán thán, lễ bái Phật.

            9. “Dùng các vật quý như hương hoa, anh lạc, cờ phướng… rải xuống thế giới Ta bà. Những vật được rải xuống giống như mây tụ lại, biến thành màng, biến khắp và che trên đỉnh mỗi vị Như Lai”—biểu thị bố thí là đạo lý quan trọng trong Phật pháp.

            10. “Lúc ấy mười phương thế giới thông suốt vô ngại, giống như đồng với cõi Phật vậy”—biểu thị lý và thể trong thời gian vô cùng không gian vô tận đều tương đồng với nhau.

            Về nghĩa đầy đủ của mười loại thần tích này, mời độc giả xem thêm Pháp Hoa Văn Cú quyển 10.

2. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC KỲ DIỆU

     Trong Ðại Trí Ðộ Luận ghi rằng, Ðức Phật có thể vận dụng sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp một cách linh hoạt và khéo léo để giáo hóa chúng sanh, khiến cho chúng sanh dùng các cảm quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý để ngộ đạo. Thí như, có người nghe xong những đạo lý Phật thuyết mà ngộ đạo, có người thấy thân Phật phóng hào quang mà ngộ đạo, có người ngửi được mùi vị từ lỗ chân lông trên thân Phật mà ngộ đạo, có người nhớ Phật và nhớ lời Phật dạy mà ngộ đạo… Có lúc Ðức Phật xuyên qua bố thí để giúp đối phương đắc đạo, có lúc Phật dùng thần thông để giúp đối phương đắc đạo, có lúc Phật hiển hiện cơ trí linh hoạt thích ứng với hoàn cảnh để giúp đối phương ngộ đạo. (Ðại Trí Ðộ luận quyển 34)[54].

            Càng thần kỳ hơn nữa, sau khi Thế Tôn nhập các loại thiền định, mỗi lỗ chân lông trên thân đều phóng ra vô lượng hào quang, biến chiếu khắp nơi trong vũ trụ, và trong mỗi một hào quang hiện ra hoa sen nghìn lá, trên mỗi đóa hoa sen đều có một vị Phật hóa thân, lỗ chân lông của mỗi vị Phật hóa thân lại phóng ra vô lượng hào quang, trong mỗi một hào quang lại hiện ra hoa sen nghìn cánh, trên mỗi đóa hoa sen lại có một vị Phật hóa thân… suy diễn như vậy đến vô cùng tận. Những vị Phật hóa thân này tùy theo căn cơ, tính cách, phẩm chất của chúng sanh trong thế giới mà họ đang ở, vận dụng những phương thức khác nhau để giáo dục chúng sanh. (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 21)[55].

3. NỘI DUNG GIÁO DỤC HUYỀN DIỆU SÂU XA

            Sự huyền diệu sâu xa trong kinh Phật thực sự khó hình dung. Thí dụ như, trong Pháp Hoa Huyền Nghĩa ghi rằng, chỉ riêng bộ kinh Pháp Hoa đã có “Tích môn thập diệu” và “Bản môn thập diệu”.

            Tích môn (bao gồm 14 phẩm trước trong kinh Pháp Hoa) thập diệu bao gồm:

            1. Cảnh diệu—Chỉ lý cảnh. Ðối với lý thể mà nói, tâm Phật và tâm chúng sanh tam vô sai biệt (Tam vô sai biệt: Chỉ một tâm thể Thánh phàm như nhau; Phật vô sai biệt: Chỉ thập phương chư Phật liễu ngộ pháp mười giới, mười như thị mà thành chánh giác, tức là liễu ngộ những thứ trong bản tâm, liễu ngộ những điều mà chúng sanh còn mê lầm. Nhân quả mê ngộ tuy khác nhau nhưng về thể thì không hề sai biệt; chúng sanh vô sai biệt: Chỉ chín giới chúng sanh đều có đủ pháp mười giới, mười như thị, những điều mà chư Phật liễu ngộ và những điều mà bản tâm sẵn có, về thể không có sự sai biệt). Về phương diện sự tướng thì chỉ Phật với Phật mới có thể thấu rõ thật tướng các pháp.

            2. Trí diệu—Trí tuệ mà Thế Tôn đạt được vi diệu nhất.

            3. Hành diệu—Diệu trí viên mãn của Phật Thế Tôn đưa đến hành vi rất vi diệu.

            4. Vị diệu—Cảnh giới Phật chứng và Phật đã trải qua những cảnh giới ấy (từ Thập trụ cho đến Thập địa), huyền diệu vô cùng.

            5. Tam diệu pháp—Ðức Phật trình bày lý (chân tánh), tuệ và định đều kỳ diệu không thể nghĩ bàn.

            6. Cảm ứng diệu—Chúng sanh có cơ duyên, hành vi và nguyện lực thích hợp, Phật Thế Tôn bèn dùng phương thức kỳ diệu tiến hành cảm hóa. Giống như mặt trăng chiếu khắp trên mặt nước và ánh sáng lấp lánh trên mặt nước ở nhiều nơi khác nhau, thật diệu không thể nghĩ bàn.

            7. Thần thông diệu—Phật Thế Tôn tùy cơ nghi, tùy phương tiện giáo hóa chúng sanh, tự tại vô ngại, diệu bất khả tư nghì.

            8. Thuyết pháp diệu—Phật Thế Tôn diễn thuyết các pháp môn khác nhau, khiến cho chúng sanh đều ngộ nhập tri kiến Phật, đó là diệu không thể nghĩ bàn.

            9. Quyến thuộc diệu—Phật Thế Tôn vừa xuất hiện ở đời, đại Bồ tát khắp nơi đến ủng hộ, có vị Bồ tát vì nguyện xưa mà sanh đến, có vị ứng hiện mà đến, đều gọi là quyến thuộc và đều diệu không thể nghĩ bàn .

            10. Lợi ích diệu—Phật thuyết pháp, giúp chúng sanh đều khai ngộ bản tính, nhập vào tri kiến Phật, thành tựu trí tuệ, giống như trận mưa phải thời, các loại cây cỏ lớn nhỏ trên đại địa đều được lợi ích, thật là kỳ diệu không thể nghĩ bàn. (Pháp Hoa Huyền Nghĩa phần 2 quyển 2)

            Về “Bản môn thập diệu”, vẫn là mười bốn phẩm sau của kinh Pháp Hoa, nói về những đặc trưng của pháp thân bản nhân, bản quả và bản địa của Phật. “Bản môn thập diệu” bao gồm:

            1. Bản nhân—Ðó là cái nhân sở tu lúc ban đầu khi mới phát tâm Bồ đề tu đạo Bồ tát.

            2. Bản quả—Cái nhân sở hành viên diệu lúc ban đầu khế hợp được với cứu cánh Thường Lạc Ngã Tịnh, đó chính là bản quả.

            3. Quốc độ—Bản đã thành quả, ắt có nước y chỉ, nay đã tích tại cõi đồng cư, hoặc tại ba cõi, ở giữa cũng có bốn cõi, bản Phật cũng phải có cõi, mà thế giới Ta bà hiện nay là bản quốc độ diệu.

            4. Cảm ứng—Ðã thành quả rồi tức là có 25 tam muội bản thời sở chứng, thệ nguyện từ bởi cơ cảm tương quan, có thể tức tịnh mà chiếu, nên nói là bản cảm ứng.

            5. Thần thông—Cũng là hợp với vô ký hóa thiên mà xưa kia đã chứng được và các đức từ bi của bản thời dùng thần thông mà kinh động các chúng sinh đầu tiên đáng độ, cho nên gọi là bản thần thông.

            6. Thuyết pháp—Tức là xưa kia ngồi ở đạo tràng mới thành chánh giác, sơ chuyển pháp luân bốn lần biện luận về pháp đã thuyết, nên gọi là bản thuyết pháp diệu.

            7. Quyến thuộc—Những người được nghe thuyết pháp ở bản địa, như các Bồ tát từ đất vọt lên, Di Lặc chẳng quen, đó chính là bản quyến thuộc.

            8. Niết Bàn—Niết bàn đoạn đức bản thời sở chứng cũng là ứng thân bản thời ở hai cõi đồng cư và phương tiện, có duyên đã độ, xướng lên rằng nhập diệt, tức là Niết bàn bản thời.

            9. Thọ mạng—Ðã nói nhập diệt thì có thọ mạng xa gần dài ngắn.

            10. Lợi ích—Bản nghiệp nguyện thông ứng quyến thuộc tám phen mười phen nhiêu ích. (Pháp Hoa Huyền Nghĩa quyển 7)

XI. HIỆU QUẢ GIÁO DỤC NỔI BẬT

     Kinh Diệu Pháp Liên Hoa có đoạn ghi rằng, Phật nói từ lúc Ngài thành Phật đến nay, thường thuyết pháp giáo hóa chúng sanh, đến nay đã độ vô số chúng sanh thành tựu Phật đạo[56].

            Phàm là chúng sanh mà Phật gặp, Phật luôn quan sát căn cơ và tính hướng của chúng, sau đó dùng các phương thức giáo dục, khiến cho chúng sanh đều được an lạc và trí tuệ. (Mời xem thêm kinh Pháp Hoa quyển 5)

            Kinh Ma Ha Ma Da và kinh Ðịa Tạng có ghi sự tích Phật thuyết pháp cho mẫu thân. Kinh Tịnh Phạn Vương Nê Hoàn có ghi sự tích Ðức Phật giáo hóa phụ vương. Trung Bản Khởi kinh có ghi sự tích Phật giáo hóa Da Du Ðà La và gia tộc họ Thích.

            Trong kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả đã ghi rằng, sự tích Ðức Phật giáo hóa Kiều Trần Như, Xá Lợi Phất v.v… cho đến một nghìn hai trăm năm mươi vị thường tùy để tu tập chứng quả A La Hán. Trong kinh Bổn Hạnh ghi rằng Phật Thế Tôn giáo hóa Phú Lâu Na như thế nào và 32 đệ tử của Na La Ðà cho đến Bạt Ðà La, Ưu Ba Tư Na… hơn 250 người. Trong kinh Phổ Diệu ghi sự tích Phật hóa độ Ưu Lâu Tần Già Diệp, Na Ðề, Kiệt Di… hơn nghìn người.

            Trong kinh Ngọc Da Nữ ghi rằng Phật Thế Tôn giáo hóa người phụ nữ kiêu mạn như thế nào. Kinh Nguyệt Quang Ðồng Tử đã nói sự tích Ðức Phật giáo hóa 96 loại ngoại đạo. Kinh Quán Phật Tam Muội đã nói Phật Thế Tôn giáo hóa đứa trẻ 5 tuổi, bà lão lớn tuổi, dâm nữ, năm vị ác nữ và 16 vị long tử. Kinh Pháp Cú ghi rằng Phật giáo hóa 500 hộ ngư dân, đồ tể, thợ săn ở trong làng như thế nào, mà còn nói rõ Phật điều phục 500 con voi say hung dữ như thế nào, làm thế nào giáo hóa vua A Xà Thế…

            Trong Kinh Luật Dị Tướng có ghi lại những sự tích Phật Thế Tôn giáo hóa người quét đường, người gánh phân, người ăn xin, trưởng giả Lư Chí, vua A Chất và 500 kẻ đạo tặc.

            Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ có ghi câu chuyện Phật Thế Tôn giáo hóa Vi Ðề phu nhân như thế nào. Kinh Trung A Hàm có ghi câu chuyện Phật giáo hóa gia đình Ma Nạp Ðô Ðề Tử như thế nào.

            Trong kinh Bần Cùng Lão Công có ghi câu chuyện Phật giáo hóa một người già 200 tuổi. Trong kinh Việt Nan có ghi sự tích Phật Thế Tôn giáo hóa đứa trẻ mù.

            Trong kinh Thái Hoa Vi Vương ghi lại sự tích Phật giáo hóa mấy mươi vị nam nữ hái hoa như thế nào. Trong kinh Tạp Bảo Tạng có ghi sự tích Phật Thế Tôn giáo hóa 500 vị bắn cung giỏi.

            Trong kinh Bách Duyên đã ghi rằng, Phật Thế Tôn giúp đỡ con trai con gái có tánh xấu con của Vương phi, chim anh vũ và 500 con bò dữ.

            Trong kinh Nhân Vương Hộ Quốc ghi rằng, Ðức Phật đã giáo hóa vua, đại thần, tướng lãnh của 16 nước yêu nước yêu dân như thế nào và gợi mở tâm trí cho họ. Trong kinh Tạo Tượng có ghi sự tích Phật giáo hóa vua Ưu Ðà Diên. Kinh Vương Ma Kiệt có ghi sự tích Ðức Phật giáo hóa vua chúa Nan Quốc. Kinh Thắng Quang Vương Sở Vấn có ghi sự tích Ðức Phật giáo hóa vua Thắng Quang nước Kiều Tát La như thế nào. Trong kinh Mật Tích Kim Cang có ghi sự tích Phật Thế Tôn giáo hóa Phạm vương La Kế như thế nào.

            Kinh Lăng Già có ghi Phật giáo hóa chư vị Bồ tát như thế nào. Kinh Lăng Nghiêm có ghi sự tích Ðức Phật giáo hóa Ma Ðăng Già nữ như thế nào. Trong kinh Ðại Vân Luân Thỉnh Vũ có ghi sự tích Phật Thế Tôn giáo hóa chúng sanh ở Long cung. Trong kinh Niết Bàn có ghi Ðức Phật dùng thần lực giáo hóa 300 nghìn vị lực sĩ.

            Trong kinh Tiêu Ðạm có ghi Phật giáo hóa chúng Tịnh Cư Thiên làm thế nào để tiêu trừ tai nạn. Trong kinh Thỉnh Quán Âm ghi rằng, Phật dạy quốc dân nước Côn Xá Ly phương pháp giải thoát bệnh khổ.

            Trong kinh Hiền Ngu có ghi sự tích Ðức Phật giáo hóa đông đảo quần chúng ở nước Xá Vệ, như giáo hóa trẻ con, người lớn, hung thủ giết người, thầy trò các đạo sĩ ngoại đạo v.v…đều có ghi rõ một cách rõ ràng. Trong kinh Phổ Diệu có ghi sự tích Phật giáo hóa thay đổi phong tục tập quán cũ. Mãi cho đến ngày trước khi nhập Niết Bàn Phật vẫn tha thiết ân cần dạy dỗ tất cả chúng sanh mà không bao giờ mệt mỏi.

            Thậm chí đến giờ phút quan trọng, chính Phật thế Tôn ra tận chiến trường để hóa giải những trận đấu không cần thiết. Ví dụ như, vua A Xà Thế vì nghe Ðức Phật nói một câu, mà bỏ đi ý định tấn công nước Lược Bạt Kỳ. Lại có một lần, hai dân tộc đang tranh giành quyền sử dụng nước sông Lô Tứ Ni Hòa, trong lúc họ tranh giành nhau đến nỗi khó hóa giải được nữa, chuẩn bị điều động vũ khí, ngay lúc này Phật Thế Tôn lại đến hóa giải trận xung đột này.

            Phật Thế Tôn đã từng làm cho nhiều quốc gia được quốc thái dân an, nhân dân mỗi người được sắp đặt đâu vào đấy, giúp đỡ quan tâm lẫn nhau, và không có hiện tượng hành vi phạm pháp. Hễ nơi nào Phật đến, mọi người đều giác ngộ hưởng thụ vật chất vô thường hư huyễn, và phát tâm cầu tìm chân lý từ bi với chúng sanh, nghiên cứu lãnh vực tinh thần thâm sâu vi diệu.

 Trong kinh Kim Cang Lực Sĩ Ai Luyến và trong kinh Ðại Niết Bàn quyển 1, chúng ta có thể thấy rõ mấy trăm nghìn đệ tử hoài niệm sự giáo hóa dạy dỗ của Phật Thế Tôn.

            Phàm là, thấy dung mạo và oai nghi của Phật, nghe được âm thanh của Phật, ngửi được mùi hương trên thân của Phật, tiếp xúc được ánh sáng hào quang trên thân Phật, tư duy thể hội giáo pháp mà Phật đã thuyết… những người này đều có thể hiểu rõ chân lý thâm sâu vi diệu, vĩnh viễn sẽ không thoái lui, mãi cho đến khi thành Phật[57].

            Rất nhiều người sau khi tiếp nhận sự giáo dục của Phật đều lập chí tu tập đạt được trí tuệ vô thượng, từ bi với vô lượng chúng sanh. (Mời xem thêm Phẩm Hóa Thành Dụ kinh Pháp Hoa)

            Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả, trong quyển 4 có ghi rằng, Phật Thế Tôn vì có thể diệu ứng quần cơ mà cho sự giáo dục thích hợp, do đó Phật Thế Tôn có thể khiến tất cả chúng sanh giải trừ được tà kiến và hoài nghi.

            Trong kinh Niết Bàn quyển 2 miêu tả rằng: Có nhiều đệ tử nói lúc trước họ vốn không có lòng tin và tuệ căn, vì nhận được sự giáo dục của Phật, cho nên mới có thành tựu phi phàm.

            Trong quyển Thế Giới Tôn Giáo Bách Khoa Toàn Thư (Encyclopedia of Word Religion) có nói: Lúc Ðức Phật nhập Niết bàn, ngoài hàng nghìn hàng vạn chúng sanh thiên giới và nhân loại đang thương xót tưởng niệm ra, còn có vô số sư tử, cọp, mi lộc, thỏ, chim… đang cảm kích thâm ân giáo hóa của Phật. (Mời xem thêm Thế Giới Tông Giáo Bách Khoa Toàn Thư, trang 229)

            Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Ða quyển 2 nói: Có một lần Phật thuyết pháp khiến cho mười vạn ức chúng sanh chứng đắc bản thể vạn vật bất sanh bất diệt, vì thế có thể dung nạp tất cả chân lý, đạt được niềm tin bất thoái chuyển. (Kinh Ma Ha Bát Nhã, phẩm Thiệt Tướng)

XII. NỘI DUNG GIÁO DỤC CỨU CÁNH NHẤT

     Vì Phật Thế Tôn nói rõ một cách thứ tự chân tướng của vạn vật trong vũ trụ, cho nên giáo pháp mà Ðức Phật nói có thể khiến mọi người đoạn trừ triệt để tất cả phiền não và khổ đau, đạt được trí tuệ và phẩm đức viên mãn.

            Giáo pháp của Ðức Phật không những tinh túy nhất, tính gia giảm cao (giàu tính đàn hồi), mà còn dẫn dắt đệ tử dần dần thông đạt trạng thái (cảnh giới) chí chân, chí thiện, chí mỹ, khiến cho mọi người có một cuộc sống an lạc, hạnh phúc.

            Giáo pháp của Thế Tôn vô cùng vô tận, khiến cho mọi người giải thoát khỏi những mâu thuẫn, phiền não, tự tư, ích kỷ, và đi đến vô ngã, sau đó đi lại đến đại ngã vạn vật đồng nhất thể, vạn pháp bình đẳng. Ðây chính là cảnh giới cao nhất (trạng thái cao nhất) mà Ðức Phật nói con người và sinh vật khác có thể đạt tới—Niết bàn bất sanh bất diệt, mãi mãi an lạc hạnh phúc.

            Cho nên, trong kinh Hoa Nghiêm quyển 51 nói rằng: Giáo pháp của Phật là chân lý vi diệu nhất, viên mãn nhất, cứu cánh nhất trong tất cả chân lý. Phật pháp là chân lý làm lợi ích viên mãn cho tất cả chúng sanh. Do đó trong kinh Phật nói:[58] “Nội dung giáo dục của Phật Thế Tôn là tối thượng thừa, tối diệu thừa, thuần thiện thừa…” (Kinh Ðại Bảo Tích, quyển 28)

            Trong kinh Trung A Hàm cũng nói: Phật pháp có thể khiến cho con người có thể giải thoát tất cả trói buộc và khổ đau. “Tất cả khổ não đều tiêu trừ, thân tâm cũng không còn lo lắng gì, đây chính là cảnh giới vĩnh hằng thanh tịnh an lạc nhất” (kinh Trung A Hàm quyển 31)

LỜI KẾT

     Như những gì đã nói ở trên, chúng ta có thể dễ dàng thấy và hiểu Ðức Phật là một nhà giáo dục vĩ đại nhất trong lịch sử. Phật Thế Tôn không chỉ tinh thông giáo dục học, mà còn tinh thông thiên văn học, địa lý học, lịch sử học, sinh lý học, tâm lý học, y học, logic, vị lai học, chính trị học, triết học, võ nghệ v.v… Có một điều nữa khiến con người không thể nghĩ bàn là Ðức Phật không những tinh thông vô số môn học, mà trình độ tinh thông của Phật vượt ra ngoài sự hiểu biết của người bình thường. Phật Thế Tôn quả thực là một vị Thầy, một vị Giáo sư học vấn quảng bác nhất và uyên thâm nhất trong nhân vật lịch sử mà chúng ta biết được từ khi chúng ta ra đời cho đến bây giờ.

            Vì sao Phật Thế Tôn là nhà giáo dục vĩ đại như vậy? Vì Ðức Phật có bảy loại vô thượng:

            1. Thân vô thượng: Thân tâm khỏe mạnh và oai nghi hoàn mỹ, có đầy đủ 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp.

            2. Ðạo vô thượng: Có đầy đủ vô lượng công đức để từ bi lợi ích tất cả chúng sanh.

            3. Kiến vô thượng: Có đầy đủ các giới, dùng chánh kiến, chánh mạng để thành tựu pháp thân, đồng thời giáo hóa tất cả chúng sanh và không bao giờ cảm thấy mỏi mệt.

            4. Trí vô thượng: Thành tựu trí tuệ vi diệu nhất, hiểu rõ tất cả sự vật, không có gì chướng ngại.

            5. Thần lực vô thượng: Có đầy đủ thần thông vô lượng, phổ cứu chúng sanh.

            6. Ðoạn chướng vô thượng: Ðoạn trừ triệt để tất cả phiền não và các loại nghi hoặc, ác nghiệp và khổ quả. Lời nói và việc làm luôn tương ứng với chân, thiện, mỹ.

            7. Trụ vô thượng: Trụ đại Niết bàn, bất sanh bất diệt, đạt được sự thanh tịnh an lạc mãi mãi. (Kinh Bồ Tát Ðịa Trì, quyển 2)

            Sở dĩ Ðức Phật sáng lập một hệ thống tư tưởng giáo dục hoàn mỹ, là vì có mười loại trí tuệ mà Phật đã thuyết trong kinh Hoa Nghiêm:

            1. Tha tâm trí minh khéo biết: Biết rõ tất cả hành vi và bối cảnh tâm lý hiện tại của chúng sanh.

            2. Thiên nhãn trí minh vô ngại: Sức quan sát thấy rõ hơn người.

            3. Túc mạng trí minh thâm nhập quá khứ một cách vô ngại: Thấy rõ, thấu triệt tất cả tư chất bẩm sinh, tập tính, nhu cầu, hành vi và tâm lý của tất cả chúng sanh trong quá khứ.

            4. Trí minh thâm nhập vào vị lai: Thấy biết rõ xu hướng của tất cả hiện tượng trong hiện tại và kết quả có thể sinh ra trong tương lai.

            5. Thiên nhĩ trí minh thanh tịnh vô ngại: Có thể nghe được tất cả âm thanh xa gần một cách nhanh nhạy.

            6. Thần lực trí minh an trụ vô úy: Do công đức trí tuệ vô hạn và thiền định, có thể dẫn đến tất cả thần lực và thần thông bất khả tư nghì.

            7. Trí minh phân biệt tất cả âm thanh ngôn ngữ: Có thể tinh thông tất cả ngôn ngữ của động vật, đồng thời hiểu rõ ý thú trong ngôn ngữ của chúng.

            8. Trí minh thành tựu sắc thân trang nghiêm vô lượng a tăng kỳ kiếp: Vóc người và cử chỉ bên ngoài luôn nho nhã, trang nghiêm, và khiến cho người hoan hỷ vui thích.

            9. Trí minh rõ biết tất cả sự chân thật của các pháp: Ðức Phật thấy rõ chân tướng cuối cùng của tất cả sự vật, đồng thời hiểu rõ nguyên nhân, quá trình phát triển và kết quả của tất cả hiện tượng.

            10. Trí minh rõ biết tất cả các pháp diệt định: Tinh thông vô lượng phương pháp thiền định và đoạn trừ tất cả phiền não trói buộc. (Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập Minh)

            Chúng ta dẫn dụng một câu nói trong kinh Ðại Nhật để nói rõ sự giáo dục của Phật Thế Tôn đều từ “như thật trí tuệ” và “vô lượng từ bi” làm điểm xuất phát, đồng thời xuyên qua tất cả phương pháp phương tiện thiện xảo để độ hóa chúng sanh: “Tâm bồ đề làm nhân, từ bi làm gốc, phương tiện làm cứu cánh”. (Kinh Ðại Nhật, quyển 1)

            Chúng ta nhất định nên biết: Câu nói trên chính là hạt nhân căn bản về tất cả tư tưởng giáo dục của Phật Thế Tôn. Vì mười phương ba đời tất cả Thánh hiền, tùy theo nhân duyên diễn thuyết vô lượng pháp, giáo hóa chúng sanh, luôn theo nguyên tắc này. Tuy thiên kinh vạn luận cuối cùng cũng qui về pháp môn này.

            Tóm lại, Phật pháp không những thảo luận nghiên cứu thực hành sâu vào chân tướng của thế giới tâm linh, mà còn chú ý coi trọng phương pháp phát triển tiềm năng của con người. Trong quá trình học Phật, chúng ta có thể hiểu: Dù thế giới hiện tượng này biến đổi vô thường, nhưng “quan tâm nỗi khổ đau của người khác” và “khích lệ dũng khí của chính mình” hai chân lý này trải qua càng lâu càng mới, xưa nay vẫn thường tồn như vậy.

            Phật Thế Tôn gợi mở cho chúng ta chân đế từ bi với sanh vật, tôn trọng sinh mạng, quý trọng cuộc sống. Một người muốn sống khỏe, sống vui và tự do tự tại, người đó nhất định phải cùng tồn tại hài hòa với vạn sự vạn vật trong vũ trụ, và không được tức giận phiền não hoặc làm tổn thương đến động vật khác. Người tôn trọng sinh mạng và quý trọng cuộc sống biểu hiện cụ thể chính là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ. Vì sát sanh là trực tiếp uy hiếp đến sinh mạng của đối phương. Trộm cắp là cướp đi vật phẩm mà đối phương dựa vào đó để sinh tồn, cũng là gián tiếp uy hiếp đến sinh mạng của đối phương. Tà dâm khiến lửa dục đốt thân, mấy triệu con tinh trùng và tế bào vô hình trung chết một cách vô tội. Vọng ngữ chính là nói dối hoặc dùng lời thô lỗ và cay độc để mắng người, hoặc dùng lời ngon tiếng ngọt để xúi giục ly gián làm chia rẽ, mà còn đem phiền não đến cho đối phương. Phàm hành vi, lời nói và ý niệm quấy nhiễu chúng sanh đều không phù hợp với nguyên tắc yêu mến sinh mạng, yêu mến cuộc sống.

            Giáo pháp của Phật Thế Tôn là một học vấn bình đẳng suy tôn chân chánh, giải thoát phiền não. Vì con người đã có tự tư ích kỷ và vô minh, cho nên họ chấp trước giới hạn phân biệt nhân ngã, thế là sanh ra đủ loại phiền não. Thử nghĩ có một người có thể thương người như thương chính mình, cùng với vạn vật hợp thành nhất thể, như vậy đã không có phân biệt nhân ngã, thì sao có thể có khổ đau?

            Khổng tử nói với đệ tử rằng “dĩ trực báo oán, dĩ đức báo đức”, nghĩa là dùng chánh trực để báo đáp oán hận, dùng ân đức để báo đáp oán thù (Luận Ngữ, thiên Hiến Vấn). Jesus nói với đệ tử “đừng đối đầu với kẻ ác; có người đánh vào má phải của bạn, bạn hãy đưa má trái cho anh ấy đánh luôn” (Mã Thái Phúc Âm, chương 5, tiết 19). Phật Thế Tôn có lúc dạy đệ tử lấy chân chánh để báo đáp oán hận, có lúc Phật dạy đệ tử nhẫn nhục, có lúc dạy đệ tử lấy ân đức để báo đáp oán hận, đồng thời Phật gợi mở cho đệ tử cố gắng hết mức từ bi bình đẳng với tất cả mọi người, dù đối phương là người tốt hay người xấu. Vì đối đãi với mọi người vừa không bình đẳng thì liền sanh ra phiền não.

            Chúng ta thấy Phật dùng ba phương thức để xử lý rất cao minh, vì nhà Nho dùng phương thức chánh trực để đối phó, có lúc không cách nào cảm hóa được người xấu; Jesus dùng phương pháp nhẫn nhục dễ rơi vào chính sách nhân nhượng một cách vô nghĩa, không ích gì cho vấn đề thực tế. Nhưng phương pháp giáo dục của Phật Thế Tôn thì giáo dục đúng đối tượng (nhân tài thí giáo), giàu tính đàn hồi, mà còn khiến cho đệ tử hiểu rõ phương thức xử lý lý tưởng nhất, an lạc nhất: “bình đẳng từ bi với tất cả mọi người”. Từ bi hoàn toàn khác với tham ái và siển nịnh, vì tham ái và siển nịnh là tự tư ích kỷ, tính toán lợi hại cho chính mình đồng thời hy vọng báo đáp, nhưng từ bi là quan tâm đến người khác một cách tích cực và vô điều kiện (unconditional positive regards).

            Chúng ta thấy chỗ đặc biệt nhất giáo pháp của Ðức Phật ở chỗ đã dung hợp Thánh tuệ chân thiện mỹ. Nó khiến cho những hành vi, ngôn ngữ và ý niệm của con người phù hợp với phép tắc tự nhiên trong vũ trụ, hoàn toàn tùy tâm sở dục mà không vượt qua nguyên tắc, và đạt được cảnh giới hành thiện nhưng không chấp thiện, làm thiện nhưng buông xả những việc mình làm. Vì xã hội truyền thống dạy chúng ta phải “cố chấp chọn điều thiện” (hay chọn điều thiện mà theo), nhưng họ không nghĩ rằng hành thiện và chấp trong danh tướng thiện (ví dụ như hy vọng báo đáp của người khác, tính toán danh lợi hành thiện… ) trong lòng vẫn còn có lo lắng bất an. Chỉ có làm được “lìa tất cả tướng và tự nhiên hành thiện” mới là hoàn mỹ nhất. Cho nên chúng ta nói: Phật pháp là pháp thuần thiện tối thượng thừa. Phật pháp thuần túy là một loại học vấn thánh tuệ chân thiện mỹ.

            Cuối cùng xin chư độc giả hiểu và bỏ qua cho là: Quyển sách này chỉ cung cấp những quan niệm cơ bản chỉ có thể giúp những người bình thường có một nhận thức khái quát về nhân cách và giáo dục của Ðức Phật. Vì hạn chế ở độ dài ngắn của sách, nên quyển sách này ít đề cập đến phương pháp tu hành; về phương pháp tu hành, bút giả sẽ nói trong quyển Ðức Phật Gợi Mở Tâm Trí (Phật Tánh) Cho Con Người Như Thế Nào, mời độc giả tìm đọc.

            Kỳ thật, trong tất cả các nhà giáo dục vĩ đại, lịch sử văn hiến đầy đủ nhất, trước hết phải chọn Ðức Phật. Vì có tới con số hàng vạn kinh điển đều ghi rõ ràng, tường tận về cuộc sống, ngôn hạnh và quá trình dạy học của Ðức Phật. Nhưng trước mắt, lịch sử giáo dục trên thế giới lại chưa nói nhiều đến vị Thầy vĩ đại này, sự việc này thật đáng tiếc biết bao! Bút giả biên dịch quyển sách này chỉ là thử nghiệm phao chuyên dẫn ngọc (tung ra hòn gạch kéo về viên ngọc), nhưng hy vọng sau này có những học giả ưu tú sẽ ra công sức nghiên cứu nguyên lý dạy học của Phật Thế Tôn, đồng thời đem giáo pháp tốt đẹp này hoằng dương đến khắp nơi trên thế giới để tất cả mọi người có thể vì nhận thức nhà giáo dục vĩ đại này, mà thay đổi một cách công bằng khách quan, nhân từ tự tại, đồng thời nỗ lực tinh tấn làm các việc thiện.

            Mỗi một nhân cách và giáo dục đặc sắc của Ðức Phật đều hoàn mỹ vô hạn. Những gì được nói trong quyển sách này, chẳng qua chỉ là một phần rất nhỏ và phổ thông bình thường. Dù bút giả tiếp tục biên dịch vài quyển sách vừa dày vừa lớn để tán thán sự vi diệu vĩ đại về nhân cách và giáo dục của Ðức Phật, vẫn là trăm ngàn vạn phần mà nói không được một phần. Hy vọng chư độc giả phát tâm truy cầu chân lý từ bi với tất cả chúng sanh, chính mình đi vào nghiên cứu kinh tạng, để được hưởng pháp bảo vô cùng này và phát huy tiềm năng Phật tánh của chính mình.

Tài Liệu Trích dẫn

[1] “…Tất cả các loại cây cỏ, thượng trung hạ, hay to nhỏ lớn bé v.v…, mỗi loại đều được sinh trưởng. Thân gốc cành lá hoa quả màu sắc, một trận mưa rưới xuống tất cả đều được thấm nhuần. Như thể tướng của các loại cỏ cây có chia ra lớn nhỏ khác nhau, nhưng chỗ thấm nhuần là một và mỗi loại đều được sinh trưởng tươi tốt. Như Lai xuất hiện ở nơi đời cũng như vậy, ví như vầng mây lớn che trùm hết tất cả. Như Lai hiện ra nơi đời vì tất cả chúng sanh, phân biệt diễn thuyết tất cả thật tướng của các pháp (chân lý và chân tướng của các hiện tượng)” (Kinh Pháp Hoa, quyển 3)

[2] “Lúc Ta ở dưới cội Bồ đề, tu tập quán sát và kinh hành, trong 21 ngày tư duy việc như vầy: Trí tuệ mà Ta đạt được rất sâu xa vi diệu, căn tánh chúng sanh thì chậm chạp, si mê tham trước các lạc thú, những hạng chúng sanh như vậy, làm thế nào để độ thoát?” (Kinh Pháp Hoa, quyển 1, phẩm Phương Tiện)

[3] “Ta quán sát thấy nhân duyên lớn là làm lợi ích an lạc cho chúng sanh nên nói lời chân thật như vậy.” (Kinh Xưng Tán Tịnh Ðộ)

            “Dùng tất cả các pháp dược để cứu chữa bệnh cho ba loại khổ: già, bệnh và chết.” (kinh Vô Lượng Thọ)

            “Nhân duyên để độ thoát chúng sanh là thuyết pháp dược vi diệu vô thượng.” (Kinh Niết Bàn quyển 4)

[4] “Biện tài thuyết pháp vô tận, để chuyển bánh xe pháp vi diệu thanh tịnh.” (Kinh Pháp Hoa quyển 1)

[5] “Phật dùng tất cả nhân duyên thí dụ, lời lẽ khéo léo nói pháp, khiến cho chúng con dứt hết nghi ngờ phiền não, tâm được an lạc… Nghe Phật dùng lời nhu nhuyến diễn thuyết thanh tịnh pháp, thậm thâm vi diệu, tâm con rất hoan hỷ, mãi mãi đoạn trừ phiền não nghi hoặc, an trụ trong trí tuệ chân thật.” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa quyển 2, phẩm Thí Dụ)

[6] “Chúng sanh căn cơ trình độ, cá tính, thói quen, sở thích hoàn toàn không giống nhau. Chúng sanh căn tánh không giống nhau, do vậy Ta tùy theo đó mà thuyết pháp.” (kinh Vô Lượng Nghĩa)

            “Ta dùng sức trí tuệ biết rõ căn tánh của chúng sanh, phương tiện nói các pháp, đều khiến cho chúng được hoan hỷ.” (kinh Diệu Pháp Liên Hoa quyển 1 phẩm Phương Tiện)

[7] “Biết như thật tâm thức phân biệt và tâm sở pháp (chỉ tâm tham sân si) của chúng sanh ở các cõi. Biết tất cả tâm tham, tâm sân, tâm si, tâm ly tham ly sân ly si, cho đến tụ tâm, tán tâm, tiểu tâm, đại tâm, tâm tịch tĩnh, tâm không tịch tĩnh, tâm giải thoát, tâm không giải thoát, đều biết như thật.” (Kinh Ðại Phẩm Bát Nhã, Vãng Sanh phẩm thứ tư)

[8] “Ở đời có bốn loại ngựa tốt. Loại ngựa tốt thứ nhất, chỉ nhìn thấy cây roi là nó lao nhanh về phía trước, chạy nhanh hay chậm tùy theo ý của người điều khiển. Loại ngựa tốt thứ hai, người điều khiển dùng roi chạm nhè nhẹ vào lông đuôi thì ngựa có thể chạy theo ý muốn. Loại ngựa thứ ba là người điều khiển dùng roi đánh nhẹ vào thân ngựa, ngựa sẽ chạy theo ý muốn của người điều khiển. Loại ngựa thứ tư, dùng roi đánh mạnh, hoặc thật mạnh có khi làm thân ngựa phải tổn thương, lúc bây giờ ngựa mới chịu chạy theo ý muốn của người điều khiển. (Kinh Tạp A Hàm quyển 33)

[9] “Phật biết rõ có người chỉ cần dạy nhập vào không môn mà được giải thoát, có người chỉ cần dạy vô tướng môn mà được giải thoát, có người chỉ cần dạy vô tác môn mà được giải thoát, có người chỉ dạy phương pháp tu không cần phương tiện cũng có thể được giải thoát, có người phải dạy rất lâu mới có thể được giải thoát, có người chỉ dạy không lâu lắm thì có thể được giải thoát, có người vừa mới chỉ dạy liền có thể giải thoát, có người phải dùng lời nhu nhuyến chỉ dạy mới được giải thoát, có người phải dạy rất khổ nhọc mới có thể giải thoát, có người phải cần giải thích rất nhiều mới được giải thoát. Có người chỉ thấy sức thần thông có thể đạt được giải thoát, có người thuyết pháp mà được giải thoát, có người giữ giới dâm mà được giải thoát, có người sân nhuế nhiều làm tăng thêm sân nhuế mà được giải thoát, … Như vậy chúng sanh nhờ đủ loại nhân duyên mà đạt được giải thoát. …Thế là trong sự cần cầu giải thoát rõ biết tri kiến, đây gọi là giải thoát các tri kiến vốn có.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 21)

[10] “Biết chúng sanh tu tập ở các địa, trong một niệm biết được tâm niệm của vô biên chúng sanh và biết hành vi của vô biên chúng sanh.” (Kinh Hoa Nghiêm quyển 18)

[11] “Một là bố thí vô tận, Bồ tát hay làm việc bố thí cho đến ngay cả thân mạng cũng có thể bố thí cho người khác, mà tâm không mỏi mệt. Hai là trì giới vô tận, Bồ tát hộ trì giới, chưa từng làm trái hoặc xả bỏ, lại còn dùng giới pháp để giáo hóa mọi người, mà tâm không mệt mỏi. Ba là học rộng vô tận, Bồ tát học rộng hết thảy kinh điển cho đến am luyện các nghệ thuật thế gian mà không thấy mệt mỏi.” (Kinh Chúng Ðức Tam Muội)

[12] “Từ lúc sơ phát tâm, ở trong a tăng kỳ kiếp, tu tập tất cả pháp môn, đời đời thế thế làm tất cả công đức. Nhất tâm tinh chuyên, không tiếc thân mạng để cầu trí tuệ. …cho nên tu tập tất cả các điều thiện để tăng trưởng đại bi, tăng trưởng trí tuệ, đầy đủ chúng tuệ.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 21)

            “Từ lúc sơ phát tâm tu giới, tăng trưởng vô lượng công đức, đầy đủ tâm từ bi, không cầu quả báo, không hướng đến con đường Thanh văn, Bích Chi Phật, không rời các kiết sử, nhưng vì tự tâm thanh tịnh, chúng sanh còn đau khổ, nên đời đời trì giới. Tu tập như vậy, khi đắc Phật đạo giới được đầy đủ.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 21)

[13] “Phật đã từng gần gũi trăm nghìn vạn ức chư Phật, nỗ lực thực hành vô lượng đạo pháp của chư Phật, dũng mãnh tinh tấn, danh hiệu gọi là Phổ Văn, thành tựu pháp sâu xa chưa từng có.” (Phẩm Phương Tiện quyển một kinh Pháp Hoa)

[14] “Ta quán thấy tất cả đều bình đẳng, không có tâm bỉ thử yêu ghét. Ta không tham trước cũng không giới hạn bởi chướng ngại, hằng vì tất cả chúng sanh bình đẳng thuyết pháp. Dù là một người hay nhiều người cũng vậy, thường diễn thuyết giáo pháp, chưa từng có việc gì khác. Xưa nay chưa từng mệt mỏi làm cho thế gian đầy đủ pháp lạc, giống như trận mưa lớn thấm nhuần hết tất cả, người cao sang kẻ hạ tiện, người giàu có kẻ bần hèn, người trì giới hay phạm giới, oai nghi đầy đủ hay không đầy đủ, chánh kiến hay tà kiến, căn trí thông minh hay căn trí chậm chạp v.v…đều thấm nhuần mưa pháp.” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, quyển 3, phẩm Dược Thảo Dụ)

[15] “Chúng sanh không tín thọ những gì Như Lai dạy dỗ, tuy cũng có người làm trái với lời dạy, Phật không vì điều đó mà có phiền não sân, không có sầu não, tu tập tâm xả không mất chánh niệm, cũng không phóng dật.” (Kinh Bồ Tát Thiện Giới, quyển 9)

[16] “Chúng sanh, có người nghe Như Lai thuyết pháp, có người không nghe, có người không vui, cũng có người không buồn không nghe, tu tập tâm xả không mất chánh niệm, cũng không phóng dật.” (Kinh Bồ Tát Thiện Giới, quyển 9)

[17] “Có chúng sanh mang tâm ác hủy báng Phật, Phật cũng không có niệm ác. Có chúng sanh xưng tán khen ngợi Phật, Phật cũng không hỷ tưởng, Phật dùng tâm từ bi nhìn tất cả kẻ oán người thân đều bình đẳng không sai khác. Tất cả chúng sanh hữu tình đều biết việc này. Sức từ bi nhẫn nhục có thể thắng hết tất cả, vì để độ chúng sanh, đời đời tinh tấn, tâm Phật luôn ở trạng thái định để làm lợi ích cho chúng sanh.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 2)

[18] “…Không ghét bỏ chúng sanh phá giới mà giáo hóa chúng thành tựu pháp hỷ thanh tịnh, có thể nhẫn chịu những chúng sanh làm ác, thệ nguyện cứu độ cho chúng được pháp hỷ thanh tịnh.” (Kinh Hoa Nghiêm, quyển 58)

[19] “Dùng tâm đại từ bi này và các pháp không, vì hai nhân duyên này có thể không tiếc những gì có được, để làm lợi ích chúng sanh, không khởi nghĩ là việc khó làm hay khổ hạnh, mà luôn nhất tâm tinh tấn hoan hỷ.” (Ðại Trí Ðộ Luận, quyển 53)

[20] “Diễn xướng nghĩa thật tướng, khai triển pháp nhất thừa, rộng độ tất cả chúng sanh, khiến cho mau chóng thành Bồ đề.” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, quyển 2)  

[21] “Ta nghe pháp âm này đắc được chỗ chưa từng có, tâm luôn đại hoan hỷ, tất cả nghi ngờ đều được đoạn trừ… …Âm thanh của Phật thật hy hữu, có thể đoạn trừ phiền não của chúng sanh, Ta đã hết các lậu hoặc, cho nên chúng sanh nghe được âm thanh của Ta cũng đoạn trừ được ái nhiễm phiền não.” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, quyển 2) 

[22] “Tín là mẹ sinh ra các công đức, có thể tăng trưởng các pháp lành; trừ diệt các nghi hoặc, thị hiện khai chứng vô thượng đạo. Niềm tin vững chắc thanh tịnh xa lìa các cấu uế, cung kính vốn diệt trừ được tâm tự cao kiêu mạn.” (Kinh Hoa Nghiêm quyển 6 phẩm Hiền Thủ Bồ Tát)

[23] “Phật pháp như biển lớn, tin thì có thể vào, trí thì có thể độ. …Lại nữa kinh nói niềm tin là đôi tay, giống như người vào trong núi báo tự tại lấy những của quý đem về, nếu không có tay không thể lấy gì cả, người có niềm tin cũng như vậy. Vào Phật pháp căn lực vô lậu, tu tập thiền định, trong núi báo thiền định có thể chứng đắc một cách tự tại.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 1)

[24] “Một căn của Như Lai có thể thấy sắc, nghe tiếng, ngửi mùi, nếm vị, biết pháp. Một căn của Như Lai hiện ra được như vậy, các căn còn lại cũng đều như vậy.” (Kinh Niết Bàn)

            “Kinh Ðại Bát Nhã nói rằng: Một thuở nọ Phật Thế Tôn từ trong thiền định an lạc mà dậy, dùng thiên nhãn quán sát thế giới, hoan hỷ mỉm cười.” (Ðại Tí Ðộ Luận quyển 7)

[25] “Chúng sanh cõi này các căn đều lanh lợi, do vậy tùy theo tác dụng các căn của chúng sanh mà Phật khiến cho chúng được lợi ích. Chúng sanh cõi này nhĩ căn lanh lợi hơn hết, cho nên Phật dùng âm thanh để thuyết pháp.” (Pháp Hoa Huyền Nghĩa quyển 6)

[26] “Ánh sáng Niết bàn mà Phật nói, nhập vào lỗ chân lông của tất cả chúng sanh. Chúng sanh tuy chưa phát tâm Bồ đề nhưng ánh sáng đó có thể làm nhân để phát tâm Bồ đề.” (Kinh Niết Bàn quyển 9)

[27] “Ta từ khi thành Phật cho đến nay, rộng nói diễn thuyết giáo pháp, tất cả nhân duyên, tất cả thí dụ, vô số phương tiện dẫn dắt dạy dỗ chúng sanh, khiến cho chúng xả bỏ đoạn trừ tất cả chấp trước.” (Kinh Pháp Hoa quyển 1 phẩm Phương Tiện)

            “Như Lai có thể phân biệt chủng loại, khéo thuyết tất cả pháp, ngôn từ nhu nhuyến, khiến cho chúng sanh được an lạc.” (Kinh Pháp Hoa quyển 1 phẩm Phương Tiện)

            “Chỗ chứng đắc các pháp của chư Phật có sức phương tiện vô lượng và vì chúng sanh mà thuyết pháp. Tâm chúng sanh vọng tưởng nghĩ nhớ, không biết cách tu tập, nếu làm theo sở thích, sẽ tạo nghiệp thiện ác ở đời, Phật đều rõ biết điều này, nên dùng các thí dụ nhân duyên phương tiện, lời nói nhu nhuyến khiến tất cả đều được hoan hỷ.” (Kinh Pháp Hoa quyển 1 phẩm Phương Tiện)

            “Tất cả các đấng Như Lai, dùng vô lượng phương tiện để độ thoát hết thảy chúng sanh, được thể nhập vào trí vô lậu Phật.” (Kinh Pháp Hoa quyển 1 phẩm Phương Tiện)

[28] “Nhờ vào sức phương tiện, tuy khai thị các pháp, kỳ thật chỉ vì dẫn dắt chúng sanh đạt đến Phật thừa. Phật biết các hành động tạo tác của chúng sanh, vọng tưởng chấp trước nặng nề là do tập khí, tập tính nhiều đời quá khứ và căn cơ nhanh chậm. Phật dùng những nhân duyên, thí dụ và lời nói, tùy phương tiện thuyết pháp.” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa quyển 1)

            “Hiện phương tiện để giảng dạy.” (Kinh Lăng Già quyển 1)

            “Thí dụ trưởng giả chỉ có một người con trai, cho nên rất mực quan tâm thương yêu. Ðến tuổi đi học, đưa đến chỗ Thầy giáo để thọ học. Thầy e đứa bé kia học không thành, nên tìm phương tiện, giúp học trò ham học. Ngày đêm ân cần chỉ dạy nữa chữ mà không dạy Tỳ Già luận. Vì sao vậy? Vì đứa bé ấy tuổi còn nhỏ, sức không kham nổi… Nữa chữ, chính là chín bộ kinh (chỉ kinh điển tiểu thừa). Tỳ Già luận, là chỉ kinh điển Phương Ðẳng đại thừa.” (Kinh Niết Bàn quyển 5)

[29] “Phật thuyết pháp chỉ có một tướng chân thật, nhưng vì chúng sanh trình độ căn cơ khác nhau nên phân biệt ra nói có 12 bộ loại kinh, tám vạn bốn nghìn pháp môn.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 19)

[30] “Chúng sanh vô minh hành động tạo tác, chấp trước điên đảo, phiền não trói buộc, lại tuân theo những người xem sao giải hạn. Mỗi vì sao tuy có tốt, những người sanh ra đồng một sao nhưng lại giàu nghèo bần tiện khác nhau, do vậy Ta biết đây là pháp bất định.”

            “Chư Phật Thế Tôn không nhìn chúng sanh ở dòng tộc, họ hàng, già trẻ, giàu nghèo, ngày tháng, sao hạn, khéo léo, hạ tiện, nô bộc, nô tỳ. Duy chỉ quán thấy chúng sanh có thiện tâm hay không. Nếu một người có tâm tốt sẽ có hành vi từ bi cao thượng.” (Kinh Niết Bàn phẩm Phạm Hạnh)

[31] “Tất cả chư Phật đều thấu rõ triệt để thật tướng của các pháp, sau đó vì chúng sanh mà thuyết thật tướng của các pháp. Nay Phật (chỉ Phật Thích Ca) cũng như vậy, cho nên gọi là bậc hiểu biết như thật, cũng gọi là bậc thuyết pháp như thật. (Ðại Nhật Kinh Sớ quyển 1)

            “Thánh giáo của Như Lai, là thanh tịnh thù thắng chân thật nhất trong tất cả tà giáo ngoại đạo thế gian, thánh giáo ấy giống như đề hồ, cũng như nước cam lồ, khiến cho đạt được Niết bàn, mãi mãi không còn bị sanh tử.” (Phật Ðịa Luận quyển 3)

[32] “Này Thiện nam tử! (đầu tư giáo dục) Giống như ba mảnh ruộng. Mảnh ruộng thứ nhất đất đai màu mỡ, không có gạch sỏi đá hay bụi cây có gai nào, mà đường dẫn nước tiện lợi, trồng một phần mà thu hoạch được 100 phần. Mảnh ruộng thứ hai, tuy không có gạch sỏi đá hay bụi cây có gai nào, đất đai không màu mỡ lắm, đường dẫn nước không tiện lợi lắm, thu hoạch giảm đi một nửa. Mảnh ruộng thứ ba, đường dẫn nước khó khăn, có nhiều gạch sỏi đá và bụi cây có gai, trồng một phần chỉ thu hoạch được một phần, vì có quá nhiều cỏ gai. Này Thiện nam tử! Người nông phu vào tháng mùa xuân nên trồng ở mảnh ruộng nào trước?... Trước hết là trồng ở mảnh ruộng thứ nhất, sau đó trồng ở mảnh ruộng thứ hai và cuối cùng mới trồng ở mảnh ruộng thứ ba. Mảnh ruộng thứ nhất dụ cho hàng Bồ tát, mảnh ruộng thứ hai dụ cho hàng Thanh văn và mảnh ruộng thứ ba là dụ cho hàng Nhất xiển đề.” (Kinh Niết Bàn quyển 33)

[33] “Người con thứ nhất hiếu thuận với cha mẹ, và thông minh lanh lợi, có trí tuệ, biết mọi việc ở đời. Người con thứ hai không hiếu thuận với cha mẹ lắm, và cũng rất thông minh nhanh nhẹn, có thể biết những việc ở đời. Người con thứ ba đã không hiếu thuận với cha mẹ lại không thông minh lanh lợi, không biết những việc ở đời. Cha mẹ dạy ba người con, trước hết dạy người con thứ nhất, kế đến dạy người con thứ hai và sau cùng là dạy người con thứ ba. Người con thứ nhất thí dụ cho hàng Bồ tát, người con thứ hai dụ cho hàng Thanh văn và người con thứ ba dụ cho hàng Nhất xiển đề. Phật dạy dỗ chúng sanh cũng giống như thứ tự cha mẹ dạy ba người con kia vậy.” (Kinh Niết Bàn quyển 33)

[34] “Thí dụ một người nọ có bảy người con, trong bảy người con ấy có một người bị bệnh tật, tâm cha mẹ không phải không bình đẳng, nhưng đặc biệt quan tâm chăm sóc người con có bệnh kia… Như Lai cũng như vậy, Như Lai đối với chúng sanh không phải không bình đẳng, nhưng đối với chúng sanh nào có tội Như Lai đặc biệt quan tâm.” (Kinh Niết Bàn quyển 20)

[35] “Vua giống như cha mẹ, tấm lòng yêu thương không có sai biệt; quốc dân giống như con, trung hiếu phải làm tròn.” (Kinh Phật Vi Thắng Quang Thiên Tử Thuyết Vương Pháp)

            “Nhân dân lấy vua làm mạng, vua lấy luật pháp làm thân, Phật pháp bắt đầu từ lòng từ, thế giới sẽ hòa bình.” (Kinh Hoa Nghiêm)

[36] “Phật diễn thuyết kinh điển, ý nghĩa sâu sắc vi diệu, âm thanh thanh tịnh, nói lời nhu nhuyến. Giáo hóa chư Bồ tát nhiều vô số ức, phạm âm thâm diệu khiến cho người nghe rất thích thú. Các thế giới khác cần cầu chánh pháp, Phật thuyết đủ loại nhân duyên, cho đến vô lượng thí dụ để làm rõ Phật pháp, khai ngộ cho chúng sanh. Nếu có người nào đau khổ, chán ghét già bệnh chết, Phật vì chúng sanh ấy thuyết Niết bàn đoạn tận chư khổ não. Nếu người có phước đức do nhân duyên đã từng cúng dường Phật, cần cầu pháp thù thắng, Phật vì chúng sanh đó mà thuyết pháp duyên khởi. Nếu có Phật tử tu tập các hạnh lành, cần cầu vô thượng tuệ, Phật vì đó mà thuyết con đường đưa đến thanh tịnh.” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa quyển 1)

            “Phật diễn thuyết chánh pháp trước thiện giữa thiện và sau cũng đều thiện. Lời nói rất tài khéo, nghĩa lý vô cùng sâu xa vi diệu, thuần tịnh không tạp nhiễm, có đầy đủ tướng phạm hạnh thanh tịnh. Vì những người cầu quả vị Thanh văn, Phật thuyết pháp Tứ Ðế để tu tập giải thoát sanh lão bệnh tử, đạt cứu cánh Niết bàn. Vì những vị cầu quả vị Bích Chi Phật mà thuyết pháp Thập Nhị Nhân Duyên. Vì hàng Bồ tát mà thuyết Lục Ðộ Ba La Mật, khiến chứng được A Nậu đa la tam miệu tam Bồ đề, chứng nhất thiết chủng trí.” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa quyển 1)

  “Lời của Phật hay đẹp, chân thật, có lợi ích rất lớn. Pháp mà Phật diễn thuyết có sâu có cạn, quán thật tướng rất là sâu, Phật khéo nói lời lẽ dễ hiểu.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 22)

            “Phật bảo Ca Diếp rằng: Kinh này gọi là Ðại Niết Bàn. Lời trước thiện, lời giữa thiện và lời cuối cũng thiện, ý nghĩa thâm sâu, văn kinh cũng thuần thiện, đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh, kim cang bảo tạng cũng đều đầy đủ.” (Kinh Niết Bàn phẩm Danh Tự Công Ðức) 

[37] “Nếu có chúng sanh đến chỗ Ta, Ta dùng Phật nhãn quán thấy chúng sanh ấy căn tánh nhanh lẹ hay chậm chạp, tùy theo đó mà hóa độ, tùy theo chúng sanh tuổi tác lớn nhỏ mà thuyết những pháp khác nhau, … lại dùng đủ loại phương tiện, nói pháp vi diệu có thể khiến cho chúng sanh phát tâm hoan hỷ.” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa quyển 5)

[38] “Tùy theo lợi ích của chúng sanh mà thuyết pháp, đối với người thanh tịnh Phật dùng lời nhẹ nhàng khuyến khích, đối với người không thanh tịnh Phật dùng lời nghiêm khắc khiển trách. Dù là dùng lời nhẹ nhàng khuyến khích hay nghiêm khắc khiển trách, chúng sanh vẫn có được lợi ích như nhau.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 22)

            “Lời của Phật là tùy theo thiện pháp, nhưng không chấp trước thiện pháp. Tuy là pháp khiển trách nghiêm khắc, cũng không lấy đó làm cao. Tuy những lời nghiêm khắc cũng không có trách tội. Tuy những lời tán thán khen ngợi, cũng không nương tựa chấp vào. Lời dạy của Phật không tăng không giảm, hoặc đơn giản hoặc rộng rãi.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 22)

            “Lời Phật dạy là như vậy, có rất nhiều việc hy hữu, có thể khiến cho chúng sanh sởn tóc gáy, toát mồ hôi, thân thể run rẩy. Cũng có thể khiến cho tâm hưởng thụ của chư Thiên cảm thấy mệt mỏi, âm thanh biến khắp cả mười phương, sáu nơi chấn động. Cũng có thể khiến cho con người ở thế giới này có thể xả bỏ những chấp trước từ vô thỉ, những người không chấp trước thì được an lạc… Kẻ xấu nghe được, tự biết mình có lỗi lo lắng sợ hãi. Người hiền lành có tâm hướng về đạo nghe được lời của Phật, giống như uống nước cam lồ. Lời ban đầu nghe cũng lợi lạc, lời giữa nghe cũng lợi lạc, và lời sau cùng nghe cũng lợi lạc. Lại nữa, trong hội chúng mỗi người tùy theo chỗ nghe của mình mà được lợi ích.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 22)

[39] “Phật biết trong thân của chúng sanh tự tánh vốn là thanh tịnh giống như Phật không có sai khác, nhưng chúng sanh không biết mình vốn có tánh giác giống như Phật, chỉ vì thường bị che lấp bởi chấp trước sáu trần phiền não cho nên tánh giác không hiện ra được, do vậy Phật phát từ bi nguyện, Ta thương xót và bạt tế chúng sanh như thệ nguyện của Ta.” (Bí Tạng ký)

            “Nguyên nhân hóa độ chúng sanh là thuyết vô thượng pháp lạc vi diệu để đoạn trừ các cây phiền não và trồng các cây vô thượng pháp lạc.” (Kinh Niết Bàn quyển 4)

            “Nhân duyên đặc biệt Như Lai xuất hiện ở đời là khiến cho chúng sanh đạt được lợi ích an lạc.”

[40] “Như Lai do Thành sở tác trí biến hiện vô lượng tùy loại hóa thân, thân thị hiện ở cõi uế độ, là vì hàng nhị thừa chưa chứng các địa của Bồ tát, tùy cơ nghi thuyết pháp khiến cho đạt được lợi lạc.” (Duy Thức Luận quyển 10)

            “Như Lai đã từng trong vô số kiếp tu tập vô lượng phước tuệ, hiện khởi vô lượng công đức và thường biến sắc thân thanh tịnh tròn đầy, tương tục cùng khắp, suốt đến tận đời vị lai, thường tự thọ dụng pháp lạc rộng lớn.” (Duy Thức Luận quyển 10)

[41] “Tất cả các loại chúng sanh như noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, không phải hữu tưởng cũng không phải vô tưởng, Ta đều khiến cho nhập diệt độ vô dư Niết bàn.” (Kinh Kim Cang Ðại Thừa Chánh Tông Phần)

            “Phật thuyết pháp sâu xa vi diệu cho khắp mười phương chúng sanh.” (Kinh Vô Lượng Thọ quyển hạ)

[42] “Khuyên dạy chúng sanh, khai mở phát tâm này (chỉ Bồ đề tâm, hoặc Linh tánh hoặc Phật Tánh…) dùng pháp chân thật… tu tập hướng đến trí tuệ vô thượng chánh đẳng giác.” (Kinh Tâm Ðịa Quán quyển 2)

            “Phật khéo giúp chúng sanh khai mở tri kiến thanh tịnh, giúp chúng sanh chứng đắc được tuệ giác Phật đà.” (Ðại Nhật Kinh Sớ quyển 9)

            “Sở dĩ Phật xuất hiện ở đời là vì chỉ dạy cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật của chính mình.” (Kinh Pháp Hoa phẩm Phương Tiện)

            “Như Lai là một vị Nhất Thiết Trí, Nhất Thiết Kiến, Trí Ðộ, Khai Ðạo.” (Kinh Pháp Hoa phẩm Dược Thảo Dụ)

            “Phật quán thấy chúng sanh luân hồi trong năm đường ở khắp mười phương thế giới… mà từ bi thuyết pháp giúp chúng sanh đoạn trừ ba chướng.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 27)

            “Khai đạo giáo hóa hằng hà sa vô lượng chúng sanh khiến cho chúng đạt được đạo vô thượng chánh chân.” (Kinh Tâm Ðịa Quán quyển 2) 

[43] “Hành giả có thể thứ tự thực hành tu tập theo pháp của Phật đã thuyết, chắc chắn sẽ đạt được kết quả. Giống như người bệnh uống thuốc theo lời chỉ dẫn của bác sĩ, bệnh chắc chắn sẽ hết. Nếu không thực hành theo lời Phật dạy, phá giới loạn tâm, không thể nào đạt được kết quả, như vậy không phải là pháp không hay. Lại nữa, những ai chưa đắc đạo, đời này tuy chưa chứng đắc Niết bàn, nhưng cũng đạt được kết quả là không có các phiền não, đời sau cũng có phước báo an vui, tiếp tục tu hành, dần dần cũng đắc được Niết bàn…” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 22)

            “Trong pháp Phật do nhân duyên triển chuyển sẽ sanh ra kết quả, như do trì giới thanh tịnh, tâm không hối hận. Do tâm không hối hận nên sanh ra hoan hỷ, do hoan hỷ thân tâm được an lạc, do thân tâm an lạc nên nhiếp tâm. Do nhiếp tâm nên hiểu biết như thật… ly dục… được giải thoát… đắc Niết bàn.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 22)

[44] “Vọng tưởng chấp trước trần cảnh, tâm thức ô nhiễm. Xa lìa vọng tưởng và ô nhiễm thì pháp nhãn sẽ được sáng suốt, chắc chắn sẽ đắc tuệ giác vô thượng.” (Kinh Hoa Nghiêm)

[45] “Như Lai là vua trong các pháp, những gì Như Lai thuyết đều không hư dối.” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa quyển 2)

            “Duy chỉ có Phật với Phật mới có thể thấu rõ thật tướng của các pháp.” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa quyển 2)

            “Tất cả pháp môn tu hành của Như Lai lúc sơ phát tâm đều y theo viên giác thanh tịnh trong sáng, chiếu soi khắp cả, mới có thể đoạn trừ vô minh vĩnh viễn, thành tựu tuệ giác Phật đà.” (Kinh Viên Giác)

            “Chỗ chứng biết của chư Phật và Bồ tát là chân thật bất hư, nên gọi đó là đế.” (Tứ Giáo Nghi quyển 1)

            “Nhất thật tướng gọi là đạo lý chân thật không hai không khác, xa lìa các tướng hư vọng… Những kinh Ðại thừa Như Lai đã thuyết đều lấy nghĩa thật tướng.” (Tam Tạng Pháp Số quyển 4)

            “Lời nói không sai khác, dù thô hay tế, nhiều hay ít, sâu hay cạn đều như thật.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 21)

[46] “Phật dạy về tướng của các pháp đều không hý luận, có nghĩa lý đều rõ chân tướng. Phật diễn thuyết thuận theo đệ nhất nghĩa (chân như, thật tướng, trung đạo…), tuy nói pháp thế gian nhưng không trái với tục đế và chân đế, thuận theo lợi ích của chúng sanh mà nói.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 22)

            “Khai mở cửa phương tiện, hiển thị tướng chân thật.” (Pháp Hoa Văn Cú quyển 3)

            “Ðúng với đạo lý gọi là phương, lời nói khéo léo gọi là tiện. Nghĩa là, nghĩa lý sâu xa, khéo nói khéo diễn đạt, văn nghĩa hợp nhất gọi là phương tiện… Chúng sanh đủ duyên tập hợp trong thành là phương, Như Lai dùng pháp thích hợp giáo hóa là tiện. Tùy bệnh cho thuốc, tùy phương thí tiện, tùy căn cơ mà thí giáo, gọi là phương tiện.” (Gia Tường Pháp Hoa Nghĩa Sớ quyển 4)

            “Làm lợi ích có nguyên tắc gọi là phương, tùy thời cứu giúp gọi là tiện.” (Pháp Hoa Huyền Tán quyển 3)

[47] “Như mười hai phần kinh Ta đã thuyết, hoặc thuyết theo ý mình, hoặc thuyết theo ý người, hoặc thuyết theo ý mình ý người.” (Kinh Niết Bàn quyển 35)

            “Biết pháp chân thật nhất thừa, gọi là thật trí. Hiểu rõ pháp ba thừa là quyền hóa, gọi là phương tiện.” (Ðại Thừa Nghĩa Chương quyển 19)

            “Thế đế là đệ nhất nghĩa. Vì tùy thuận chúng sanh, phương tiện thiện xảo nói có nhị đế.” (Kinh Niết Bàn quyển 30)

            “Cảnh giới của chư Phật không thể nghĩ bàn, bao trùm biến khắp tất cả pháp giới.” (Kinh Hoa Nghiêm quyển 2)

            “Phật khéo nói pháp như vậy, khiến chúng sanh đạt được kết quả ngay trong đời này, không còn phiền não, có cuộc sống an lành, tự tại vô ngại, hai đế không chống trái nhau.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 22)

[48] “Phật biết rõ căn tánh thông minh nhanh chậm của chúng sanh, do đó tùy căn cơ mà nhiếp thọ, khai đạo, giáo hóa, khiến cho chúng sanh đều nghe được giáo pháp, sau đó tinh tấn thực hành diệu pháp, giải thoát sanh tử.” (Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả quyển 4)

[49] “Như vậy chỉ phân biệt năm thời pháp này, cũng không giới hạn ở năm tháng ngày giờ, nhưng tùy theo chúng sanh muốn nghe sẽ được nghe. Thần lực thuyết pháp của Như lai rất tự tại, đồng một âm thanh của Phật nhưng tùy theo căn cơ khác nhau của chúng sanh mà hiểu lời Phật có khác nhau hoặc đạt được kết quả khác nhau, vì sao lại như vậy? vì có người căn trí lanh lợi một chút, không cần trải qua năm vị, hoặc chỉ trải qua ba hoặc bốn vị liền có thể đắc nhập chân thật pháp.” (Giáo Quán Cương Tông)

[50] “Pháp của Như lai đã thuyết nhiều như hư không. Chúng sanh muôn loài không loài nào không được lợi ích, cho nên lợi ích của pháp rộng khắp pháp giới chúng sanh.” (Ðồng Tư Trì Ký)

[51] “Như Lai vì đại từ bi thương xót chúng sanh trong ba cõi, cho nên xuất hiện ở đời, diễn thuyết chánh pháp cứu giúp chúng sanh đạt được lợi ích chân thật, là việc vô lượng ức kiếp khó thấy khó gặp.” (Kinh Vô Lượng Thọ)

            “Một câu pháp nhiệm mầu ức kiếp khó gặp.” (Bí Tạng Bảo Thược quyển trung)

            “Ta không tiếc thân mạng, chỉ tiếc đạo vô thượng.” (Kinh Pháp Hoa phẩm Khuyến Trì)

            “Ân lớn của Thế Tôn, dùng việc hiếm có, thương xót giáo hóa làm lợi ích cho chúng ta.” Kinh Pháp Hoa phẩm Tín Giải)

            “Nếu có người nói, ta có một câu pháp của Phật, có thể thành tựu hạnh của Bồ tát. Nếu ngươi có thể vào hầm lửa lớn, chịu đựng đau khổ, ta sẽ đọc câu pháp ấy cho ngươi. Lúc ấy Bồ tát nói rằng: Ta dùng câu pháp của Phật đã nói để thành tựu hạnh của Bồ tát, giả như trong tam thiên đại thiên đều là lửa, ta cũng sẵn sàng từ trên cõi Phạm thiên ném thân xuống, hà huống gì hầm lửa nhỏ kia mà không thể vào sao?!” (Kinh Hoa Nghiêm quyển 35)

[52] “Ta đã trải qua trăm ngàn muôn ức a tăng kỳ kiếp tu tập mới chứng đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề này (trí tuệ viên mãn vô thượng), nay Ta đem trí tuệ khó chứng đắc này phó chúc cho các người.” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Chúc Lụy)

[53] “Lúc bây giờ bốn chúng (Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di) đi nhiễu quanh Ðức Thế Tôn, cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen. Như Lai vì hàng Bồ tát mà nói kinh Ðại thừa, có tên là Vô Lượng Nghĩa. Pháp giáo hóa hàng Bồ tát được chư Phật hộ niệm. Phật nói kinh này xong, ngồi kiết già nhập vào chánh định vô lượng nghĩa xứ, thân tâm không lay động. Lúc này trời mưa hoa mạn đà la, hoa ma ha mạn đà la, hoa mạn thù sa, hoa ma ha mạn thù sa, để rải trên thân Ðức Phật cùng hàng đại chúng, khắp các cõi Phật sáu loại vang động. Lúc bấy giờ trong hội chúng tất cả đều thấy việc chưa từng có, vui mừng chấp tay thành tâm ngắm nhìn Phật. Lúc bấy giờ Ðức Phật từ nơi tướng lông trắng giữa hai chân mày phóng ra luồng hào quang, chiếu khắp một muôn tám nghìn cõi ở phương đông, không nơi nào không chiếu đến…” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa quyển 1 phẩm Tựa) 

[54] “Có khi Phật vì chúng sanh mà thuyết pháp khiến cho chúng sanh đắc đạo. Có khi Phật phóng vô lượng hào quang, chúng sanh gặp được hào quang ấy mà đắc đạo. Có khi Phật hiện thần thông biến hóa chỉ bày cho chúng sanh thấy được tâm Phật mà đắc đạo. Có khi Phật chỉ hiện thân, chúng sanh gặp Phật nghe pháp rồi thực hành mà đắc đạo. Có khi trên thân Phật tỏa ra mùi thơm rất kỳ diệu, chúng sanh ngửi được mùi thơm đó mà đắc đạo. Có khi Phật dùng thức ăn bố thí cho chúng sanh khiến chúng đắc đạo. Có chúng sanh chỉ niệm Phật mà đắc đạo.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 34)

[55] “Khi Thế Tôn nhập vào chánh định, giống như ánh sáng mặt trời chiếu khắp cõi Diêm phù đề. Mỗi lỗ chân lông trên thân Phật phóng ra vô lượng hào quang, chiếu khắp mười phương hằng hà sa thế giới. Trong mỗi một hào quang hiện ra hoa sen thất bảo nghìn cánh, trên mỗi đóa sen đều có một vị Phật, mỗi vị Phật đều phóng vô lượng hào quang, trong mỗi hào quang đều hiện ra hoa sen thất bảo nghìn cánh, trên mỗi hoa sen đều có một vị Phật… cứ như vậy, hào quang của Phật chiếu khắp mười phương hằng hà sa thế giới, giáo hóa chúng sanh. Hoặc hộ pháp, hoặc lặng lẽ, hoặc kinh hành, hoặc hiện thần thông biến hóa, thân xuất ra nước, ra lửa, dùng các loại phương tiện như vậy để độ thoát chúng sanh trong năm đường khắp mười phương.” (Ðại Trí Ðộ Luận quyển 21)      

[56] “Từ khi Ta thành Phật cho đến nay, đã trải qua vô số kiếp, vô lượng trăm ngàn muôn ức A tăng kỳ kiếp, thường nói pháp giáo hóa chúng sanh, khiến cho vô số chúng sanh thành tựu Phật đạo.” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa quyển 5)

[57] “Mắt chúng sanh thấy được dung mạo và oai nghi của Phật, tai nghe được âm thanh của Phật, mũi ngửi được mùi hương trên thân của Phật, lưỡi nếm được vị trên thân của Phật, thân chạm được hào quang của Phật, tâm có duyên tư duy được pháp của Phật, tất cả đều đắc được pháp nhẫn sâu xa, mãi mãi không thoái chuyển cho đến khi thành Phật.” (Kinh Vô Lượng Thọ quyển thượng)

[58]      “Chư Phật Như Lai hành đạo vô thượng chánh chân chánh giác, thừa này gọi là Ðại thừa, Ðệ Nhất thừa, Diệu thừa, Tối Thắng thừa, Vô Thượng thừa, Vô Ðẳng thừa, Bất Ác thừa, Vô Ðẳng Ðẳng thừa.” (Kinh Ðại Bảo Tích quyển 28)

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

3.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập