Trang chủ Cuộc sống Tình Tiền Tù Tội

Tình Tiền Tù Tội

Đã đọc: 5382           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Đa số chúng ta ai cũng nghĩ có thật nhiều tiền bạc và của cải là hạnh phúc, đó là điều lầm lẫn quá lớn của nhân loại, nên khi có quyền lực trong tay thì tìm cách vơ vét, gom góp về cho riêng mình, nhưng tiền bạc làm ra từ sự phi pháp rất khó mà tồn tại. Khi có nhiều tiền thì phải hưởng thụ, vui chơi trác táng, dễ dẫn đến sa đọa làm mình và người khổ đau, làm mất hạnh phúc gia đình và tác hại xấu đến xã hội.

TÌNH YÊU NHÂN LOẠI TRONG CUỘC SỐNG

Cuộc sống này sẽ không còn giá trị khi con người không có tình cảm với nhau. Tình cảm con người được biểu hiện qua tâm lý, cảm xúc buồn vui, thương ghét, giận hờn, lo lắng, sợ hãi, ganh tị, tật đố và tham muốn; hay nói ngắn gọn là bị phiền não tham-sân-si chi phối, sai sử khiến con người không làm chủ được bản thân nên hành động trong mê muội, vô minh, làm những điều xấu ác có hại cho người và vật. Chúng ta sống trên đời để được chia sẻ, yêu thương và mở rộng tấm lòng nhân ái với mọi người. Chỉ có tình yêu thương chân chánh mới giúp con người sống gần gũi và cảm thông, chia sẻ trên tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau. Thế gian này không một ai sống mà không cần đến tình yêu thương, bởi nó là sợi dây vô hình mầu nhiệm kết nối làm con người được an vui, hạnh phúc; là phương thuốc tinh thần xoa dịu các nỗi đau bất hạnh để chúng ta vững vàng vượt qua những phiền muộn, khổ đau của cuộc đời. Để được yêu thương, trong cuộc sống chúng ta phải biết chia sẻ, cảm thông, luôn thương yêu, giúp đỡ tất cả mọi người mà không phân biệt thân sơ, đó mới là tình cảm của người có tâm từ bi bao la, rộng lớn. Từ tình cảm đó chúng ta sẽ được nhiều người quý kính, tôn trọng và mến thương.

Có một loại tình cảm mà nhân loại lúc nào cũng ca ngợi từ ngàn xưa cho đến nay là tình yêu nam nữ. Tình yêu lứa đôi luôn đóng vai trò thiết yếu quan trọng trong cuộc sống vì loài người sở dĩ tồn tại và phát triển là nhờ loại tình yêu mãnh liệt này. Do muốn bảo vệ cho riêng mình trong sự ích kỷ nên mới phát sinh các thứ tình cảm như yêu ghét, buồn vui, thương giận và lo lắng. Tình ở đây nói chung gọi là tình người như tình cha mẹ, tình chồng vợ, tình anh em, tình bè bạn, tình làng nghĩa xóm, tình thương tình thân, tình yêu, tình nhân loại…, vì cái tình đó mà con người sinh ra luyến ái, mến thương, yêu thích và gắn bó với nhau nhiều hơn.

Tình cảm thật sự bao la không ngần mé phải được xuất phát từ tình yêu thương chân thật không vị kỷ. Ngoài quan hệ tình dục cả hai còn có trách nhiệm, bổn phận đối với con cái. Trong tình yêu cần có sự hy sinh, bao dung, độ lượng, tha thứ và thông cảm cho nhau. Tình yêu nam nữ luôn mang tính chất ích kỷ của sự chấp ngã vì đam mê, say đắm thân này. Một khi giữa hai người không đáp ứng được nhu cầu thì tình cảm rạn nứt, vợ chồng dễ ly dị, ngọai tình và bạo hành vì tình cảm đó chỉ lợi dụng lẫn nhau mà không có tình yêu thương chân thật. Ai cũng biết tình yêu đưa đến hôn nhân và hôn nhân là đầu mối của nhiều hệ lụy khổ đau, nên mới nói “tình chỉ đẹp khi còn dang dỡ, đời mất vui khi đã vẹn câu thề”. Khi mới yêu ai cũng cố gắng che dấu khiếm khuyết của mình để được người tình yêu mến, khi đã lấy nhau rồi thói quen xấu mới lòi ra, nhà Phật gọi là tập khí. Tập khí tức những thói quen từ những suy nghĩ dẫn tới hành động, được huân tập lặp đi lặp lại nhiều lần. Bởi huân tập lâu ngày nên nó có sức mạnh chi phối, sai sử chúng ta; dù biết đó là tác hại, như người đam mê sắc dục, ham của lạ, nó vẫn có thể làm tan vỡ hạnh phúc gia đình của mình hoặc người khác, nhất là những người giàu sang, có địa vị trong xã hội. Từ vô thủy kiếp chúng ta đã sống trong lầm lạc vô minh nên huân tập rất nhiều thói quen xấu như tham lam, nóng giận, si mê. Nhiều người biết được tác hại của nó nhưng không đủ khả năng vượt qua, đành cam chịu chết trong biển sâu tội lỗi. Thật ra, tình yêu thương giữa hai người phát sinh từ tham ái mà ra bởi sự khoái lạc của chính mình. Chúng ta chỉ yêu thương người nào đem lại hạnh phúc cho mình và sẽ oán hận những ai mang đến đau khổ cho ta.

Muốn biết được sự thật của tình yêu như thế nào, chúng ta cùng nghe một cặp tình nhân luận bàn như sau: Một ông vua trong lúc cao hứng mới hỏi hoàng hậu, “chẳng hay ái khanh yêu ai nhất trên đời?” “Tiện thiếp yêu bệ hạ nhất chứ còn ai”. Vua hỏi tiếp, “tại sao ái khanh yêu trẫm?” “Vì bệ hạ đã ban cho thiếp hạnh phúc. Vậy bệ hạ có yêu thần thiếp không?” “Trẫm yêu ái khanh nhất trên đời.” “Bệ hạ nói thiệt không?” “Trẫm nói thiệt mà, ái khanh không tin sao?” “Bệ hạ nói vậy chớ làm sao chắc được. Bệ hạ cho phép thần thiếp nói khác đi được không?” “Được, ái khanh cứ nói!” “Muôn tâu hoàng thượng, thiếp chỉ thương yêu thần thiếp mà thôi.” “Ái khanh nói nghe lạ quá!” Một sự thật không thể ngờ và quá phủ phàng ít ai nghĩ tới, chỉ vì bảo vệ tình yêu cho riêng mình mà thế gian này xảy ra nhiều án mạng làm đau lòng nhân thế. Ngày xưa, một ông vua có cả hàng khối cung phi mỹ nữ để hưởng thụ cảm giác khóai lạc. Trên đời này không gì yêu thương và tha thiết bằng tình ái, chỉ một mình nó đã làm điên đảo cả thế giới loài người. Nếu ai dan díu với thê thiếp của vua sẽ mất mạng dễ dàng và bị chém đầu trong tích tắc, vì đã chạm đến bản ngã của vua, vua là trên hết, những gì của vua không ai chiếm hữu được.

Thật ra, trong tình yêu nam nữ nếu muốn được hạnh phúc chúng ta phải cho đi để được nhận lại sự yêu thương trìu mến. Đó là sự trao đổi có nghệ thuật giữa hai người, bằng không thì đường ai nấy đi vì không đáp ứng được nhu cầu cho nhau. Sự thật là như thế! Do đó, tình yêu lứa đôi luôn mang tính chất ích kỷ, hẹp hòi, muốn hưởng thụ khoái lạc cho riêng mình. Chính sự đam mê hưởng thụ đó thôi thúc con người tìm đến nhau, nhưng ít ai được hạnh phúc trọn vẹn. Thực tế thường cho thấy nhiều cặp vợ chồng gây gỗ, đánh đập nhau vì ngọai tình, cuối cùng ly dị để chịu cảnh tan nhà nát cửa. Trong tình yêu nếu thiếu tình thương chân chính thì con người dễ dàng bỏ nhau do không có sự cảm thông, tha thứ. Thói quen của người nam nặng về ham muốn nên thích chiếm đọat, sở hữu nhiều người. Người phụ nữ sống thiên về tình cảm nên đa số yêu bằng tai. Ai nhỏ nhẹ, tâng bốc, khen ngợi ngọt ngào thì dễ thu phục trái tim đàn bà. Vì thế dân gian thường nói “đẹp trai không bằng chai mặt” là như vậy. Người nam dù xấu trai đến cỡ nào nhưng cứ theo đuổi riết cũng làm xiêu lòng người đẹp.

Trở lại câu chuyện vua và hoàng hậu luận bàn về tình yêu. Hoàng hậu đã nói thật lòng mình, “thật ra, thiếp chỉ yêu thương thần thiếp, vì thương yêu mình nên muốn bệ hạ ban cho hạnh phúc mà thôi. Bệ hạ biết hông, muốn cho thân này có được hạnh phúc nên thiếp phải yêu thương bệ hạ. Có vậy bệ hạ mới thương yêu lại thần thiếp và tạo ra tình thương để thần thiếp được hạnh phúc”. Nhà vua nghe qua mới biết được sự thật của tình yêu là gì? Tình yêu vốn không xấu xa, tội lỗi, nếu chúng ta biết chia sẻ hài hòa, phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của  nhau thì tình yêu sẽ là nền tảng đạo đức đóng góp lợi ích thiết thực trong công cuộc phát triển, duy trì giống nòi nhân lọai; ngược lại, vì muốn bảo vệ tình yêu trong sự ích kỷ cá nhân mà không có tình thương yêu chân thật thì con người không rộng lượng, bao dung, tha thứ và thông cảm cho nhau, dẫn đến gia đình nhà tan cửa nát vì sự ghen tuông vô cớ mà thành ra oán hận, thù hằn. Có một nỗi đau ghê gớm hành hạ con người làm cõi lòng tan nát, trái tim từ từ rỉ máu như những mũi kim chích vào da thịt chính là tình yêu đơn phương, tức yêu người mà người không yêu lại. Tình yêu này làm con người chết dần trong đau khổ và sẽ khô khan, héo sầu thê thảm vì cảm xúc con tim không được hồi đáp lại. Những người này như điên cuồng, si dại giống như kẻ mất hồn.

Người đi một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn kia bỗng dại khờ.

Không gì đau khổ cho bằng khi thầm thương trộm nhớ mà không được người đáp lại, đến nỗi trở thành căn bệnh tương tư ăn không ngon, ngủ không yên giấc; và khổ đau nhất có lẽ là đời sống các nàng cung phi mỹ nữ thời xưa. Một ông vua có cả hàng trăm phi tần khao khát, mong chờ được ngài ban ân sủng. Nếu ai diễm phúc lọt vào mắt xanh của vua thì lòng kiêu hãnh dâng trào, rồi sanh ra lòng tham lam, ích kỷ, muốn hưởng cho riêng mình. Đó chính là nguyên nhân gây thù, chuốc oán làm khổ đau cho nhau.

Một hoàng hậu vì đã ghen ghét, đố kỵ một ái phi được nhà vua yêu thích nên cố tình tìm cách hãm hại. Bà ta thường khen ngợi sắc đẹp nghiêng thành đổ nước của ái phi với thân hình gợi cảm đầy quyến rũ. Một hôm, hoàng hậu đến thăm nàng ái phi và nói “chị nói em nghe nè, cái mũi em quá đẹp nên lúc nào cũng quyến rũ nhiều người, làm các quan trong triều mỗi khi nhìn thấy lại xao xuyến trong lòng, vì thế mỗi khi hầu vua em nên lấy khăn che mũi lại”. Ái phi nghe nói có lý nên làm theo lời hoàng hậu, không ngờ bị trúng kế độc mà không biết. Vua lấy làm lạ nên mới hỏi hoàng hậu “ái phi của trẫm sao lúc nào cũng lấy khăn che mũi lại vậy?” Sau nhiều lần gạn hỏi, hoàng hậu mới trả lời “bệ hạ không biết đó sao, ái phi chê bệ hạ hôi nên mới lấy khăn che mũi lại đó!” Câu trả lời đụng đến chỗ ngứa của nhà vua, cái mũi của ái phi được đem đi triển lãm liền lập tức và sau đó bị lưu đày biệt xứ vì cái tội dám khi dễ nhà vua. Tâm ganh ghét và tật đố của con người thật đáng sợ, họ vì quyền lợi riêng của mình mà đành lòng sát hại kẻ tình địch khi có điều kiện trong tay. Quan niệm chồng chúa vợ tôi từ cái thấy sai lầm của các ông vua thời phong kiến dựa vào học thuyết có một đấng thần linh thượng đế ban phước, giáng hoạ. Vua đại diện cho tầng lớp đó nên thời phong kiến quân chủ vua là trên hết, vua là thiên tử thay trời trị vì thiên hạ, nên vua muốn phong quan tiến chức cho ai thì phong, muốn giết ai thì giết. Ai được lòng vua thì hưởng vinh hoa phú quý cả gia tộc, bằng ngược lại sẽ chịu họa đau khổ, thê thảm không thể lường.

 Xưa nay đàn ông hai ba vợ là chuyện bình thường, nhưng một phụ nữ có hai chồng ở chung một nhà vậy mới lạ chứ; nghe qua ai cũng tưởng chuyện bịa đặt nhưng đây là sự thật. Cô ta là vợ của một sĩ quan chế độ cũ. Sau ngày nước ta hoàn toàn thống nhất, người chồng bị mất tích và hai người hoàn toàn mất liên lạc. Thời gian thấm thoắt trôi qua hơn 5 năm, người vợ nghĩ chồng đã chết nên tái giá. Đùng một cái ông chồng trở về, hỏi ra mới biết trong thời cuộc chiến ông bị quân giải phóng bắt rồi cho đi cải tạo, nay mới được tha về. Thật khó xử trước hoàn cảnh éo le, cô vợ không phải kẻ bạc tình nhưng tưởng chồng chết mà đành bước thêm bước nữa. Trước hoàn cảnh đó họ đành chấp nhận cùng chung sống với nhau. Hai ngươi đàn ông chấp nhận vợ chung xưa nay hiếm thấy, chúng ta chỉ nghe “trai năm thê bẩy thiếp, gái chính chuyên chỉ một chồng”, vậy mà cặp tình tay ba này sống bên nhau rất hòa thuận, hạnh phúc. Có người thắc mắc hỏi, “vậy chị sắp xếp thế nào trong việc chăn gối với chồng?” Cô nói rất hồn nhiên, “chúng tôi ba người đều có phòng riêng, đêm nào muốn ngủ với ai tôi chỉ việc thảy chiếc gối vào phòng người đó”. Quả thật là hy hữu và và đáng khâm phục cuộc tình tay ba có một không hay trong lịch sử. Chuyện chồng chung là việc thường thấy, còn việc vợ chung là việc khó tin nhưng lại là có thật. Họ dám can đảm hy sinh để nhường nhịn lẫn nhau mà cùng sống chung với một người đàn bà. Đúng là câu chuyện hiếm có xưa nay.

Ai cũng bảo vệ bản ngã của mình, vì thương mình nên phải nhờ người khác trao tặng để mình được hạnh phúc. Trên đời này không có gì sâu đậm, mặn nồng, tha thiết yêu thương hơn tình ái; nhưng sự thật phũ phàng, chua chát, tình yêu thực chất là gì? Là một sự lợi dụng lẫn nhau cả thể xác lẫn tinh thần nhằm thỏa mãn khoái lạc của chính mình mà thôi. Khi được thoải mái thì sanh ra yêu thích, quyến luyến, muốn giữ mãi không rời; ngược lại thì sinh thù hằn, ghét bỏ, tìm cách hãm hại nhau. Vậy mà hai người đàn ông trên vẫn vui vẻ cùng nhau chúng sống với một người phụ nữ.

Một đôi bạn trẻ xứng đôi vừa lứa cùng “thề non hẹn biển” khi công ăn việc làm ổn định sẽ thành vợ, thành chồng sống mãi bên nhau. Cùng học chung lớp chín đến lớp mười hai, Hùng và Hồng quen nhau từ đó. Do không kiềm chế được bản thân, Hồng đã trao thân gởi phận cho Hùng nên dẫn đến có thai. Đôi trẻ vì muốn tiến thân để tiếp tục việc học hành nên đành hủy hoại bào thai trong ngậm ngùi, đau xót. Hùng vào miền Nam để tiếp tục học đại học kinh tế, còn Hồng ra Đà Nẵng để học cao đẳng, ai cũng ráng cố gắng để tiếp tục duy trì việc học của mình. Nhưng Hùng đã bị sai lầm quá lớn vì kêu người tình phá thai, đây là một điều tối kỵ nhất đối với cuộc đời của phụ nữ khi phải chối bỏ trách nhiệm làm mẹ của mình. Tại sao Hùng không biết gìn giữ để Hồng vì một phút mềm lòng mà trao cái quý nhất đời mình trong khi còn đang ăn học. Người con gái ấy bất đắc dĩ đành hủy hoại cái mầm sống do hai người tạo ra trong thương tiếc, nghẹn ngào.

Phụ nữ lúc nào cũng yêu bằng tai nên bao nhiêu lời ngon, tiếng ngọt kèm theo những lời hứa hẹn trong tương lai tốt đẹp, nên Hồng đã trót trao thân quá sớm. Sau khi học ở Đà Nẵng Hồng đã phải lòng một chàng trai khác. Nàng đã thay lòng đổi dạ, đổi áo thay tình và bắt đầu ngoảnh mặt làm ngơ với người yêu cũ. Trong một lần về thăm nhà, tình cờ Hùng thấy Hồng là người yêu cũ của mình dẫn một chàng trai về giới thiệu với gia đình cô ta. Hùng uất ức, nghẹn ngào lắm mà nói không nên lời, nhiều lần điện thoại cho Hồng để được giải bày tâm sự chuyện hai đứa đã hứa hẹn với nhau, nhưng Hồng một mực từ chối không cho liên lạc. Một lần khác tại TPHCM, Hùng vô tình gặp Hồng cùng chàng trai ấy đón xe về Đà Nẵng, Hùng gặn hỏi mãi Hồng mới thú thật, “tôi và anh bây giờ hãy coi nhau như bạn bè vì giữa chúng ta không còn tình nghĩa gì nữa. Và Hồng mạnh dạn giới thiệu với Hùng “đây là chồng sắp cưới của tui đã tốt nghiệp Đại học kinh tế và đang làm việc tại TPHCM”.

Bị người yêu phụ bạc và công khai chuẩn bị lấy chồng, Hùng tiếc nuối về dĩ dãng quá khứ “phải chi mình để lại cái bào thai trong bụng Hồng thì bây giờ Hồng đã thuộc về mình”. Càng nghĩ nó càng bực tức và cau có, cuối cùng nó không còn tinh thần để học nữa và bắt đầu lao vào rượu chè be bét để giải sầu. Thế rồi Hùng bỏ học về nhà suốt ngày làm ông thần lưu linh, sáng xỉn, chiều say, tối lai rai. Mới đầu gia đình còn khuyên can, sau họ bỏ mặc Hùng muốn làm gì thì làm. Trong cơn tuyệt vọng bị người yêu hất hủi, phụ bạc, Hùng nghĩ đó là mối tình đầu đẹp nhất trong đời nhưng người khác đã cướp mất và Hùng không bao giờ quên được. Đau khổ, quằn quại, nhớ thương, tiếc nuối trong men say tình ái, nhớ lại trước kia hai đứa cùng nhau thề non hẹn biển sẽ sống đời với nhau, không gì có thể thay đổi được, mà giờ đây sự thật quá phũ phàng, Hồng đã có người yêu khác và chuẩn bị lấy chồng. Điên cuồng, hoảng loạn, chơi vơi chới với theo men say tình ái, Hùng khởi lên ý niệm giết Hồng để bảo vệ tình yêu trong trắng, rồi sau đó Hùng sẽ tự sát để cùng chết theo người yêu. Nông nổi, dại khờ, điên cuồng rồi dẫn đến mù quáng, Hùng nghĩ sao thì liền làm vậy. Sáng hôm đó, Hùng đón xe đến phòng trọ của Hồng đang ở. Sau khi giết Hồng, Hùng bèn tự sát; nhưng sự việc không thành, Hùng bị phát giác và được đưa đi bệnh viện cấp cứu. Hùng phải sống để trả một giá rất đắt về việc làm tội lỗi của mình với bản án tử hình trong nay mai.

Thật tội nghiệp và đáng tiếc cho chàng sinh viên đó. Cha mẹ cho ăn học đến ngần ấy mà không biết sáng suốt lựa chọn hướng đi tốt đẹp, cuối cùng vì tiếng sét ái tình mà trở thành kẻ giết người. Tình ái là con dao hai lưỡi, khi yêu nhau thì cái gì cũng đẹp, đến khi muốn mà không được thì con người ta đau khổ vô cùng, nhất là bị mất mát trong tình yêu. Tuổi trẻ ngày hôm nay do đời sống tiện nghi vật chất phát triển quá nhanh và bị ảnh hưởng văn hóa phẩm đồi truỵ nên không kiềm chế được bản thân, dẫn đến trong giới sinh viên, học sinh rộ lên phong trào sống thử khi còn đang đi học. Tình trạng phá thai xảy ra như cơm bữa, phẩm chất, nhân cách đạo đức đã bị mai một do mạng lưới thông tin toàn cầu quá thông dụng chuyện sống thử, chuyện đổi vợ. Các dịch dụ phim sex đã tác động không ít đến đời sống các em sinh viên, học sinh. Nhiều vụ án giết người dã man, nhiều chuyện hiếp dâm man rợ, rồi tình trạng cướp của giết người do nghiện ngập ma túy, bệnh sida lan tràn gây ảnh hưởng và lây lan cho nhiều người. Chàng sinh viên đó được đầy đủ phước báo và nhân duyên tốt đẹp nên mới được cha mẹ nuôi cho ăn học đàng hoàng, tốn kém không biết là bao; thay vì cố gắng chăm chỉ học hành đến nơi tới chốn, khi thành tài có công danh sự nghiệp rồi mặc tình đuổi bướm bắt hoa kết duyên thành chồng vợ thì hạnh phúc vô cùng; đằng này lại yêu cuồng sống vội, để rồi phải chuốc họa vào thân với cơn ghen cuồng dại.

Thường mối tình đầu hay để lại dấu ấn khó phai, Hùng mê muội, cuồng si lao vào rượu chè be bét dẫn đến khủng hoảng tinh thần mà không làm chủ được bản thân, để rồi trở thành kẻ giết người man rợ. Cha mẹ Hùng phải tảo tần siêng năng, thức khuya dậy sớm nhọc nhằn để có tiền cho con mình ăn học đàng hoàng, hầu có chút công danh sự nghiệp để nuôi thân sau này. Hồng thời gian đầu khi mới xa nhau để tiếp tục việc học hành vẫn một lòng chung thủy với Hùng, vẫn liên lạc qua lại bằng điện thoại để động viên nhau trên bước đường học tập, nhưng rồi thời gian cũng phôi phai, xa mặt cách lòng, Hồng được nhiều chàng trai khác ve vãn, tán tỉnh, gần gũi. Nếu so sánh với Hùng thì người tình sau hơn hẳn về mọi mặt, đẹp trai, học thức, uyên bác, gia đình giàu có, lại hào hoa phong nhã, nên Hồng phải lòng người sau hơn mà cho Hùng một đá thật đích đáng. Nếu Hùng là người có ý chí cao, có lòng độ lượng bao dung và có sự hiểu biết chân chính, thay vì hận người yêu thì anh phải cố gắng học giỏi hơn để sau này được thành đạt. Có tiền, có tài, có địa vị thì chuyện tình yêu lứa đôi để đi đến hôn nhân đâu có chuyện gì khó. Chim trời cá nước ai bắt được nấy hưởng, có gì đâu mà phải bận lòng, cha mẹ mất đi không thể tìm lại, còn mất người tình thì tìm người khác.

Chuyện tình ái, chuyện yêu thương chẳng qua chỉ là sự lợi dụng lẫn nhau qua xác thịt mà thôi, ít ai dám quả quyết mình có tình yêu thương chân thật, ngoại trừ duyên nợ quá khứ; nhưng Hùng vì suy nghĩ quá nông cạn nên phải trả bằng cái giá rất đắt cho cuộc đời với bản án tử hình. Cũng may cho Hùng, trong khi chờ đợi thi hành án, anh vẫn có đủ thời gian để ngồi suy gẫm những hành động ngu ngơ, mù mờ và sự ngông cuồng của mình vì yêu không được mà sinh ra thù ghét. Tình yêu như thế không phải là tình yêu thương chân thật, chẳng qua chỉ là sự tham lam, ích kỷ của riêng mình với quan niệm thà ăn không được thì phá cho hôi. Có duyên mà không có nợ thì đường ai nấy đi, luyến tiếc mà chi chút ấy để rồi phải chịu ngồi tù và chuẩn bị chờ chết với tiếng đời bêu rếu, thật là hổ thẹn làm sao cho chàng sinh viên thời hiện đại. 

Nguyên nhân chính đưa con người vào vòng tội lỗi, làm khổ đau cho nhau là do không tin sâu nhân quả, vì biết mà cố phạm, và bị nghiệp thức che đậy. Ý thức được khổ đau do sự giết hại gây ra, mỗi người chúng ta giữ giới không giết người và hạn chế tối đa các loài vật từ nhỏ đến lớn. Làm bậc cha mẹ chúng ta phải giáo dục cho con em mình từ lúc ấu thơ, khi thấy chúng tự tay giết hại những con vật nhỏ như bướm, kiến, ong, do vô tình hay cố ý. Cha mẹ phải tìm cách ngăn cản, la rầy, nói rõ cho chúng biết sự tác hại của nó, nếu không lớn lên các em có thể mạnh tay hơn giết những con vật lớn, và cuối cùng có thể giết người khi không làm chủ được bản thân. Nếu chúng ta ai cũng y theo lời Phật dạy, giữ gìn giới không giết hại thì thế giới này không có chiến tranh, binh đao, sóng thần, động đất, không sợ khủng bố trả thù, không bị bệnh tật, chết yểu, và mọi người sẽ sống an vui, hạnh phúc.

Càng suy đi nghĩ lại ta càng thương Hùng hơn. Mối tình đầu với Hùng đẹp làm sao khi nhớ lại hình ảnh thân yêu nhất lúc chung chăn xẻ gối, bây giờ đã mất tất cả. “Thôi là hết em đi đường em, tình đôi mình chỉ bấy nhiêu thôi, vì sao trời đành bắt duyên em để cho tim mình lỡ làng…”, nghe câu hát này càng thêm não nuột trong lòng. Hùng giờ đây đã biết ăn năn hối lỗi nên đã phát nguyện ăn chay trường để cầu nguyện cho Hồng mau được siêu sinh, thoát hoá, không oán hận mà mở dây oan trái, sẵn lòng rộng lượng thứ tha cho sự lỡ dại của Hùng. Hùng đã thật sự ăn năn và hối cải, đó cũng là một nhân duyên tốt, biết sám hối lỗi lầm, nhận ra khiếm khuyết và sai xót của mình. Tự lương tâm thành khẩn sám hối, ăn năn, sau này nếu được đưa ra pháp trường để trảm, anh chắc chắn cũng được thanh thản ra đi mà không oán giận một ai bởi mình làm thì mình phải chịu.

Trong lúc cận kề với cái chết, nếu người đó biết hướng tâm mạnh mẽ về nẻo thiện và luôn an trú trong chánh niệm tỉnh giác thì cũng chuyển được nghiệp xấu một phần nào. Nhờ vậy, khi bị giết chết không khởi tâm oán giận, thù hằn dù có bị trả quả về sự giết hại của mình, đến một lúc nào đó quả xấu đã hết thì sẽ được tái sinh chỗ tốt đẹp để tiếp tục làm lại cuộc đời. Trong nhà Phật có nói về tích lũy nghiệp và cận tử nghiệp. Tích lũy nghiệp là nghiệp đã huân tập nhiều đời nhiều kiếp cho đến ngày hôm nay. Cận tử nghiệp là nghiệp mới tạo tác lúc gần chết. Hai nghiệp này sẽ chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau mà quyết định đưa người chết đến cõi lành hay cõi dữ. Nghiệp của chàng sinh viên mê muội đó là giết hại người tình, trước mắt sẽ chịu án tử hình trong nay mai và nhiều kiếp về sau có thể bị quả báo chết yểu. Nhưng trong thời gian chờ xử án, chàng sinh viên đó biết ăn năn hối cải nhờ chí tâm hướng thượng mạnh mẽ nên có thể thay đổi nghiệp nhân xấu ác của mình nhờ biết hối cải. Vì thế, thời điểm lúc gần chết rất quan trọng và cần thiết, mặc dù chúng ta làm lành suốt cuộc đời nhưng khi sắp chết chúng ta tức tối, khởi tâm phiền não, sân hận thì sẽ bị tái sanh vào chỗ dữ.

Một chút tâm tình cùng pháp lữ gần xa khi mọi người đang sống trong dòng đời nghiệt ngã với bao điều họa phúc. Người được hạnh phúc thì ít mà kẻ khổ đau quá nhiều, đa số chúng ta đều sống trong vòng lẩn quẩn tình và tiền nên dễ dẫn đến tù tội. Hãy cùng chúng tôi suy gẫm để vượt qua cạm bẫy cuộc đời. Đôi lời tâm sự chân thành mong được kết duyên sâu cùng với tất cả để mọi người cùng nhau học hỏi và chia sẻ những nỗi khổ, niềm đau.

Thường Chiếu ngày 10/7/2010 - Thích Đạt Ma Phổ Giác

TIỀN KHÔNG PHẢI LÀ YẾU TỐ CHÍNH CỦA HẠNH PHÚC.

Tài sản vốn là huyết mạch mạng sống của hầu hết mọi người. Mạch nhảy, máu lưu thông chạy khắp cơ thể nên con người mới sống và tồn tại. Tài là khả năng con người có được nhờ học hỏi, nghiên cứu, tìm tòi, luyện tập và biết vận dụng, phát huy để làm cuộc sống tốt đẹp hơn. Ở đời ai cũng có tài dù nhiều hay ít tùy theo khả năng mỗi người. Từ tài năng đó con người làm ra đồng tiền để nuôi sống bản thân, gia đình và góp phần xây dựng an vui, hạnh phúc cho xã hội. Tài sản nói chung bao gồm tất cả phương tiện vật chất liên quan đến đời sống con người, trong đó có vàng, bạc và tiền. Ngày xưa, khi con người chưa biết xài tiền nên chỉ trao đổi hàng hóa bằng các phương tiện vật chất để đáp ứng nhu cầu sinh sống. Sau này con người văn minh, tiến bộ nên chế ra tiền để làm phương tiện cân bằng giá trị vật chất, tiền là đầu mối quan trọng làm con người đam mê phát huy tài năng để có nhiều tiền. Chính vì thế, tiền là huyết mạch của sự sống để mọi người phấn đấu gầy dựng bằng tài năng của chính mình.

Có nhiều người nghĩ có tiền là hạnh phúc, thật ra tiền chỉ đem lại sự sung mãn về vật chất, nó không phải là yếu tố chính trong hạnh phúc. Tiền là vật vô tri do con người tạo ra, nhiều người không hiểu nên bị đồng tiền sai sử, chi phối làm những điều xấu ác. Do nhu cầu sự sống cần phải có tiền để nuôi sống bản thân và gia đình, nhưng đồng tiền làm ra phải bằng mồ hôi, nước mắt của chính mình. Thật ra, ai cũng ước mơ đáng quý và trân trọng, lớn lên có một việc làm ổn định, có vợ hoặc chồng và có con để xây dựng hạnh phúc gia đình và đóng góp lợi ích thiết thực cho xã hội.

Đó là ước mơ của một tử tù tên Tòng khi còn thiếu thời đã bỏ học từ năm lên lớp tám. Nhờ một người quen thương tình thấy anh ăn không ngồi rồi, sống bám vào cha mẹ, nên anh được dẫn vào miền Nam làm phụ hồ. Nhờ siêng năng, nhiệt tình và chịu khó học hỏi nên Tòng được lòng thiên hạ. Từ một tên phụ hồ thô thiển, Tòng được nhiều người hết lòng giúp đỡ, dìu dắt, nhờ biết khéo léo và siêng năng, chăm chỉ, cần cù. Vài năm sau, anh ta trở thành một ông cai thầu những công trình nho nhỏ, lúc này Tòng cảm thấy hài lòng vì ước mơ của mình đã chóng thành tựu. Mỗi tháng trừ chi phí tiêu xài, anh ta vẫn còn trong túi không dưới mười triệu. Tòng quyết định về quê để khoe với gia đình, rồi phải lòng cô gái cùng quê và hai người đã chính thức thành vợ chồng với sự chúc mừng của hai họ. Ai cũng nghĩ cô vợ có phước nên mới lấy được người chồng như anh ta.

Một năm sau, vợ Tòng đã cho ra đời một đứa con trai, công việc làm ăn của anh thì ngày càng phát triển tốt đẹp, Tòng sống trong hạnh phúc tràn trề. Vài năm sau, đứa con gái ra đời, việc làm của anh bắt đầu chựng lại, cuộc sống lúc này có phần hơi khó khăn. Tòng ít về nhà hơn vì phải cạnh tranh với đồng nghiệp. Một hôm, mẹ anh ta gọi điện thọai báo, “vợ mày đã bỏ hai con lên Hà Nội để bán hàng thuê cho người ta rồi”. Tòng nghe xong liền nhanh chóng tức tốc trở về nhà, bỏ mặc tất cả mọi công việc, mất cả tuần lễ anh mới tìm được chỗ bán của người vợ. Tòng nói rất mạnh mẽ, “việc kiếm tiền để mình tôi gánh vác, cô không cần phải bươn chải làm chi cho cực khổ, chỉ ở nhà nuôi dạy con cái là đủ rồi”. Sắp xếp việc nhà ổn định, anh ta tiếp tục công ăn việc làm. Tưởng chừng mọi việc đều êm xuôi tất cả, không ngờ vài ngày sau, vợ Tòng bỏ đi tiếp. Thất chí, nản lòng, tự ái, anh bỏ mặc không thèm tìm kiếm nữa, chỉ nhắn tin về mẹ ruột nhờ nuôi nấng giùm hai con. Sau đó, Tòng sang nhà bố mẹ vợ nói chuyện ly hôn. Thật ra, anh ta suy nghĩ quá nông cạn, sự việc xảy ra như vậy chắc chắn có nguyên nhân.

Tình chồng nghĩa vợ không phải chỉ có tiền là đủ, người vợ lúc nào cũng cần sự quan tâm, chăm sóc của chồng về mặt tinh thần và chuyện đầu ấp tay gối, sẻ chia nỗi niềm hạnh phúc. Tòng mải mê chạy theo công ăn việc làm, bỏ quên người vợ ở nhà phòng the gối chiếc với nỗi nhớ niềm thương. Bao nhiêu gia đình ly hôn, bao nhiêu cuộc tình vụng trộm cũng từ đó mà ra. Vì hoàn cảnh, vì cuộc sống, chúng ta quá mải mê chạy theo nhu cầu để kiếm tiền nuôi vợ, nuôi con. Đó là điều tốt, là trách nhiệm của chồng, nhưng chúng ta đừng quên rằng phụ nữ lúc nào cũng thích tình cảm ngọt ngào trong lời nói khi xa nhau, ân cần trìu mến tỏ tình khi gần nhau, liên lạc hỏi thăm nhau qua điện thoại khi xa nhà và an ủi, vỗ về khi gần gũi.

Trong tình yêu lứa đôi, ngoài việc chia sẻ tình cảm cho nhau còn có bổn phận, trách nhiệm đối với con cái, ân nghĩa đối với người thân, giao lưu với bè bạn. Giữa vợ chồng và con cái còn có sợi dây quan hệ mật thiết với nhau để nối kết tình yêu thương. Cho nên, thật bất hạnh và tội nghiệp cho những đứa con thiếu cha hoặc thiếu mẹ. Muốn bảo vệ được hạnh phúc gia đình, vợ chồng phải biết thông cảm, tin tưởng, chung thủy, thường xuyên trao đổi tâm tình, phấn khích cho nhau, cùng đồng tâm hiệp lực nuôi dạy con cái. Chàng trai này vì mải mê làm giàu mà quên cả việc chăm sóc bản thân, không biết quan tâm, lo lắng đến vợ con, nên hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ. Anh ta dễ dàng thành đạt trong xã hội, nhưng bị thất bại trong việc xây dựng mái ấm gia đình. Vợ anh ta đành đoạn bỏ đi trong khi con còn nhỏ dại chắc có lý do. Anh ta không thèm tìm hiểu, tự ái, bỏ mặc, bất cần, rồi đến bố mẹ vợ nói chuyện ly hôn, tuyệt tình từ đấy. Cuộc đời anh ta bắt đầu rẽ sang lối khác. Nỗi đau bị vợ bỏ nhà ra đi làm cho anh bị sốc và mất phương hướng. Anh bắt đầu buồn tủi, chán chường, chẳng thèm về nhà nữa, tiền bạc làm được bao nhiêu bị nướng sạch vào chơi bời trác táng.

Anh ta thật hào hoa phong nhã và nổi tiếng chơi xộp, nên các em đua nhau chiều chuộng, phục vụ tận tình để được bù lại số tiền boa hậu hĩnh. Anh ta đã lún sâu vào vũng bùn tội lỗi nên không còn đủ sức tính toán việc làm ăn nữa, để rồi cuối cùng phải chịu thân tàn ma dại. Từ khi bỏ bê công việc, nướng sạch tiền vào các cuộc vui chơi trác táng thâu đêm suốt sáng, anh ta đã mất tất cả. Nghiệt ngã thay cho số phận của anh, một phút mê lầm ngàn năm tắt lịm. Khi sự nghiệp không còn, cuộc sống bắt đầu túng quẫn, khó khăn. Trái tim anh ta bắt đầu rung động mãnh liệt với một cô gái phụ hồ cùng quê. Bởi do bị thất bại trong tình yêu, anh ta sợ người con gái ấy không chịu thương mình. Anh đành thú thật và kể hết hoàn cảnh sự nghiệp cho người tình nghe để nàng thông cảm. Vì muốn người yêu tin tưởng, anh phải về tận quê nhà để lấy lòng cha mẹ nàng. Vì tiền đã hết sạch, cùng đường, anh thuê một chiếc xe ôm và thủ sẵn một con dao để chờ cơ hội ra tay. Xe chạy đến quãng đường vắng bên vườn bạch đàn, anh ra tay sát hại giết chết người xe ôm. Sau khi gây án xong, anh lấy chiếc xe ra tiệm cầm được bảy triệu. Có được tiền trong tay, anh chẳng màng đến việc ghé thăm người yêu mà liền đi thẳng ra vũ trường vui chơi thỏa thích gần hết số tiền, sau đó mới tìm về nhà người yêu và anh đã bị bắt. Giờ đây, anh chỉ còn chờ chết với mức án tử hình trong nay mai.

Một người xuất thân từ một gia đình tốt, được ăn học đàng hoàng, nhưng lại bỏ dỡ việc học từ lớp tám, sống bám vào cha mẹ, được bà con thương dẫn vào miền Nam lập nghiệp, rồi trở thành ông cai thầu nho nhỏ vì siêng năng, chịu khó. Sự nghiệp của anh thành đạt không mấy khó khăn. Ước mơ đẹp nhất của con người là có danh vọng, tiền tài và hạnh phúc trong tình yêu. Anh đã vươn lên từ sự lao động chân chính, cần cù, siêng năng, tiết kiệm, tiêu xài đúng mức và biết lấy lòng mọi người nên có chút công danh sự nghiệp. Diễm phúc hơn, anh lại có một mái ấm gia đình hạnh phúc trong tình yêu lứa đôi với một bé trai kháu khỉnh. Tình và tiền anh đều có đủ. Tuy anh không phải là một đại gia, nhưng đời sống của anh cũng vào loại bậc trung. Đứa con gái thứ hai ra đời được vài tháng, tiền bạc làm được cũng giới hạn. Cuộc sống không phải lúc nào cũng xuôi chèo mát mái, kinh tế gia đình có phần giảm sút, nên anh phải cố công miệt mài trên thương trường để làm sao bảo đảm đời sống cho gia đình. Anh đúng là mẫu người chồng lý tưởng hết lòng vì vợ con, nhưng điều vợ anh đang cần không phải là tiền bạc dồi dào, mà chỉ cần anh biết hài hòa trong việc vun đắp tình yêu. Chán chường, buồn tủi, héo sầu, cô đơn, vợ anh đành phải bỏ nhà ra đi. Bao nhiêu cuộc tình tan vỡ cũng chỉ vì không biết hòa hợp giữa hai nhịp đập của con tim. Đây là một bài học nhớ đời cho những ai chỉ biết tiền không thôi, hãy nên xem xét lại.

Tình yêu thương và tiền bạc không thể thiếu trong cuộc sống, nhưng chúng ta phải biết xử dụng đúng nơi, đúng chỗ thì sẽ đem lại an vui và hạnh phúc. Người chồng ấy vì nghĩ rằng mình đã lo cho vợ con đầy đủ, cớ sao nàng đành đoạn bỏ ra đi khi hai con còn thơ dại; đau khổ tràn trề, uất hận tột cùng, hận đời đen bạc, để rồi lao vào vui chơi trác táng; sự nghiệp tan tành, tình yêu đổ vỡ, nghiện ngập si mê, điên cuồng khờ dại, cuối cùng phải dính vào vòng lao lý trong cơn tuyệt vọng chờ nhận bản án tử hình. Phật chỉ dạy cho mọi người cách thức, phương pháp làm ra tiền bạc, của cải mà không làm tổn hại cho ai.

Một đời sống có ý nghĩa và giá trị là một đời sống không quá lệ thuộc vào phương tiện vật chất, nhưng không thể không có tiền bạc và tài sản, vì nó là phương tiện để nuôi sống chúng ta. Để đảm bảo một đời sống tốt đẹp, hài hòa, Phật dạy người cư sĩ có quyền làm ra tiền bạc, của cải một cách chính đáng; nghĩa là từ sự tinh cần, siêng năng bằng đôi bàn tay và khối óc của mình để tạo dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho bản thân, gia đình, người thân và đóng góp lợi ích thiết thực xã hội.

Tuy nhiên, sự giàu có về vật chất chỉ đáp ứng nhu cầu đầy đủ sự sung túc cho con người, hạnh phúc thật sự trong cuộc sống không phải là người có nhiều tài sản, tiền bạc, quyền uy, thế lực, nhà cao cửa rộng, mà chính là tự do không bị ràng buộc bởi tham lam, sân hận, si mê. Đó là một thứ hạnh phúc chân thật lâu dài, tiền bạc không thể mua bán, đổi chát được. Do đó, ngoài việc có nhiều tiền bạc, của cải để có cơ hội phục vụ tốt cho gia đình, đóng góp cho đời, chúng ta cần phải thăng hoa đời sống tinh thần, phát huy con người tâm linh, nên thường sống trong chánh niệm tỉnh giác, mở rộng tấm lòng từ bi thương xót muôn loài bằng tình người trong cuộc sống. Nhờ vậy chúng ta biết vun bồi xây dựng tài sản tâm linh, nên các tâm tư mê muội không có cơ hội xen vào như toan tính, hơn thua, tranh chấp, hận thù, tàn sát, giết hại lẫn nhau, làm tổn thương nhân loại.

Xã hội ngày nay con người đang trên đà tiến bộ văn minh, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường, nên tiền bạc và tài sản là núm ruột của con người, không thể thiếu trong đời sống hiện tại. Tiền bạc, của cải có thể giúp ta giải quyết nhiều thứ trong cuộc đời, nên điều đầu tiên ai muốn bảo tồn sự sống là cần phải có tiền. Nhưng tiền bạc, của cải khi có thì ta phải biết sử dụng như thế nào cho hợp lý? Một người công dân muốn sống an vui, hạnh phúc thì phải biết sử dụng bốn yếu tố căn bản sau đây:

_ Có công ăn việc làm ổn định nuôi sống bản thân và luôn thường xuyên trau dồi công việc được tốt đẹp.

_ Tiền bạc làm ra bằng nghề nghiệp chân chánh và phải biết cách gìn giữ không để thất thoát.

_ Phải biết chi tiêu cân đối, hài hòa, không nên hoang phí quá mức, tiền làm ra ít mà muốn xài nhiều; hoặc tiền bạc làm ra nhiều mà không dám xài vào việc có lợi ích, thành ra bỏn sẻn.

_ Tiền bạc và tài sản là phương tiện để con người sinh sống, phục vụ cho cá nhân có nhu cầu ăn, mặc, ở hằng ngày. Muốn vậy, trước hết ta phải có một việc làm ổn định về lâu về dài, nhưng nghề nghiệp mình chọn không làm tổn hại cho nhân loại. Các nghề nên tránh như mua bán vũ khí, nô lệ, phụ nữ; các chất gây say, gây nghiện như rượu, xì ke, ma túy; chế tạo thuốc độc hoặc trực tiếp sát sanh…

Kinh doanh, mua bán là một trong những nghề nghiệp đem lại kinh tế cao, nhưng chúng ta phải biết tránh những nghề trên, vì nó làm tổn hại cho người và vật, gây khổ đau trong hiện tại và mai sau. Mua bán có thể làm giàu nhanh chóng và cũng dễ dàng nhận lấy hậu quả thất bại, vì sự cạnh tranh quyết liệt của kinh tế thị trường, chỉ cần chậm trễ một chút có thể tán gia bại sản, nếu chúng ta biết nắm bắt kịp thời thì giàu lên trong chốc lát. Trên đời này không có gì mau giàu bằng mua bán và cũng dễ dàng trắng tay nếu không phù hợp với thị hiếu của con người. Có hai nhà kinh doanh đối diện nhau cùng bán một nghề, nên hai bên muốn cạnh tranh phát triển và mở mang để thu hút khách hàng. Nhà ông A lợi thế hơn vì có mặt bằng một trệt, hai lầu. Nhà ông B chỉ một trệt, một lầu nên lượng khách ít hơn. Chính vì muốn lượng khách của mình nhiều hơn nên ông B đã xây mới ba lầu, một trệt, có bản vẻ đúng quy định. Gia đình ông A tức quá mới kêu thợ xây thêm hai tầng nữa mà không đổ móng thêm. Kết quả thật thảm thương, căn nhà mới bốn tầng, một trệt bị sập đè lên nhà ông B. Cuối cùng, hai bên đều bị thiệt hại nặng nề.

Vì lòng tham mà con người ta có thể nhẫn tâm làm tổn hại cho nhau để có tiền nhanh chóng. Một số người đã tán tận lương tâm làm ăn phi pháp như mua bán vũ khí, mua bán phụ nữ, mua bán xì ke, ma túy vì lợi nhuận quá cao, tạo ra nhiều băng nhóm tội phạm gây hiểm họa cho loài người, dẫn đến sự thiệt hại lớn lao của nhân loại. Người Phật tử chân chánh vì lòng từ bi thương xót chúng sinh nên không được kinh doanh, mua bán các loại chết người đó. Tiền bạc tài sản nếu sử dụng không đúng mục đích thì trở thành rắn độc, nhưng thiếu nó lấy gì để ta sống mà dấn thân phục vụ, hoằng pháp lợi sinh. Mục đích của cuộc sống không phải là giàu có, nhiều tiền của mới là hạnh phúc, mà chúng ta phải biết hài lòng với hiện tại, không nên đứng núi này trong núi nọ, hoặc đua đòi bắt chước làm bằng người trong khi ta không có điều kiện và khả năng. Có nhiều người vì sĩ diện bản ngã muốn chứng tỏ đẳng cấp bằng người hoặc hơn người, nên vay nợ xây dựng nhà cửa khang trang dù nhu cầu không cần thiết, do đó lún sâu vào nợ nần, dẫn đến tán gia bại sản bởi họ không biết bằng lòng với hiện tại.

Đa số chúng ta ai cũng nghĩ có thật nhiều tiền bạc và của cải là hạnh phúc, đó là điều lầm lẫn quá lớn của nhân loại, nên khi có quyền lực trong tay thì tìm cách vơ vét, gom góp về cho riêng mình, nhưng tiền bạc làm ra từ sự phi pháp rất khó mà tồn tại. Khi có nhiều tiền thì phải hưởng thụ, vui chơi trác táng, dễ dẫn đến sa đọa làm mình và người khổ đau, làm mất hạnh phúc gia đình và tác hại xấu đến xã hội. Tiền làm ra không bằng mồ hôi, nước mắt của chính mình thường bị năm nhà cuốn trôi. Nhà lũ lụt, nhà hỏa hoạn, nhà trộm cướp, nhà vua quan tịch thâu, nhà con cái bất hiếu, phá sản và các tai nạn bất ngờ khác. Thường con người hay nói “đồng tiền đi liền khúc ruột”, nếu chúng ta chi ra một số tiền nhỏ vào một việc có ích nhưng vẫn xót xa, đau lòng vì ta chưa biết mở rộng tấm lòng nhân ái. Nếu dè sẻn, không dám chi tiền vào việc có ích, ta sẽ trở thành con ma ích kỷ, tham lam, lâu ngày ta bị đồng tiền sai sử không dám chi tiêu vào việc cần thiết. Tiền bạc chính là người đầy tớ tốt khi ta biết làm chủ đồng tiền, sử dụng vào việc chi tiêu hằng ngày tùy theo hoàn cảnh của mỗi cá nhân và gia đình, biết san sẻ, mở rộng tấm lòng nhân ái để giúp ích cho mọi người khi cần thiết; nhưng có nhiều người bị sức mạnh của đồng tiền chi phối, nên nhẫn tâm làm các điều tội lỗi để mưu cầu lợi ích cho cá nhân mình.

Sức mạnh của đồng tiền thật ghê gớm, nó có thể làm cho con người say mê, điên đảo, nên tục ngữ có câu “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn”, và người ta quan niệm rằng “có tiền mua tiên cũng được”;  nhưng có phải vậy không? Người có tiền nếu biết sử dụng đúng cách vẫn đỡ hơn người không có tiền, như khi có bệnh hoặc giải quyết một số vấn đề cấp thiết. Nếu nói theo kiểu “có tiền mua tiên cũng được” thì e rằng không hợp lý chút nào. Người có tiền có bệnh không, có già không, có chết không? Nếu có thì phải có khổ. Tuy nhiên, người có tiền, có phước vẫn đỡ hơn người nghèo khó, bất hạnh ở chỗ sung túc, đầy đủ về vật chất; nhưng nếu thiếu con người tâm linh thì họ thật sự không có hạnh phúc lâu dài; chính vì thế mà ta vẫn thấy người giàu họ tự tử quá nhiều; vì đâu nên nông nổi như vậy? Do đó, giàu hay nghèo đều phải biết tu tâm dưỡng tánh thì bất hạnh, khổ đau được biến thành an vui, hạnh phúc; và biết chia vui, sớt khổ, chan hòa cùng mọi người. Tiền bạc nói cho cùng cũng chỉ là phương tiện để trao đổi hài hòa các nhu cầu cần thiết trong xã hội. Nếu ta không biết dùng tiền đúng chỗ, đúng nơi, hoang phí một cách vô bổ để phục vụ cho cá nhân và cộng đồng xã hội thì tiền bạc đó trở thành vô nghĩa. Tiền bạc làm ra mục đích để cải thiện đời sống cho chính mình, đem đến an vui cho cha mẹ và vợ con sung túc, đủ đầy về vật chất, tạo dựng hạnh phúc gia đình cơm no áo ấm và còn chia vui, sớt khổ đến với nhân loại. Chính vì thế, đồng tiền làm ra phải chân chánh, nếu không thì vô cửa trước lòn cửa sau; hoặc có mà không đóng góp vào việc lợi ích cho mọi người nên dù có cũng như không.

Con người cần có tiền nuôi sống bản thân và gia đình, nhưng chúng ta phải sử dụng đồng tiền như thế nào cho phù hợp với giá trị của nó. Có nhiều người vì một chút tiền mà phải bán con, vì tiền mà phải giết người, vì tiền mà phải làm điều phi pháp, vì tiền mà phải tự tử, vì tiền mà phải khổ lụy cả đời. Tiền biết sử dụng đúng chỗ, đúng nơi và làm ra bằng mồ hôi nước mắt của chính mình với việc làm lương thiện, chân chánh thì hạnh phúc biết bao. Vì sử dụng đồng tiền không đúng nên nó là đầu mối của nhiều tội ác. Tiền theo lời Phật dạy được chia ra làm năm phần. Hai phần duy trì góp vốn vào công việc kinh doanh; một phần chu cấp gia đình, quân bình đời sống; một phần thủ hậu về sau bệnh hoạn, đau yếu, thuốc men; một phần bố thí, cúng dường hoặc giúp đỡ, chia sẻ khi gặp người bất hạnh, khó khăn. Tiền nếu được sử dụng đúng như vậy thì làm sao bị phá sản. Nhiều người không hiểu nên để kiếm tiền nhanh chóng họ đã tán tận lương tâm làm ăn bất chánh, mua bán vũ khí giết người, mua bán ma túy, mua bán phụ nữ, trẻ em. Các băng nhóm tội phạm cấu kết làm lủng đoạn nền kinh tế nhiều quốc gia, làm băng hoại đạo đức con người. Người Phật tử chân chính có quyền làm giàu bằng mồ hôi, nước mắt của chính mình với đôi bàn tay và khối óc, góp phần xây dựng dân giàu nước mạnh để đem lại an vui, hạnh phúc cho mọi người.

GIẾT CHA VÌ THAM TÀN BẠO NGƯỢC

Nói đến con người là nói đến tình yêu thương và điều thiêng liêng, cao quý nhất không gì bằng tình cha mẹ. Phàm làm người ai cũng từ cha mẹ sinh ra nên trên thế gian không thứ tình nào bằng tình cha nghĩa mẹ. Đó là mối dây thâm tình cao cả, cha mẹ đối với con cái là nguồn năng lực vô biên. Dù phải vất vả chịu đựng bao gian lao, nhọc nhằn, khổ sở, hoặc bị mọi người coi rẻ, khinh thường thì cha mẹ vẫn chịu đựng vì con, vẫn lo cho con từ thuở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành. Tấm lòng thiêng liêng và cao cả ấy đã được đức Phật nói nhiều trong các bản Kinh. Khi còn tại thế Ngài thường khuyên dạy các hàng Phật tử, “nếu ai muốn tiến tu đến chỗ giác ngộ, giải thoát thì phải biết hiếu dưỡng cha mẹ. Hiếu là nền tảng cơ bản trên bước đường giác ngộ và giải thoát”. Đức Phật luôn nhắc những người con Phật phải lấy hiếu nghĩa làm đầu. Để diễn tả tình cha mẹ là cao cả, quý báu, người đời thường mượn hình ảnh trời biển, núi sông để nói lên công ơn cha mẹ sâu dày.

Công cha như núi thái sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

         Hay:

Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ.

Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha.

Đối với đức Phật Ngài nói như sau, “Ta trải qua nhiều kiếp tu hành, nay được thành Phật là nhờ công ơn cha mẹ”. Sở dĩ Phật tu thành Phật là nhờ có mẹ sinh ra cùng cha nuôi dưỡng mới lớn khôn và đi tu thành Phật. Như vậy, Ngài thành Phật là nhờ công lớn lao của hai đấng sinh thành, dưỡng dục. Người nào luôn biết ơn và đền ơn chắc chắn người đó là người biết hiếu thảo với cha mẹ. Phàm làm người ai không từ cha mẹ mới được sinh ra.

Đã làm người trong trời đất

Ai không từ cha mẹ sinh ra.

Có cha có mẹ có mình

Làm con trọn hiếu trọn tình mẹ cha.

Tình cha mẹ đối với con cái thật thâm sâu, cao cả, chúng ta không biết lấy bút mực nào để diễn tả hết công đức sinh thành, nuôi dưỡng. Con người sinh ra và lớn lên đều nhờ công ơn cha mẹ, để đáp lại tấm thâm tình đó con cái phải biết hiếu thảo, tận tình chăm sóc, cung phụng, dưỡng nuôi, đáp ứng mọi nhu cầu cần thiết cho cha mẹ. Cha mẹ là người đã sanh ra ta, nuôi nấng cực khổ từ khi còn nhỏ cho đến lúc trưởng thành. Trong kinh Phật dạy, “trên đời này có hai hạng người khó đền ơn trọn vẹn đó là cha và mẹ. Dù suốt đời hai vai một bên cõng cha, một bên cõng mẹ đi khắp cả thế gian, nuôi ăn uống đầy đủ, đáp ứng mọi nhu cầu cần thiết vẫn không đền đáp hết công ơn cha mẹ. Muốn đền ơn cha mẹ được trọn vẹn chỉ bằng cách khuyên cha mẹ quy y Tam Bảo, gìn giữ 5 điều đạo đức, nhờ vậy cha mẹ an vui trong Chánh pháp, không làm điều xằng bậy, do đó không bị đọa lạc vào 3 đường khổ địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh; còn khuyên cha mẹ xuất gia hướng đến giác ngộ, giải thoát thì đó là cách đền ơn, trả ơn cao cả nhất”.

Vậy mà đã có một chuyện xảy ra làm đau lòng nhân thế. Một người vì quá tham tàn, bạo ngược, bất chấp cả tình cha con, chính là thái tử A Xà Thế khi bị mê hoặc bởi sa môn Đề Bà Đạt Đa. Việc cướp ngôi bị bại lộ không thành, vua cha Tần Bà Sa La thay vì giết đi đứa con phản nghịch thì lại thoái vị, nhường ngôi cho thái tử. Ngài làm như thế để thái tử không mang tội cướp ngôi, nhưng vì bản tính hung hăng, tàn bạo, thái tử đáp lại tấm chân tình ấy bằng cách ra lệnh nhốt vua cha vào ngục sau khi chính thức lên ngôi. Ông cấm không cho một ai được quyền mang thức ăn vào, chỉ ngoại trừ hoàng hậu Vi Đề Hy là được quyền vào thăm. Vì sợ chồng chết đói nên bà giấu thức ăn mang vào trong ngục nhưng đã bị phát hiện. Bà rất khổ tâm vì có đứa con ngang tàn, bạo ngược nên bèn tắm rửa sạch sẽ rồi trét bơ sữa lên người, ấy vậy mà bà cũng bị phát giác.

Tàn nhẫn hơn nữa, A Xà Thế cho người vào gọt da chân vua cha rồi trét muối, hơ lửa cho đến chết trong oằn oại, đau thương. Khi cái chết đang dần hành hạ vua cha trong ngục, đúng ngay lúc ấy đứa con đầu lòng của A Xà Thế chào đời, ông vội vàng chạy đi tìm mẹ để tâm sự với lòng thương yêu trìu mến, “thưa mẹ hiền, con vừa được tin hoàng nhi chào đời, lòng con giờ đây trào dâng niềm thương yêu vô hạn, một niềm cảm xúc dạt dào xưa nay con chưa từng biết đến. Ngay bây giờ con yêu hoàng nhi hơn chính bản thân con, không biết ngày xưa phụ hoàng có yêu con như vậy chăng?” Nghe đến đây mẫu hậu Vi Đề Hy nghẹn ngào, tức tưởi, “Sao con hỏi mẹ điều ấy? Mẹ dám chắc trên cõi đời này không ai giàu lòng nhân ái như cha con. Lúc vừa nghe tin mẹ có thai, cha đã vui mừng tột độ đến quên ăn quên ngủ. Rồi mẹ bỗng dưng thèm máu của cha mà không dám nói ra. Thấy mẹ càng ngày càng xanh xao, gầy yếu, cha con tìm cách an ủi, vỗ về. Mẹ mới thú thật cùng cha như vậy. Cha con liền trách sao mẹ không nói sớm để đến nỗi thế này. Nói xong cha liền cắt tay cho mẹ nếm máu, kể từ đó mẹ ăn uống lại bình thường. Do điềm ấy các nhà tiên tri phỏng đoán con sau này có thể giết cha để cướp ngôi vua, nên mới đặt tên con là A Xà Thế, tức “kẻ thù trong thai”. Nghe đến đây mẹ vô cùng sợ hãi nên định phá thai nhưng cha không chịu, và con chào đời trong niềm vui mừng vô hạn của cha, mẹ thì ngược lại bởi lo lắng tột cùng”.

Vua A Xà Thế bàng hoàng xúc động, hai hàng nước mắt tuôn trào trong uất nghẹn, ông ngồi đơ như kẻ mất hồn. Hoàng hậu Vi Đề Hy kể tiếp: Thửu nhỏ có lần con bị mụn nhọt nơi ngón tay đau đớn không chịu nổi, con gào thét rất nhiều khiến cho cha động lòng. Đang họp cùng triều thần nhưng ông vội bãi trào để vào cung ôm chầm lấy con, ngậm ngón tay vào miệng cho con đỡ đau nhức mà yên giấc ngủ. Ngờ đâu mụn nhọt bị vỡ khiến máu và mủ tuôn trào, sợ con tỉnh giấc nên cha đã nuốt hết vào bụng. A Xà Thế liền hoảng hốt kêu la thất thanh, “quân bây đâu, quân bây đâu, mau thả cha ta ra liền lập tức!”; miệng la, chân chạy như kẻ mất hồn, nhưng khi đến nơi vua cha đã chết từ lâu.

Ôi cha chết, hai tiếng buồn thê thảm.

Giờ ăn năn, thì đã quá muộn rồi.

Ôi trần thế, con tìm cha đâu nữa.

Khi làm cha mới quý tình cha con.

Tình đời là thế đó! Khi lòng tham con người nổi dậy thì lý trí, lương tâm mê mờ. Được vua cha tha tội chết vì nghĩ con còn non dại và sẵn sàng nhường ngôi báu, ấy vậy mà con ngang tàng, ngỗ nghịch, không hiểu luân thường đạo lý mà tán tận lương tâm hành hạ cha cho đến chết. Vậy mà vua cha sau khi chết đi vẫn về báo mộng người đã sanh Thiên nên dặn con cứ an lòng và đừng đau buồn nữa. Vua Tần Bà Sa La đúng là người cha nhân từ, đức độ. Trước đó vài năm, thái tử Sĩ Đạt Ta vượt thành xuất gia cầu đạo, nghe nói thành Vương Xá nước Kiều Tát La là nơi có đời sống tâm linh cao độ nên ngài đã đến nước này. Vua Tần Bà Sa La nghe vậy mới tìm đến gặp thái tử, ông sẵn sàng chia nửa giang sơn để cùng ngài giúp dân chúng an cư lạc nghiệp. Thái tử vốn không màng danh lợi, ngài nói, “tôi đã bỏ hết tất cả để ra đi tầm sư học đạo mong ngày thành tựu đạo quả bồ đề, xin bệ hạ thông cảm”. Biết không thể nào thuyết phục được thái tử, vua Tần Bà Sa La nói, “khi nào ngài thành đạo, xin ngài nhớ về độ tôi cùng gia quyến!” Sau khi thành đạo dưới cội bồ đề, trước tiên Phật độ 5 anh em Kiều Trần Như, kế tiếp Người độ 3 anh em Ca Diếp, sau đó Người về thành Vương Xá độ vua Tần Bà Sa La. Từ khi vua tiếp nhận giáo Pháp của Như Lai, ngài không còn thiết tha việc triều chính mà chỉ vì thái tử còn quá nhỏ. Biết A Xà Thế có dã tâm cướp đoạt ngôi vua ngài cũng không buồn lòng. Hiếm có vị vua nào được như vậy, vinh hoa phú quý sờ sờ trước mắt nhưng ngài không đắm nhiễm, chỉ coi ngai vàng như dép rách, một lòng giữ đạo chân chánh, không phiền muộn, oán than một điều gì. Chúng ta chẳng có gì để buông mà cứ dính mắc hoài, thật là hết sức hổ thẹn!

Giáo dục gia đình là nền tảng quan trọng để tiếp cận cộng đồng xã hội. Cha mẹ là vị thầy đầu tiên của con cái xưa nay. Mẹ thì mang nặng đẻ đau, cha thì cung phụng, nuôi dưỡng, mong con sau này khôn lớn tiếp tục kế thừa truyền thống tốt đẹp của gia đình. Vua A Xà Thế vì quá tham tàn, bạo ngược nên đã đành đoạn giết cha một cách tàn nhẫn, đến khi đứa con đầu lòng chào đời ông mới biết trân quý tình cha con; dù rất ăn năn, hối hận cũng đã muộn, có làm cha mới quý tình phụ tử, mới cảm thông nỗi lòng cha mẹ đối với con.

Còn cha gót đỏ như son

Đến khi cha chết gót con đen sì.

Nếu vua A Xà Thế không vì một phút si mê dại dột thì giờ đây không hạnh phúc nào bằng khi có người cha làm thái thượng hoàng hướng dẫn cho mình những kinh nghiệm quý báu để ích nước lợi dân, đỡ phải hao công tốn sức nhiều. Câu chuyện trên răn dạy một bài học nhớ đời về cách đối nhân xử thế sao cho phù hợp đạo lý làm con đối với cha mẹ, nếu luận về tội thì không tội nào nặng bằng tội giết cha, dù bị đọa đày suốt đời suốt kiếp cũng chưa gội rửa hết. Do đó mà A Xà Thế lúc nào cũng bị ám ảnh dày vò khi nhớ tới vua cha chết dần chết mòn trong lao tù ngục tối. Trong cơn sầu đau não nề, quả báo xảy đến làm toàn thân ông đầy ghẻ lở. Các danh y nổi tiếng cả nước được dời đến chữa trị nhưng tất cả đều bó tay. Trong cơn đau đớn tuyệt vọng, ông than thở cùng mẫu hậu, “con nay thân tâm đều khốn khổ, phụ hoàng hiền lương, đức độ mà con đành lòng giết hại. Con từng nghe nói tội giết cha là một trong 5 tội lớn sẽ bị đọa địa ngục và chịu khổ liên tục…”; vì biết thế nên ông lúc nào cũng bi lụy, sầu khổ vì nỗi ám ảnh giết cha. Sau nhờ quan ngự y Kỳ Bà khuyên nhủ, “bệnh tình của bệ hạ chỉ có Đức Phật mới cứu khỏi. Thần xin cam kết lấy thân mạng mình bảo đảm điều này. Đức Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn giải thoát, Ngài lúc nào cũng từ-bi-hỷ-xả, khoan dung và độ lượng. Bệ hạ nên nghe theo lời hạ thần, trong tối nay phải đến nhờ Phật cứu chữa”. Vua sợ quá nói, “Kỳ Bà, ông có điên không? Ông không nhớ sao, lúc trước ta đã cho sa môn Đề Bà Đạt Đa mượn voi say để giết Phật, ta còn mặt mũi nào đến nhờ Ngài chữa trị? Phật làm sao có thể tha thứ cho ta được.” “Không sao đâu, bệ hạ cứ yên tâm, Ngài là bậc giác ngộ hoàn toàn có một không hai trên thế gian này, vì thế Ngài mới chinh phục được ba anh em Ca Diếp nổi tiếng nhất thành Vương Xá, ngay đến hai nhà Bà La Môn thông thái như Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên cũng đầu phục làm đệ tử Ngài. Hung tợn như tên tướng cướp Ương Quật Ma La một thời làm náo lọan đất nước Kiều Tát La, từng giết hại hàng ngàn người không gớm tay mà giờ đây cũng quy y đầu Phật”. Vua hỏi, “có phải tên giết người chặt ngón tay làm xâu chuỗi để đeo không?” “Dạ muôn tâu bệ hạ, đúng thật là như thế! Tên cùng hung cực ác như Ương Quật Ma La cũng nhờ Phật nhiếp phục, sau khi hồi đầu do siêng năng tinh tấn tu hành nên đã chứng quả A La Hán, huống hồ là bậc anh tài như bệ hạ”.

Ngay đêm ấy, vua cùng Kỳ Bà đến chùa Kỳ Viên, Phật biết trước nên ra cổng đón, “thưa đại vương, ngài đến chùa trong đêm khuya thế này chắc có việc gì quan trọng?” Vua A Xà Thế nghe Phật nói vậy mới cảm động và khâm phục trước tấm lòng bao dung của Ngài, quả thật lời quan Kỳ Bà nói không sai, nghĩ vậy hồi lâu vua mới lấy bình tĩnh và thú thật, “con chính là vua A Xà Thế trị vì đất nước Ma Kiệt Đà thành Vương Xá, con đã lỡ lầm giết chết người cha vô cùng hiền lương, đức độ, vì thế ngày nay thân tâm con đều đau khổ tột cùng. Con kính mong Phật mở lượng hải hà một lòng từ bi thương xót giúp con vượt qua tội lỗi. Từ ngày phụ hoàng mất đi con chưa một giây phút nào được thảnh thơi, lúc nào con cũng thấy hình bóng phụ hoàng rên la thảm thiết”. Phật nói, “này, đại vương nên biết, trên đời có 2 hạng người có thể đạt được hạnh phúc chân thật. Hạng người thứ nhất từ nhỏ đến lớn chưa từng làm điều xấc ác, lại hay giúp người cứu vật. Hạng người thứ hai đã từng gây tạo tội lỗi mà biết ăn năn hối cải, sám hối hứa chừa bỏ không tái phạm. Cả hai đều có khả năng giác ngộ như nhau.” “Nhưng con đã lỡ phạm tội giết cha.” “Đành rằng nhân quả không sai, gieo gió ắt gặt bão, giết người phải đền mạng, nhân quả lúc nào cũng công bằng, không sai chạy mảy may; nhưng nói như vậy vô tình cái gì cũng trở thành cố định hết thì trên đời này đâu còn ai tu được, thành ra người ác sẽ ác mãi, không thể làm lại cuộc đời. Nếu đại vương cứ một bề hối tiếc, mặc cảm thì rốt cuộc không làm gì được cả.” “Vậy Thế Tôn có thể giúp con bằng cách nào?” “Người đã chết không bao giờ sống lại được, nếu đại vương cứ ưu sầu, thương xót thì cũng không lợi ích gì, chi bằng hiện tại đại vương phát nguyện sám hối, dứt khoát không làm các điều ác mà hay làm các điều lành, giúp dân chúng an cư lạc nghiệp, ổn định đời sống dài lâu, luôn thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ mọi người trên tinh thần vô ngã, vị tha, lấy tình thương chuyển hóa hận thù, luôn từ bi, độ lượng, bao dung và tha thứ”. Sau khi được Đức Phật khai thị, vua A Xà Thế đã tỉnh tâm, hoàn hồn, không còn ưu sầu nữa và liền phát nguyện quy y Tam bảo, nương tựa 3 ngôi báu Phật-Pháp-Tăng, đời đời kiếp kiếp khuyên mọi người gìn giữ 5 điều đạo đức, làm 10 việc thiện.

Vua A Xà Thế từ khi tiếp nhận giáo pháp của Như Lai tâm tình trở nên cởi mở, quyết tâm gầy dựng lại cuộc đời theo lời Phật dạy, lấy tình thương xóa bỏ hận thù, xây dựng cuộc sống dân giàu nước mạnh trên tinh thần từ-bi-hỷ-xả, coi thần dân như con đẻ của mình. Nhờ vậy, trong triều đại vua A Xà Thế đã làm được những việc không thể ngờ. Một ông vua ngang tàng, bạo ngược, nhờ gặp đức Phật mà thay tâm đổi tánh, từ một người giết cha để cướp đọat ngôi vua trở thành một vị vua nhân từ, đức độ, hướng dẫn mọi người sống theo lời Phật dạy trên tinh thần đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Ngài là vị vua đầu tiên đứng ra bảo trì kết tập Kinh điển Phật giáo lần thứ nhất tại núi Kỳ Xà Quật. Sau khi Phật viên mãn, ngài đứng ra phân chia Xá Lợi Phật cho 8 nước. Một ông vua hung tàn, bạo ngược nếu không gặp Phật thì biết bao chuyện lầm than đã xảy ra cho dân cho nước. Thường những vị vua hung bạo đều có tài, nếu sử dụng tài đúng chỗ, đúng nơi sẽ giúp muôn dân sống an vui, hạnh phúc trên tinh thần vô ngã, vị tha; nếu sử dụng sai lầm sẽ làm thiên hạ khổ đau vì mộng bành trướng bá quyền, thôn tính xâm lăng, mở mang bờ cõi, gây bao tang tóc, đau thương cho nhiều người. A Xà Thế vốn là vị vua có tài, nhờ Phật chuyển hóa mà nhận ra sai lầm, biết sám hối, ăn năn, làm lại cuộc đời. Bằng những việc làm thiết thực ngài đã giúp dân an cư lạc nghiệp, không làm các việc xấu ác; phần mình phát nguyện quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, trọn đời gìn giữ 5 điều đạo đức, sống gương mẫu, biết hy sinh vì mọi người, lấy niềm vui thiên hạ làm niềm vui cho bản thân, khuyên mọi người hạn chế tối đa việc giết hại chúng sanh và hay phóng sanh cứu người cứu vật, luôn sống chân thật, không dùng quyền hạn để bóc lột của người hay cướp giật của kẻ khác, khuyên người bố thí cúng dường, cung kính hiếu dưỡng ông bà cha mẹ và các bậc trưởng thượng, giúp đỡ chia sẻ khi gặp người bất hạnh, không ủng hộ quan điểm chồng chúa vợ tôi, khuyên bảo mọi người sống chung thủy một vợ một chồng, không nói dối hại người và luôn nói lời chân thật, không dùng rượu quá chén hay vui chơi quá đáng mà tác hại đến đời sống con người. Vua nhờ tiếp nhận giáo pháp của Như Lai nên một đời giúp dân chúng an cư lạc nghiệp theo tinh thần Phật dạy, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau vì lợi ích chúng sanh bằng tình người trong cuộc sống.

NGƯỜI MẸ GIẾT CON

Hổ dữ không ăn thịt con là câu thành ngữ đã khẳng định kẻ ác cách mấy cũng không nỡ giết con. Hổ là loài chuyên ăn thịt sống và dã man nhất trong các loài thú, chúng không từ nan bất kỳ loài nào miễn có mồi ăn là được, vậy mà chúng cũng không nỡ ăn thịt con khi đói khát. Câu này ý nói không có người mẹ nào nỡ nhẫn tâm hại con hay giết con. Ấy thế mà cách nay vài tháng, trong báo pháp luật và cuộc sống có đăng tin người mẹ giết con mới 2 tháng tuổi bằng cách bỏ con xuống giếng. Ai đọc báo cũng đều oán hận người phụ nữ ấy.

Một cô gái 22 tuổi sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo khổ, học chưa hết lớp 5 đã phải nghỉ học để ở nhà phụ giúp gia đình. Nhà nghèo lại đông anh em, cả nhà sống nhờ vào miếng ruộng nhỏ nên vì thiếu ăn, thiếu ngủ mà cô xanh xao, gầy đét, nhỏ thó, trông thật đáng thương. Lớn lên một chút cô cũng phải mắt chàng trai xã kế và xa gia đình về làm dâu nhà người. Nhà bên chồng cũng chẳng giàu có gì, cũng thiếu trước hụt sau nên chồng cô phải làm thuê phương xa, lâu lâu mới về. Một năm sau ngày cưới, đứa con đầu lòng chào đời cũng không có mặt người cha, chồng làm xa ít khi về thăm vợ, nhưng mỗi lần về là rượu chè bê tha, hành hạ, mắng nhiếc vợ không tiếc lời. Đứa con ốm o gầy mòn, èo uộc khó nuôi vì suy dinh dưỡng. Người chồng không quan tâm đến vợ cũng chẳng đoái hoài đến con, anh quá thờ ơ, lạnh nhạt, dẫn đến nhiều xung đột xảy ra khi về thăm nhà, cô vợ cố ý muốn ly hôn mà không được. Vài tiếng trước khi bỏ con xuống giếng, nhiều lần cô đem bỏ con ngoài trời lạnh buốt giữa đông để ai thấy thương đem về nuôi, nhưng nghe tiếng con khóc ré cô không nỡ nhẫn tâm, đành ẵm lại vô nhà. Bị ức chế về tinh thần nên không làm chủ bản thân, cô cứ nghĩ đứa con là đầu mối đem đến đau khổ. Từ khi lấy chồng đến giờ chẳng có một ngày cô thật sự hạnh phúc mà luôn sống trong dằn vặc, khổ đau. Thiếu thốn vật chất đã đành, tinh thần lại luôn hoảng loạn, lo lắng và sợ hãi. Mù quáng, nông nỗi, điên cuồng sau gần một đêm thức trắng, người mẹ ấy đành đoạn liệng con xuống giếng. Đứa bé 2 tháng tuổi có biết gì đâu, tại sao người mẹ lại tàn nhẫn vô lương tâm đến thế?

Trên đời này không có gì thiêng liêng và cao quý bằng tình yêu thương của mẹ đối với con. Từ thuở mới lọt lòng mẹ đã cho con bú móm, đến khi biết ăn mẹ phải móm cơm cho con, lớn lên một chút mẹ cho con đi học và bắt đầu nuôi nấng, dạy dỗ, chỉ bảo cho con biết được điều hay lẽ phải, chẳng quản gian lao, nhọc nhằn, khổ sở, miễn sao con trẻ ấm no là mẹ vui lòng. Mẹ nuôi con khôn lớn cho đến khi trưởng thành và dựng vợ gả chồng, chia gia tài cho con; ấy thế mà người mẹ này đành đoạn nhẫn tâm giết con như vậy. Nghèo khổ, thất học, bị ngược đãi trong gia đình, chồng thường xuyên không quan tâm, lo lắng và chẳng đoái hoài đến con, lại hay bê tha cờ bạc, rượu chè, lăng nhăng đàn điếm; tưởng lấy chồng được hạnh phúc và thoát khỏi cảnh nghèo khổ, nào ngờ cuộc sống càng thêm khó khăn và khốn khổ vô cùng; trong lúc quẫn trí không làm chủ bản thân, chị đành lòng vứt tình mẹ con dưới giếng sâu. Sau chị vào nhà giả vờ hỏi chồng, “em mới ra ngoài một chút, con mình đâu anh? Anh chồng thẫn thờ chẳng biết gì. Đến sáng cô ra giếng múc nước nhưng khựng cả người, xác đứa bé phập phềnh nổi dưới giếng sâu, cả gia đình không ai nghĩ cô là thủ phạm. Một ngày sau đó, người mẹ trẻ không qua được mắt pháp luật nên đành cúi đầu khai nhận tất cả. Trên đời này hiếm có người mẹ nào đành lòng nhẫn tâm giết con như vậy; họa chăng nếu nuôi không nổi hoặc vì hoàn cảnh khó khăn, họ chỉ bỏ con nhờ người khác nuôi, ít ai đủ can đảm giết con kiểu này, ngoài trừ trường hợp bất đắc dĩ. Bản án 12 năm tù đối với chị là một bài học cảnh báo về nạn bạo hành trong gia đình. Do hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn về mọi mặt và ít khi được chồng quan tâm, lại còn nỗi ấm ức chồng có bồ nhí nên vì ghen tuông, cuồng dại mà mất bình tĩnh, dẫn đến hành động mù quáng. Nghèo khổ thất học, không được giáo dục về sự hiểu biết cũng là nguyên nhân dẫn đến vòng lao lý. Bởi cuộc sống quá khó khăn và chịu nhiều áp lực nên tinh thần chị bất ổn, không đủ khả năng để hóa giải những nỗi khổ, niềm đau mà gây nên cớ sự.

Giáo dục đời sống hạnh phúc gia đình là điều cần thiết quan trọng, nếu không việc bạo hành trong gia đình ngày càng tăng sẽ làm ảnh hưởng xấu đến cộng đồng xã hội. Chuyện con giết cha vì hành hạ mẹ, vợ giết chồng để đi theo tiếng gọi tình yêu, mẹ bán con để được lòng người tình trẻ, người trong gia đình tán gia bại sản vì tranh chấp đất đai, nhà cửa. Cuộc sống ngày nay đã đến hồi báo động cấp bách vì con người không tin sâu nhân quả, cứ nghĩ chết là hết, không có luân hồi tái sanh nên vô tình gây nhiều tội lỗi. Một vụ bạo hành đứa con vừa mới 9 tháng tuổi mà người gây ra chính là mẹ ruột, cha ghẻ và ông bà ngoại chỉ vì mê tín dị đoan, nghe theo lời thằng con rể bất nhân bất nghĩa; còn biết bao chuyện nhân tình thế thái ngược đãi với nhau chỉ vì chút lợi ích riêng tư. Chuyện người vợ trẻ giết con thật sự khó tin nhưng lại là sự thật. Tại sao chị ta có những suy nghĩ và hành động lạ lùng hơn những bà mẹ khác? Vì nghĩ con mình là đầu mối của sự ràng buộc khổ đau, là nguyên nhân của bao điều tai họa mà chị đành đọan nhẫn tâm giết con không thương tiếc. Người vợ trẻ sinh trưởng từ một gia đình nông dân thiếu trước hụt sau, nhà nghèo lại anh em đông nên phải bỏ học khi còn nhỏ để phụ giúp gia đình, lớn lên muốn thoát khỏi cảnh nghèo chị ôm hy vọng khi lấy chồng đời mình sẽ thay đổi. Do suy nghĩ đó nên chị không cần tìm hiểu chín chắn, hai người chỉ quen 1 tháng rồi lấy nhau. Đã nghèo lại mắc cái eo, thay vì có hiểu biết thì không nên sanh con quá sớm khi còn thiếu thốn, khó khăn; đến lúc có thai người vợ trẻ phải chịu nhiều cay đắng và đau khổ tận đến lúc sanh con, sức khỏe xuống cấp trầm trọng, cuộc sống thiếu hụt trước sau, tinh thần mệt mỏi trong cô đơn buồn tủi, không một ai cùng giải bày tâm sự. Từ những tâm niệm bất an đó khiến người vợ trẻ mang chứng bệnh trầm cảm, dẫn đến suy nghĩ, hành động không sáng suốt và cuối cùng đã giết con.

Mặc cảm, buồn tủi, khổ đau, uất ức cứ chất chứa trong lòng, lâu ngày dồn nén phát sinh tư tưởng hoang đường, sợ hãi. Phiên tòa hôm đó chỉ có hai người là bị cáo và mẹ bị cáo; với dáng người nhỏ thó, mặt mày hốc hác trông rất thảm sầu, chị ta cứ ấp a ấp úng không trả lời được vì sao nỡ giết con tàn nhẫn thế. Câu chuyện trên là một bài học thiết thực ở đời cho những ai sắp bước vào ngưỡng cửa hôn nhân, hãy nên chín chắn suy nghĩ và xem xét. Trước khi lập gia đình chúng ta ít nhất phải có thời gian chuẩn bị, tìm hiểu rõ ràng, không nên có con quá sớm khi cuộc sống vẫn còn thiếu thốn, khó khăn. Xưa nay hổ dữ không nỡ ăn thịt con là chỉ cho người mẹ không bao giờ hại con, giết con, nhưng người vợ trẻ này dám làm chuyện ấy thì chắc phải có nguyên nhân. Dù muốn, dù không, dù đúng, dù sai, dù cố tình hay vô tình, chị ta cũng đã phạm tội giết con. Ai sắp làm mẹ hoặc đã và đang làm mẹ hãy nên thận trọng trong đời sống gia đình.

CƯỚI VỢ CHO CHỒNG

Xưa nay cha mẹ đi cưới vợ cho con là chuyện bình thường ai cũng biết, đằng này vì không có con nối dòng nên vợ lớn phải đi cưới vợ bé cho chồng. Sự thật quá trớ trêu và đau lòng cho thân phận đàn bà, cuộc sống nếu xuôi chèo mát mái thì người phụ nữ cũng phải chịu 5 điều thiệt thòi so với đàn ông; thứ nhất là phải rời xa gia đình về nhà chồng làm dâu nơi xứ lạ quê người; thứ hai khi có kinh nguyệt phải chịu mệt mỏi, toàn thân uể oải; thứ ba khi làm thai phụ biếng ăn mất ngủ, phải chịu đựng một mình; thứ tư vào lúc lâm bồn phải chịu đau đớn, có khi còn mẹ mất con hay còn con mất mẹ, thậm chí có lúc phải mất cả hai; cái khổ thứ năm là phải hầu chồng, chăm sóc con cái; 5 điều này là những thiệt thòi mà một người đàn bà phải gánh chịu. Đã mang thân phận con người ai cũng có nỗi khổ riêng. Người phụ nữ sinh ra đã có chức năng làm mẹ nên họ có những đau khổ riêng các đấng mầy râu không có được. Đó là những nỗi khổ thầm kín, riêng tư mà người phụ nữ phải gánh chịu so với đàn ông. Nếu đã làm chồng chúng ta phải có tấm lòng cao thượng, bao dung, chia sẻ và cảm thông thì làm gì có chuyện bạo hành xảy ra trong gia đình. Thật ra, người nam dù có yêu thương phụ nữ cách mấy cũng không thể nào bù đắp hết nỗi đau riêng biệt của đàn bà. Đó là sự thiệt thòi lớn nhất của người nữ từ xưa cho đến nay. Bao nhiêu bực bội, phiền muộn dằn vặc xảy ra hàng tháng cùng với sự nặng nề, mệt mỏi lúc mang thai, đến khi một mình vượt cạn lúc sinh nở với bao nguy hiểm, đau khổ tột cùng. Vì thế dân gian có câu:

Đàn ông đi biển có đôi

Đàn bà đi biển mồ côi một mình.

Trong cuộc sống, đàn ông là hình bóng để đàn bà nương tựa, vì vậy các đấng mầy râu khi lấy vợ phải có tình yêu thương chân thật, phải luôn chia sẻ, cảm thông, bao dung và độ lượng với vợ của mình. Tuy nhiên, những nỗi khổ, thiệt thòi đó không bằng phải chịu cảnh chia chăn xẻ gối với người khác, nói chi đến việc ngậm đắng nuốt cay để cưới vợ cho chồng.

Tự mình cưới vợ cho chồng

Nhưng lòng thì lại chẳng vui chút nào.

Một chồng hai vợ ở chung

Làm sao chịu được cảnh chia sẻ tình.

Thương thay thân phận đàn bà

Bởi gieo oan nghiệt nên đành khóc than.

Tự mình chuốc lấy khổ đau

Rồi gieo oán hận ngàn năm không rời.

Nhờ ơn gặp Phật đã thông

Chỉ cho nhân quả nghiệp duyên ba đời.

Lấy hận thù diệt hận thù

Thù kia như núi càng thêm chất chồng.

Lấy tình thương xóa hận thù

Bao nhiêu oan nghiệt nhiều đời tiêu tan.

Quan niệm có con nối dõi tông đường là tập tục từ ngàn xưa cho đến nay đã ăn sâu trong lòng mỗi người. Chính vì thế, người phụ nữ đã lấy chồng nhưng không đủ duyên sinh con là một trở ngại rất lớn, người vợ ấy sẽ bị gia đình bên chồng coi thường, khinh rẻ, mạt sát chẳng ra gì. Chính vì quan niệm sanh con nối dõi mà đã không biết bao nhiêu phụ nữ phải chịu thiệt thòi, đau khổ, để rồi cuối cùng gây ra nhiều oan nghiệt.  

Thuở xưa, một gia đình giàu có nọ chỉ có đứa con trai duy nhất đã đến tuổi trưởng thành nhưng vẫn chưa lấy vợ. Cha mẹ cứ bắt ép riết, “con phải lấy vợ và sanh con trai kế thừa gia tài và nối dõi tông đường”. Chàng trai vì bất đắc dĩ mới chịu nghe lời cha mẹ và cưới được người vợ rất đẹp đẽ, dễ thương. Nhưng buồn thay, đã nhiều năm trôi qua mà hai người chẳng sinh được mụn con, cha mẹ bên chồng rất lo lắng và lấy làm khó chịu. Mặc dù cô vợ luôn làm tròn bổn phận và  trách nhiệm làm dâu, luôn chu toàn mọi việc từ trong nhà cho đến cách cư xử tốt đẹp với họ hàng thân quyến, nhưng chỉ tội cô không sinh được con. Cha mẹ chồng cứ thúc giục và bắt buộc con mình mau cưới vợ bé kẻo gia đình phải chịu cảnh tuyệt tự. Tình cảm mẹ chồng nàng dâu từ đó càng thêm căng thẳng, không khí trong gia đình như cơm nguội canh lạnh chỉ vì không sinh được con. Mẹ chồng cứ đay nghiến và kiếm chuyện với con dâu tối ngày, “cô là phường vô loại làm diệt mất giống nòi nhà tôi, cô chẳng được lợi ích, tích sự gì cả!”. Một phần bà miệt thị con dâu, một phần bà ép con trai mình cưới vợ bé. Cô vợ buồn quá, trong lòng rối như tơ vò, chẳng biết phải làm cách nào để gia đình được hòa hợp. Cô suy nghĩ, “nếu để mẹ chồng đi cưới vợ bé thì mình coi như ra rìa”. Sợ bị bạc đãi, cô ta chủ động đi tìm vợ bé để cưới cho chồng. Hôm sau, cô khăn gói lên đường đến một làng nọ, sau khi hỏi thăm biết rõ gốc tích và lai lịch một thiếu nữ duyên dáng, hài hòa, dễ thương, chưa có người dạm hỏi, cô xin đến gặp gia đình nhà ấy và trình bày rõ mục đích muốn cưới vợ bé cho chồng để có con nối dõi. Thoạt đầu gia đình bên ấy không chịu, sau nhiều lần năn nĩ ỉ ôi trình bày gia cảnh, cô cũng thuyết phục được họ. Lòng cô mừng vui vô hạn nghĩ rằng từ nay về sau sẽ không bị mẹ chồng coi thường, khinh rẻ nữa.

Thời gian đầu hai chị em sống rất hòa thuận, vui vẻ, không phiền lòng nhau điều gì; nhưng một thời gian sau cô vợ nhỏ có thai, lòng cô vợ lớn phát sinh ganh ghét, tị hiềm đến tột cùng.

Ớt nào là ớt chẳng cay

Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

Ghen tuông và ích kỷ là nguyên nhân dẫn đến làm điều xằng bậy, đây là nỗi khổ của người vợ lớn khi gặp hoàn cảnh này. Trước kia vì sợ thiệt thòi nên mới đành lòng bấm bụng đi cưới vợ cho chồng, bây giờ đứa con trong bào thai là nguyên nhân khiến cô bị bỏ rơi sau này. Nghĩ vậy cô bèn nói với vợ nhỏ, “nay em đang mang thai, để chị nấu thuốc cho em uống để dưỡng thai, sau này em sẽ sinh con tốt đẹp”. Người vợ nhỏ nghe nói vậy trong lòng mừng thầm, “không ngờ mình quá diễm phúc nên được chị cả ân cần, chăm sóc chu đáo như vậy”. Cô có ngờ đâu chính than thuốc ấy đã hủy diệt mầm sống của đứa con trong bụng. Khi hàng xóm láng giềng viếng thăm và chia buồn cùng cô vợ nhỏ, hỏi ra mới biết mưu mô thâm độc của cô vợ lớn, họ khuyên cô sau này có thai đừng cho vợ lớn biết thì không sợ gì nữa. Thời gian sau vợ nhỏ lại mang thai, làm sao giấu được chị cả khi bào thai đang ngày càng một lớn, cô ta vẫn tìm cách bỏ thuốc vào thức ăn nên cuối cùng hai mẹ con đều chết; trước khi nhắm mắt, cô vợ nhỏ thề sẽ quyết trả mối thù. Nhân quả theo ta như hình với bóng, một niệm căm thù rửa hận khởi lên trong lúc cận kề cái chết sẽ thúc đẩy ta tới chỗ oan gia báo oán. Anh chồng sau khi biết được việc làm ác độc của vợ đã đánh đập tàn nhẫn khiến chị cũng phải về sớm với ông bà. Do duyên nghiệp ân oán quá mãnh liệt, cô vợ nhỏ tái sanh làm con mèo trong nhà chồng, chị vợ lớn sanh trở lại làm gà mái. Mèo ta vì ân oán năm xưa nên rình ăn hết các trứng gà con và sau đó xơi luôn chị gà mái. Nhân quả vay trả, trả vay không có ngày cùng. Chị gà mái tái sanh trở lại làm con beo, chị mèo già sanh trở lại làm nai tơ ngơ ngác. Thế là anh beo tìm cách xơi tái chị nai trong một thời gian ngắn ngủi. Vào kiếp gặp Phật, chị nai sanh lại làm quỷ dạ xoa chuyên ăn thịt con nít. Con beo chuyển kiếp làm một cô gái có đứa con đầu lòng bị quỷ dạ xoa ăn thịt và đứa thứ hai cũng thế. Đến lần thứ ba thì cô hoảng quá nên trở về quê ngọai sanh con, nhưng quỷ dạ xoa không chịu buông tha, vẫn canh chừng cô bồng con về để xơi tiếp đứa nữa. Trên đường bồng con về nhà chồng, cô đi ngang qua tịnh xá Kỳ Viên và đến nơi có dòng suối mát trong xanh, cô để đứa bé bên bờ suối và tắm mát cho khuây khỏa tâm hồn. Cô đang ngâm mình thì quỷ dạ xoa bắt đầu xuất hiện. Vì đã cảnh giác cao độ nên cô bồng kịp đứa con chạy vào tịnh xá và trao đứa con cho Phật. Do thần lực của chúng Tăng quá mạnh nên quỷ dạ xoa không vào theo được. Phật bảo ngài A Nan ra mời quỷ dạ xoa vào để nói chuyện. Phật biết được căn duyên kiếp xưa nên nói đạo lý nhân quả nghiệp báo theo ta như hình với bóng, chỉ có tình thương mới chuyển hóa được hận thù cho hai người thấu rõ. Bài pháp thoại tuy ngắn nhưng đã thay đổi cuộc đời của cả hai, họ phát nguyện sám hối hứa chừa bỏ, không làm tổn hại cho nhau nữa. Vì dạ xoa chuyên ăn thịt con nít nay đã quy y đầu Phật nên không biết ăn gì để sống, Phật dạy cô gái mỗi ngày nấu cháo cho quỷ dạ xoa ăn và họ kết tình chị em từ đó.

Thật kinh hoàng và khủng khiếp cho chúng sinh, chỉ vì chút lợi ích riêng tư mà gieo thù kết oán từ đời này sang kiếp khác không có ngày cùng. Do đó, sống giữa cõi đời trần tục, ai khôn ngoan, sáng suốt, biết tịnh dưỡng thân tâm, luôn gieo trồng phước đức, làm những điều tốt đẹp thì cuộc sống sẽ an nhàn, hạnh phúc. Câu chuyện trên là một bài học thiết thực phản ánh thực trạng quan niệm khi xưa, không có con trai nối dõi tông đường là bất hiếu. Dù sanh con gái thật nhiều cũng không được coi trọng và kế thừa vì nữ sanh ngoại tộc, lớn lên có chồng phải theo chồng. Nhiều gia đình dù đã có năm sáu đứa con gái, biết nuôi không nỗi cũng phải ráng đẻ để kiếm con trai. Quan niệm khi xưa trọng nam khinh nữ đến thời đại này không còn phù hợp, người nữ bây giờ đã tham gia làm việc như người nam, không còn loanh quanh chỉ lo bếp núc và nuôi dạy con cái. Pháp luật ngày xưa quy định gia đình nào không có con trai thì khi cha mẹ qua đời, tài sản bị tịch thu để sung vào công quỹ. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trọng nam khinh nữ, người nữ bị hạn chế về quyền lợi nên không được hưởng các nhu cầu như người nam. Đang là người con dâu ngoan hiền, hết lòng chu toàn mọi việc nhà chồng trong ấm ngoài êm, chỉ vì không có khả năng sinh con để kế thừa gia tộc mà cuối cùng phải gây thù chuốc oán với người tiểu thiếp do chính mình xin cưới. Đến kiếp hiện tại nhờ gặp Phật mà thông hiểu nghiệp duyên ba đời, nhân quả theo ta như hình với bóng, lấy oán trả oán thì oán thêm chồng chất, chỉ lấy tình thương mới chuyển hóa được hận thù. Lời Phật dạy tuy đơn sơ nhưng giá trị thật sâu sắc, đã giúp hai người nối kết lại tình thương và hóa giải được ân oán nhiều đời. Phật pháp là chiếc thuyền Từ đưa người qua biển khổ sông mê, nếu ai có duyên gặp được và biết ứng dụng hành trì thì tội lỗi sớm tiêu trừ, dứt được oan khiên, nghiệp tập nhiều đời.

Một trong những loại tình cảm tiêu cực có thể tác hại lâu dài và bền bỉ nhất là sự thù ghét, nhất là thù ghét vì ghen tuông, dễ dẫn đến hủy diệt lẫn nhau. Bao nhiêu án mạng xảy ra cũng vì ghen tuông như tạt axit tình địch, giết người yêu vì bị phụ tình, ông ăn chả bà ăn nem… tạo ra nạn bạo hành trong gia đình. Thù ghét là căn bệnh thâm căn cố đế đã ăn sâu trong lòng con người nên dễ dàng tiêu diệt lẫn nhau làm tăng thêm oán hận. Sự thù ghét giữa người vợ lớn và cô tiểu thiếp dẫn đến sự giết hại, nguyên nhân chính vì không có con nối dõi tông đường. Thời đại phong kiến vì trọng nam khinh nữ mà dẫn đến đời sống xã hội có nhiều tiêu cực, nhất là không có con trai kế thừa thì tài sản bị sung vào công quỹ, vô tình xem người nữ như món đồ chơi để phục vụ đàn ông. Gia đình nào có con trai là số một, dù 10 đứa con gái cũng như không, nên phận nữ nhi vào thời phong kiến rất khổ sở. Đó chính là nguyên nhân và đầu mối dẫn đến thù ghét và gây tạo tội lỗi đời này sang kiếp khác không có ngày cùng. Người phụ nữ trong thời đại phong kiến phải chịu luật Tam tòng, khi còn ở gia đình phải thờ cha, khi có gia đình phải thờ chồng, đến khi chồng chết phải thờ con, không được quyền tái giá. Phụ nữ trong thời này nếu ngoại tình bị xử tội rất nặng, bị bỏ vào rọ thả trôi sông hoặc bị chôn sống. Đàn ông công khai, hiên ngang lấy nhiều vợ mà không bị tội, đó là luật trọng nam khinh nữ của thời xưa.    

LOẠN LUÂN TRONG TÌNH ÁI

Có nhiều cuộc tình xảy ra làm đau đầu thiên hạ, mất hết tính người vì không đè nén được cơn ham muốn mà làm điều tội lỗi. Đất nước Ấn Độ vào thời xa xưa có người con gái tuổi vừa cập kê duyên dáng, kiều diễm, làm động lòng chàng trai làng kế. Cặp trai tài gái sắc này thật xứng đôi vừa lứa, nếu được kết tóc se duyên thì thiên hạ trầm trồ khen ngợi. Rồi cái ngày ấy cũng đến với sự hân hoan chào đón của hai họ. Ai cũng mừng cho duyên phận hai người, họ sống với nhau mặn nồng, hạnh phúc và sinh được một đứa con gái. Theo phong tục tập quán ngày xưa, phụ nữ có mang phải về nhà cha mẹ ruột sinh đẻ. Chàng trai vì thương vợ nên về theo để tiện bề chăm sóc, vợ mới sanh con còn trong tháng nên phải kiêng cử trong thời gian nhất định. Mẹ vợ còn trẻ đẹp khiến chàng trai mê mẩn, chàng bị quyến rũ và cuối cùng hai người đã gian dâm với nhau rất nhiều lần. Khi cô vợ bắt được hai người đang mây mưa thì thật tủi nhục làm sao, cô nhìn mẹ vô cùng tức giận trước một sự thật quá phũ phàng. Nàng đành lòng ôm gối ra đi trở lại nhà chồng vì không còn cách nào khác. Kể từ đó, tình cảm hai người đã bị sứt mẻ, người vợ ráng chịu đựng thêm một thời gian chờ đứa con khôn lớn rồi ra đi trong đau khổ tột cùng.

Câu chuyện trên được kể lại trong sử sách Ấn Độ và phụ nữ nước này thường lấy chồng rất sớm, bắt đầu từ mười ba tuổi và có thể có con ở tuổi mười lăm, sự chênh lệch giữa mẹ và con gái không quá xa. Con người vì dục vọng thấp hèn không kìềm chế được bản thân nên báo chí thường đăng tin nhiều vụ án hiếp dâm dưới tuổi vị thành niên. Đạo đức suy đồi, nhân cách thấp kém, con người bất chấp luân thường đạo lý. Chàng rể cùng mẹ vợ tư tình trong thời gian nàng bắt đầu làm mẹ. Nhục nhã ê chề khi nàng chứng kiến tận mắt mẹ mình làm vậy, tim cô se thắt vì rỉ máu. Đau lòng xót dạ, tủi nhục phũ phàng, “mẹ ơi, có thể nào như vậy?” Quá bức xúc, ngay trong đêm cô ôm gối ra đi cùng đứa con chưa đầy một tháng, lòng hận người mẹ đến tột cùng nên thề quyết không trở về nhà dù mẹ chết. Vì nàng chẳng biết đi đâu nên đành trở lại nhà chồng mà ngậm đắng nuốt cay nuôi con thơ dại. Cứ thế thời gian thắm thoắt trôi qua gần 8 năm ròng, cuối cùng nàng cũng ra đi trong niềm uất hận đau thương, mất mát. Người con gái đó bỏ xứ ra đi đến thành Ba La Nại, chẳng mang theo thứ gì. Vừa đói khát, vừa mệt mỏi, thân hình tiều tụy, tinh thần hoảng loạn, nàng ngồi khóc bên bờ sông, may thay có một thương gia giàu có vừa mất vợ đang ngắm cảnh xem hoa, dạo chơi bên bờ hồ. Thấy nàng ông động lòng thương xót nên đến hỏi thăm gia cảnh ở đâu, vì sao nên nông nổi. “Dạ thưa ngài, tôi mất cha mẹ từ nhỏ, lớn lên cũng có một tấm chồng và một đứa con, chẳng may số phận hẩm hiu, chồng và con đều chết vì tai nạn, tôi không còn nhà cửa và người thân nào nữa”. Chàng thương gia nghe vậy động lòng thương nên muốn rước nàng về cùng xây tổ ấm để sẻ chia một chút tấm lòng. Người con gái trong lòng cảm động nói không nên lời, “nếu ngài không chê tôi là thân phận thấp hèn thì dù làm gì tôi cũng chấp nhận”. Nàng được chàng đưa về chăm sóc tận tình, chu đáo và hai người chính thức kết nghĩa vợ chồng.

Từ khi có nàng về làm vợ, mọi việc trong nhà cho đến chuyện kinh doanh đều một tay nàng quán xuyến, mọi thứ đều tốt đẹp, hài hòa. Ai cũng tấm tắc khen ngợi chàng thương gia có phước có phần gặp được người vợ tốt, hiền hậu, đảm đang, chu toàn mọi việc. Tám năm trôi qua, nàng sống rất hạnh phúc. Do công việc làm ăn ngày một phát đạt, chàng thương gia phải đi lấy hàng ở nước khác nên tạm thời xa vợ một thời gian. Ngờ đâu giông bão ập đến, chuyến đi không may và chàng thương gia được trả tiền chậm trễ kéo dài gần một năm. Lúc ở xứ người chàng cũng cưới thêm tiểu thiếp chỉ mới 16 tuổi, trẻ đẹp và kiều diễm. Việc mua bán cuối cùng cũng xong, chàng không dám công khai dẫn người thiếp trẻ về nhà vì sợ vợ buồn nên mua căn nhà trong thành cho cô trú tạm. Vợ chồng lâu ngày xa cách giờ gặp lại vui mừng rơi nước mắt, người chồng lúc đầu cũng ân cần, âu yếm để vợ lớn khỏi nghi ngờ. Đàn ông dù thương vợ cách mấy vẫn thích có nhiều thê thiếp nên chàng viện cớ công việc bận rộn và ngày nào cũng sáng đi tối về. Vợ lớn thấy chồng siêng năng làm ăn nên sợ vất vả, nhọc nhằn, cô lúc nào cũng quan tâm thưa hỏi, chăm sóc chu đáo, tận tình. Thói thường cặp mắt đàn bà sắc xảo, cô biết chắc chồng mình sinh tật nên âm thầm cử người theo dõi và biết chồng có người tình riêng. Nàng nói, “bấy lâu nay chàng có thiếp trẻ sao không dẫn về đây để chị em cùng chung sống và để chàng đỡ nhọc nhằn đi lại”. Người chồng nghe nói vậy trong lòng rất cảm phục tấm lòng nhân ái, bao dung của vợ nên xuống nước nói nhỏ, “ta sợ nàng biết càng thêm lo lắng, buồn khổ đó thôi!” “Thiếp sỡ dĩ có được ngày nay là nhờ ân phúc của chàng đã cưu mang thiếp trong lúc khốn khổ. Thiếp không dám buồn đâu, chàng cứ dẫn nàng ấy về đây cùng chung sống cho có tình có nghĩa”. Chàng thương gia xúc động trước tấm lòng hy sinh cao cả của người vợ, nàng quả thật là người vợ hiền lương đạo đức, biết bao dung và tha thứ. Hai chị em chung sống cùng nhau rất hòa thuận, vui vẻ, không có chuyện ghen ghét, tị hiềm. Chàng thương gia quả thật có phước khi người vợ lớn còn gội đầu cho người thiếp trẻ. Nhưng tình đời trái ngang, cay đắng, trong lúc hai người đang vui vẻ tâm tình thì người vợ lớn chợt phát hiện một bớp son sau gáy người thiếp trẻ, hỏi ra mới biết nàng chính là con ruột của mình đã cắn răng từ bỏ ra đi. Nàng đau khổ tột cùng trước sự thật quá phũ phàng khi nhớ lại cuộc tình chồng chung với mẹ ruột, giờ thì cùng chồng với con gái. Quá đau lòng cho kiếp hồng nhan bạc phận khi đã gặp phải hai cuộc tình ngang trái. Cuộc tình kế tưởng êm đềm, hạnh phúc lâu dài, không ngờ con gái cũng là vợ chồng mình. Khổ đau cùng cực trước hoàn cảnh éo le, nàng cuối cùng không chịu nổi nữa nên đành ra đi làm cánh hoa đưa tình trả thù đời đen bạc.

Xã hội phong kiến cổ xưa với tập tục trọng nam khinh nữ làm phái đẹp bị chà đạp nhân phẩm, phải chịu nhiều thiệt thòi. Trong tình cảm hôn nhân gia đình, trai thì năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ một chồng. Nếu người nữ quan hệ bất chính với người khác khi có chồng sẽ bị ghép vào tội rất nặng không thể tha thứ. Ngược lại,

Đàn ông năm bẩy lá gan

Lá ở với vợ lá toan cùng người.

Xưa nay, từ vua chúa quan quyền đến thứ dân bần cùng nghèo khổ bị tan nhà nát cửa, mất nước mất thành, gia đình đổ vỡ đều do sống không chung thủy mà ra. Không chung thủy là quan hệ bất chính ngoài vợ ngoài chồng, hay còn gọi là tà dâm. Vậy tà dâm là gì? Là hành động sai lầm về tình dục nam nữ, là hành động làm mất nhân cách đạo đức con người, là thói quen ham muốn quá độ của đấng mày râu, là quan hệ tình dục ngoài chồng ngoài vợ. Theo lời Phật dạy, người Phật tử tại gia có quyền lấy vợ lấy chồng xây dựng cuộc sống gia đình. Song, người Phật tử ngoài vợ chồng chính thức không được quan hệ ai khác như tìm thú vui trong chốn thanh lâu, cho đến cưỡng bức, xâm hại người khác đều gọi là tà dâm. Trường hợp vua Lê Ngọa Triều cũng vì đam mê tửu sắc quá độ dẫn đến thân thể suy nhược, bệnh hoạn, không ngồi được mà chỉ có thể nằm nên mới bị cướp ngôi. Với người dân thường thì cửa nhà ly tán, vợ con khốn khổ, mẹ cha buồn rầu, gia đình không hạnh phúc.

Người phụ nữ đó trong cơn hoảng lọan hận tình đổi trắng thay đen, cuối cùng ra đi làm cánh hoa phiêu bạc trả thù đời. Sau này gặp được tôn giả Mục Kiền Liên tận tình chỉ dạy, cô ta nhận ra lỗi lầm nên hồi tâm quay đầu tu Phật; sau nhờ siêng năng tinh cần tu tập mà cuối cùng chứng quả A la Hán, thần thông đệ nhất bên Ni tên là Liên Hoa Sắc. Dù đã tu hành chứng đạo nhưng tỳ kheo Ni Liên Hoa Sắc vẫn phải trả một quả báo hết sức đau lòng. Một gã ma cô đã để ý đường đi nước bước của cô. Khi biết cô đã đi khất thực, gã nhanh chân lẻn vào thất vắng nằm núp dưới giường chờ thời cơ hành động. Cô đi khất thực về gã dùng bạo lực hăm dọa và sau đó hãm hiếp. Sự việc xảy ra Phật biết được cho mời cô tới hỏi thăm cớ sự, “trong lúc bị như thế con có khởi lên khoái cảm không?” Cô trả lời, “con lúc đó có cảm giác như bị cục sắt nóng nung cháy”. Phật nói, “như vậy con đã thật sự bị hủy nhục”. Câu chuyện là bài học nhân quả báo ứng theo ta như bóng với hình khi hội đủ nhân duyên và điều kiện. Từ đời sống thế tục cho đến khi xuất gia Liên Hoa Sắc luôn gặp bất hạnh với những cuộc tình ngang trái. Xã hội không bao giờ chấp nhận mà thường lên án gắt gao những chuyện tình mất hết tính người như vậy. Lần đầu chồng chung với mẹ ruột, lần hai chồng chung với con gái, đau lòng uất hận tột cùng nên đành bỏ xứ ra đi không ngày trở lại.

Bản chất của chúng sinh là ái dục nên chúng ta có mặt trong cõi đời này đều dính trong vòng lẩn quẩn của tình dục. Khoái lạc tình yêu không thể thiếu trong cuộc sống lứa đôi, ai đắm mình trong dục vọng quá mức sẽ dẫn đến đam mê, tội lỗi. Sinh hoạt tình dục trong đời sống hiện nay được chấp nhận chính thức khi không có liên hệ huyết thống với nhau, nhưng vẫn có một số nước chấp nhận quan hệ tình ái giữa hai người cùng phái hay còn gọi là đồng tính. Người nam với người nam được lấy nhau như vợ chồng, còn gọi là pê đê. Người nữ với người nữ lấy nhau gọi là đồng tình luyến ái. Nếu xảy ra với người cùng huyết thống gọi là loạn luân, nhất là cha mẹ quan hệ với con cái. Nói tới chuyện này chúng tôi còn nhớ có một việc xảy ra ai nghe qua cũng muốn phanh thây, xẻ thịt người đó. Một người cha có hai đứa con gái, trước khi gã chồng ông đều bắt buộc con mình quan hệ với ông. Sau này sự việc đổ bể, ông bị truy tố ra tòa. Trước mặt mọi người ông nói tỉnh bơ, “con tôi đẻ ra thì tôi có quyền hưởng chứ?”. Có nhiều Phật tử cũng bị như thế và thường than với chúng tôi, “con muốn hiếu dưỡng với cha mẹ lắm nhưng không thể được vì nghĩ đến chuyện đó là con uất hận đến tột cùng!” Loạn luân làm xáo trộn luân thường đạo lý, mất hết tính người, không còn tôn ti trật tự, xã hội thường lên án và luật pháp không chấp nhận. Tình dục xảy ra giữa người và thú được gọi là bạo dâm. Quan hệ giữa người lớn và trẻ em gọi là hiếp dâm. Nhan nhản mỗi ngày nếu ai thường xuyên theo dõi báo chí sẽ biết, nhất là chuyện mua trinh của các em học sinh chưa đủ tuổi trưởng thành của ông hiệu trưởng đội lốt người, mang tính dã thú, tội lỗi không biết dường nào.

Thực tế cho thấy khoái lạc trần gian đã làm con người chuốc họa vào thân, thậm chí có những vụ án giết người cướp của dù nạn nhân đã chết nhưng kẻ thủ ác vẫn thỏa mãn dục vọng điên cuồng rồi mới chặt xác phi tang, dẫn đến ngày nay nhiều chứng bệnh phát sinh và sẽ không bao giờ thoát khỏi nanh vuốt của hội chứng sida. Chuyện tình ái trong cuộc đời không sao kể hết từ sự quan hệ dục tính sai lầm mà gây ô nhiễm cho nhiều người, tác hại của nó thật ghê gớm do thói quen hưởng thụ quá đáng mà ra. Ngày nay, một số nước chấp nhận công khai phong trào đổi vợ qua lại để tận hưởng thú vui xác thịt, bây giờ không còn tình trạng lén lúc như xưa mà tất cả đều được công khai dân chủ. Con người không còn biết xấu hổ là gì nữa mà chỉ cần hưởng thụ là được. Luân thường đạo lý đã đến hồi báo động, vấn đề tự do quá mức hãy nên thận trọng coi chừng và phải xem xét lại. Ngoại tình hay sự trao đổi công khai của một số người là vấn đề nhạy cảm, nó không chỉ đơn thuần là sự lén lút thụ hưởng khoái lạc mà là sự công khai cướp đi hạnh phúc gia đình của người khác. Nhiều gia đình đổ vỡ hạnh phúc từ sự ghen tuông, hờn giận, mắng nhiếc, đánh đập và hủy diệt do hưởng thụ quá độ mà ra. Nhân tình thế thái ngày nay là vậy. Thật thương xót và đau lòng thay!

Hiện nay, việc quan hệ tình dục trong giới sinh viên học sinh lúc còn đi học là một vấn đề nan giải. Sinh viên con nhà giàu thì thoải mái, ung dung hưởng lạc thú trong khách sạn vì có tiền. Sinh viên nghèo thì tìm đến những chỗ không cần kín đáo như phòng the. Đúng ra cái nghề này là của các chàng pê đê, song phụ nữ hoàn cảnh khó khăn vì muốn kiếm tiền dễ dàng nên cũng trá hình nhiều cách để phục vụ giới sinh viên học sinh. Xã hội ngày nay đang rộ lên phong trào đĩ đực để phục vụ cho giới đàn bà lớn tuổi, các mệnh phụ phu nhân còn khao khát tình yêu đang đến tuổi hồi xuân đã chết chồng hoặc bị chồng bỏ, chồng chê. Trong quan hệ dục tính nếu chúng ta biết khéo điều hòa bằng tình thương chân chánh, bằng tình yêu chân thật và luôn có sự cảm thông với nhau thì mọi người sẽ sống an vui, hạnh phúc. Qua bài học nhân quả của Tỳ kheo Ni Liên Hoa Sắc trong thời Phật pháp thịnh hành, mọi người chúng ta hãy cùng nhau suy gẫm. Bởi do nghiệp nhân đời trước không chung thủy một vợ một chồng, lại hay dan díu với gia đình người khác nên trong đời này nàng phải trả một giá rất đắc là chồng chung với mẹ ruột và chính con gái của mình. Như vậy, nhìn vào quả hiện tại chúng ta sẽ biết được nhân quá khứ, không có gì đương nhiên khi không và ngẫu nhiên mà có. Ngay nơi hiện tại ta gieo nhân gì thì trong tương lai kết quả sẽ như thế.

Cửa Phật luôn rộng mở để đón nhận những tâm hồn đen tối như hoa sen vươn lên từ bùn nhơ. Cuộc đời nàng Liên Hoa Sắc là tấm gương sáng cho hàng phụ nữ chúng ta ngày nay đang còn mãi mê trong vũng bùn dục vọng thì hãy cùng bà vượt qua cạm bẫy cuộc đời. Trên đời này vượt cạn lên bờ được mấy ai? Sau này trên bước đường giáo hóa, Tỳ kheo Ni Liên Hoa Sắc gặp các thiếu nữ trẻ đẹp đều khuyên nhủ, sách tấn các em đi xuất gia. Họ nói, “chúng con còn nhỏ ham vui, ham ăn, ham ngủ, không tu được”. Bà nói, “không sao đâu, các con cứ tu đi, đi tu hạnh phúc lắm!” Các cô mới nói, “đi tu làm Tỳ kheo Ni lỡ tụi con phạm giới bị đọa địa ngục thì sao?” “Các con cứ yên chí, hết đọa địa ngục rồi lên tu tiếp vì chúng ta đã có nhân tu hành”. Như có nhiều người cư sĩ bên ngoài nghiên cứu, học hỏi Phật pháp rất giỏi và lý luận thao thao bất tuyệt nhưng không dám quy y thọ giới; hỏi ra mới biết nguyên nhân họ nghĩ thọ giới mà không giữ được thì tội sẽ nặng hơn. Xin thưa quý vị, người quy y Tam Bảo và người không quy y khi phạm pháp thì tội bằng nhau, nhưng người con Phật khi đã phạm lỗi biết mình là Phật tử nên ráng cố gắng sám hối, ăn năn chừa bỏ, không dám tái phạm, nhờ vậy không dám làm việc ác nữa nên chỉ cần giữ được một giới là có thể quy y. Phật chế giới nhằm mục đích hỗ trợ chúng ta ngăn ngừa việc xấu ác, giúp chúng ta không rơi vào hố sâu tội lỗi, ai giữ được nhiều giới thì tốt cho bản thân, bớt làm tổn hại cho người và vật. Nếu vì thói quen tập khí nhiều đời, một lúc chưa thể giữ tròn 5 giới thì chúng ta cố gắng phát nguyện giữ một giới, rồi hai giới, ba giới, bốn giới, cho đến khi tu tập thuần thục chúng ta sẽ giữ trọn vẹn 5 điều đạo đức. Người không quy y thọ giới khi lỡ làm ác thì không biết đường hồi đầu vì không tin sâu nhân quả nên cuối cùng bị đọa vào 3 đường ác.

Thời Phật còn tại thế, có một Tỳ kheo là đệ tử ngài Ca Diếp xuất gia tu học đã lâu tu, chứng được Tứ thiền. Một hôm, thầy đến nhà ông phú hộ để hóa duyên, thấy nhiều đồ trang sức bằng vàng bạc, đá quý đẹp mắt nên sanh lòng đắm nhiễm, sau phải hoàn tục về nhà. Để được những thứ đó mà làm thuê mướn biết bao giờ mới có, nghĩ vậy thầy liền cấu kết với nhiều người xấu làm những phi vụ cướp của giết người rồi bị bắt, cuối cùng bị lãnh án tử hình. Ngài Ca Diếp biết được chuyện ấy nên thương xót người đệ tử năm xưa bèn dùng thần lực chỉ dạy, “ông hãy quán tưởng lại đề mục và an trú trong Tứ thiền như đã từng làm trước đây!” Vâng lời dạy, thầy bắt đầu thiền định và nhập vào Tứ thiền. Lính áp giải đưa thầy đến pháp trường bảo, “đã sắp đến giờ hành quyết, ngươi có điều gì trăn trối không?” Thầy nói, “dạ, cám ơn quý ngài đã quan tâm đến tôi”. Lúc ấy, nét mặt thầy vẫn an nhiên, bình thản, không hề lộ vẻ sợ hãi chút nào. Quân lính thấy lạ bảo nhau, “tên cướp này kề cận với cái chết mà không hề run sợ. Thật là chuyện hy hữu và phi thường chưa từng có từ trước đến nay”. Quá đỗi ngạc nhiên và cảm phục, quân lính liền tấu trình lên vua. Khi nghe xong vua bảo, “hãy mau thả người đó ra!” Thật là hạnh phúc cho chàng tướng cướp biết bao, nhờ công đức tu hành còn xót lại nên đã thay đổi được nghiệp nhân xấu ác, thay vì phải chịu bản án tử hình, cuối cùng chàng được tha bổng với lực dụng không thể nghĩ bàn.

Một sự thật không thể ngờ! Nhiệm mầu thay cho giáo pháp chư Phật, thầy Tỳ kheo do không tu hành tới nơi tới chốn, dù tu chứng đến quả Tứ thiền nhưng chỉ là thiền phàm phu, chỉ xả được vọng tưởng nên tâm thanh tịnh, tuy có định mà không có tuệ. Trong lúc thiền định thì tâm an nhiên, thanh tịnh, ngược lại khi đối duyên xúc cảnh thì bị dao động, dính mắc nên mới gọi là thiền phàm phu. Nếu chúng ta tu chứng đến địa vị bất thối chuyển thì đâu còn sợ mọi thứ ràng buộc mà chỉ tùy duyên đi vào đời để hóa độ chúng sinh. Đã gieo nhân lành hay dữ thì dù trăm kiếp ngàn đời vẫn không mất, khi hội đủ nhân duyên quả báo hoàn tự hiện. Những người vì sợ tội nặng hơn mà không dám quy y Tam Bảo, khi lỡ làm ác không biết đường hồi đầu sẽ khó có cơ hội làm mới lại chính mình. Cuộc đời của họ sẽ rơi vào chốn tối tăm, mù mịt và mãi mãi lầm than với muôn vàn tội lỗi, như người từ tối vào tối. Xin tất cả mọi người hãy cùng chúng tôi suy gẫm cho thấu đáo để chúng ta cùng học hỏi, cùng vươn lên, cùng nắm tay nhau đi trên con đường giác ngộ và giải thoát.

YÊU MÙ CHUỐC OÁN DO TÀ DÂM

Một cặp vợ chồng thật xứng đôi vừa lứa yêu nhau đắm đuối, sau nhiều năm chung sống họ có với nhau một đứa con. Kể từ khi đứa con chào đời, tai họa bắt đầu ập đến. Người đàn ông ấy tên Tùng, dù đã có vợ nhưng lại chết mê chết mệt người đàn bà khác đã ly dị chồng. Dù vợ năn nỉ ỉ ôi, cha mẹ ra sức cản ngăn, nhưng anh bất chấp tất cả bỏ nhà ra đi theo tiếng gọi con tim, thuê phòng trọ sống chung với người ấy. Tiền bạc làm được bao nhiêu Tùng đều chi viện hết cho người tình, bỏ mặc vợ con thiếu thốn tự nuôi sống bằng nghề ve chai. Người vợ hiền quá chỉ biết năn nỉ, van xin kẻ cướp chồng hãy buông tha anh ấy, mẹ chồng biết được cũng làm áp lực nhưng không gì lay động nỗi Tùng trước cuộc tình si dại. Không những thế, anh còn bắt buộc vợ đưa hết tiền để có vốn làm ăn, bao nhiêu năm lặn lội chắt chiu từng gánh ve chai mới dành được chút ít, vì quá thương chồng nên cắn răng bóp bụng cô đưa hết cho Tùng. Rồi Tùng vẫn chứng nào tật nấy, chỉ được vài ngày anh ẵm cả số tiền ra đi biền biệt không hẹn ngày về. Người vợ ở nhà trông đứng trông ngồi, chẳng thấy bóng dáng chồng mình đâu cả. Người tình của Tùng thì ngày càng lẳng lơ, giao du, quan hệ với nhiều người khác. Sợ mất người tình Tùng nhiều lần thuyết phục, năn nỉ, chăm sóc nàng tận tình, chu đáo nhưng đời trớ trêu, theo tình tình phụ, phụ tình tình theo, chàng đang bị cấm sừng mà không hề hay biết. Và cái ngày tàn cũng đến, đêm ấy Tùng muốn lấy xe đi chơi nhưng nàng không cho, lại còn khóa cửa lại. Sau một hồi giằng co qua lại, trong cơn điên tiết máu tràn tới cổ họng, Tùng đã bóp cổ người tình cho đến chết, rồi dùng dây quấn chặt cái xác bỏ vào thùng giấy chở đến một hẻm tối tại Quận 12 phi tang. Sau Tùng trở về phòng trọ, chở hết đồ đạc đem về nhà và bán chiếc xe của nàng. Sự việc được báo chí đăng tin, một vụ án giết người rùng rợn, gia đình và vợ khuyên chồng nên ra đầu thú để được luật pháp khoan hồng.

Ghen tuông là thói quen ích kỷ của nhiều người, nó là một thứ gia vị không thể thiếu trong tình yêu, nhưng ghen quá dễ dẫn đến mù quáng, đánh mất tự chủ. Nó là con dao hai lưỡi dễ gây ra thảm họa giết người như chơi. Bao nhiêu tiền bạc làm được Tùng dành hết cho nàng, bỏ mặc vợ con khốn khổ để đi theo tiếng gọi con tim. Tùng phải ngậm đắng nuốt cay vì sự lẳng lơ của người tình, hắn đã bạc bẽo người vợ thủy chung, bỏ mặc con thơ nhỏ dại để rồi một chút ghen tuông ích kỷ mà tự mình đào hố chôn thân. Vì tính chất vụ án quá nghiêm trọng là giết người phi tang, cướp của nên dù có đơn xin giảm án thì kẻ tử tù cũng không thể trở về chung sống với vợ con. Tòa đã ra lệnh tử hình kẻ cuồng si, để lại nỗi đau thương, mất mát cho gia đình, người vợ trẻ cùng đứa con thơ còn nhỏ dại. Thế gian này nhiều cuộc tình ngang trái với những vụ án giết người dã man chỉ vì ghen tuông, ích kỷ. Ham vui làm chi chút tình bèo dạt mây trôi trong khi vợ hiền con thảo ngày đêm trông ngóng, mong chờ. Cái giá phải trả cho kẻ phụ tình với bản án tử hình thì không có gì phải bận tâm, thương xót; nhưng đứa con sau này lớn lên sẽ hỏi, “cha con đâu rồi mẹ?” thì người vợ ấy phải trả lời ra sao.

Ngoại tình là thói quen ham muốn của những người đàn ông đam mê tình dục, làm mất đi nhân cách và đạo đức, xã hội hiện tại không chấp nhận trai năm thê bẩy thiếp theo tập quán cổ xưa cùng nạn bạo hành trong gia đình đang ngày càng phát triển. Mới đây, tại An Giang cũng vừa xử vụ án người chồng vũ phu, vì mê vợ bé lớn hơn con mình vài tuổi mà đã nhẫn tâm đánh đập, hành hạ vợ con không thương tiếc. Dù đã ly hôn nhưng chứng nào tật nấy, hắn vòi vĩnh đủ thứ viện cớ về thăm con rồi dùng áp lực buộc vợ đưa 10 triệu. Không lấy được tiền nên hắn lấy cây đánh túi bụi vào vợ gây thương tích trầm trọng, cuối cùng cô phải nhập viện tốn hơn 200 triệu đồng chữa trị, gia đình buộc phải bán hết nửa mẫu đất. Với mức án 8 năm tù giam là một bài học nhớ đời cho kẻ vũ phu, vì đam mê sắc đẹp mà quên đi tình nghĩa vợ chồng. Anh đã đánh mất hạnh phúc tình yêu của buổi ban đầu, hai người quen nhau và tìm hiểu đến 4 năm rồi mới tiến tới xây dựng hạnh phúc gia đình, kết quả cho ra đời 7 đứa con, 4 gái 3 trai. Người vợ nói trong nghẹn ngào, tức tửi, “ảnh rất thương vợ thương con, chăm chỉ làm ăn không nề hà gian nan, cực khổ, miễn làm sao gia đình được cơm no áo ấm là ảnh vui lòng. Đùng một cái, năm 42 tuổi anh gặp cô bán vé số đáng tuổi con mình, trong cơn say tình ái với lời quyến rũ ngọt ngào mà làm cả gia đình tan nát.

Xưa nay, từ vua chúa quan quyền cho đến thứ dân bần cùng khốn khổ, khó ai thoát khỏi tiếng sét ái tình. Lịch sử Trung Hoa đã cho chúng ta thấy rõ điều đó, khi Vương Quý Phi còn sống với sắc đẹp nghiêng thành đổ nước đã làm cho hàng triệu người bị giết hại, tàn sát lẫn nhau. Biết bao nhiêu anh hùng không chết ngoài chiến trường mà đa số chết dưới lỗ chân trâu. Bậc Thánh trí biết được tai hại của nó nhờ thường xuyên quán chiếu, soi xét, tu tập nên không đam mê, đắm say sắc đẹp, do đó không bị nó chi phối làm hại. Hoa hậu, diễn viên điện ảnh, người mẫu hay ca sĩ ít bao giờ có được đời sống chung thủy, thay chồng đổi vợ như thay áo, cuộc sống của họ thật lãng mạn tình tứ, cảm xúc dồi dào nên dễ dàng nhập vai diễn trên sân khấu và cuộc đời thực của họ cũng như vậy.

Trở lại câu chuyện người chồng vũ phu đang sống êm đềm, hạnh phúc bên mái ấm gia đình với người vợ hiền lành chất phát và 7 đứa con, ngần ấy cũng đủ biết sự yêu thương, mặn nồng của hai người như thế nào. Ấy thế mà một phút si mê làm tan nát cả gia đình khi gặp phải giọng nói ngọt ngào, thân hình gợi cảm của nàng tiên vé số, anh nỡ bỏ mặc tất cả để đi theo tiếng gọi của tình yêu. Ngày xưa, Phật thấy được cái vòng lẩn quẩn của chúng sinh nên Ngài chế ra 5 giới giúp mọi người ngăn ngừa việc xấu ác mà không rơi vào hố sâu tội lỗi. Trong giới thứ ba Ngài dạy Phật tử không được tà dâm, chúng ta có quyền xây dựng hạnh phúc gia đình để duy trì nòi giống nhưng chỉ một vợ một chồng, không dan díu quan hệ với gia đình người khác. Nó là nguyên nhân phá hủy luôn các giới khác, dẫn đến tù tội. Khi ngoại tình trước tiên chúng ta phải nói dối để lấy lòng người yêu và sau đó gạt gẫm vợ con ở nhà, từ đó không biết bao nhiêu vụ án mạng xảy ra làm con mất cha, vợ xa chồng, kẻ khóc người cười trong đau khổ. Như anh chồng vũ phu kia vì mê vợ bé mà gạt vợ bán đất để mở tiệm mua bán làm ăn. Biết chồng mình bê bối, giở chứng sanh tật mà không dám cưỡng lại vì sợ chồng chửi mắng, đánh đập. Sau khi bán xong người chồng đành đoạn lấy hết số tiền đem chung sống với người tình chỉ đáng tuổi con mình. Vợ và con đã nhiều lần năn nĩ nhưng người tình nhí đã có thai, anh ta và người vợ lớn ly hôn để lại bao nỗi xót xa cho đàn con dại. Kết cuộc, anh được chia thêm số tiền gần 100 triệu. Đam mê sắc đẹp và ham muốn hưởng thụ là việc thường tình của đàn ông, thế là anh đã phạm giới tà dâm, kế đến phạm tội nói dối để vợ bán đất, sau phạm luôn giới trộm cướp vì hiên ngang công khai tước đoạt hết số tiền, cuối cùng anh phạm luôn giới sát sinh vì cố tình gây thương tích cho vợ và phải ngồi tù gỡ lịch 8 năm. Bấy nhiêu nằm ròng mà chẳng thấy bóng dáng cô bồ nhí ghé thăm. Đến ngày xử án có gần 50 mươi người là dòng họ nội ngoại hai bên, 5 đứa con ngồi phía trước mặt mày bí xị trông rất thảm thương. Đứa con gái lớn tâm sự, “từ ngày ba mê bồ nhí gia đình tan nát, tụi con bỏ học tìm kế sinh nhai phụ mẹ nuôi em và thuốc thang đỡ đần cho mẹ”. Đất đai là phương tiện nuôi sống gia đình giờ không còn nữa, lại thêm nợ nần chồng chất. Đứa lớn nhất vừa mới hai mươi, đứa nhỏ chỉ vừa lên sáu, 7 chị em phải cưu mang, đùm bọc lẫn nhau, trong khi mẹ thương tật chưa lành. Tuy nhiên, vì tình cha con chúng vẫn tích góp hàng tháng một chút quà mọn để đến thăm và an ủi cha cùng những hy vọng sau thời gian dài ngồi gỡ lịch cha sẽ sám hối, ăn năn về những việc làm đáng tiếc đã qua. Người vợ cũ nghe tin con mình chuẩn bị đi thăm cha cũng chắt mót ít đồ dùng cần thiết để các con mang theo. Một sự thật quá phũ phàng và đau lòng xót dạ hơn, khi người cha vướng vòng lao lý thì người tình trẻ đã bước sang ngang, không một lần ghé thăm. Nếu anh biết được chuyện này chắc sẽ hối hận mà ăn năn suốt cả đời. Đây là một bài học thiết thực cho những ai còn đắm say, đam mê tình ái. Hãy nên sáng suốt mà suy nghĩ lại! Đành rằng đời sống tình dục không thể thiếu trong nhu cầu sự sống của con người, nhưng trong đó còn có tình yêu thương chân chánh và trách nhiệm, bổn phận làm cha làm mẹ để nuôi dạy con cái. Một chút tình cỏn con có đáng gì đâu, ham chi mấy thứ bèo dạt mây trôi đó mà chúng ta đành chấp nhận đánh mất phẩm giá, nhân cách của một con người. Nó là dục vọng thấp hèn nhất, vì vậy khi muốn làm việc ấy người ta phải làm trong phòng the kín đáo hoặc nơi chỗ tối tăm. Xưa và nay nhiều người bị chết chìm trong chỗ ấy để rồi gây ra không biết bao tội lỗi.

KHỔ LỤY VÌ CHỒNG DO KHÔNG CÒN TRINH

Cái trinh đáng giá mạng người là câu chuyện đau thương nhất, vì không giữ được mình còn trong trắng trước khi về làm vợ kẻ ác dâm. Chị Châu là một cô gái dân tộc Thái sống cùng mẹ và ba đứa em. Do thiếu hiểu biết nên Châu đã trao cái quý giá nhất khi còn nhỏ với một người bạn cùng xã. Duyên nợ hai người không thành vì người ấy đã đi làm xa không một lời nhắn gửi. Trong thời gian đó, kẻ dâm ác thường xuyên đến nhà chơi và rất thương yêu, lo lắng cho em. Mẹ thấy vậy khuyên em nên lấy hắn khi tuổi chưa đủ trưởng thành. Hắn rất hậm hực khi biết vợ mình không còn trinh tiết, rồi từ đó tìm cách hành hạ quanh năm suốt tháng, không một ngày được yên thân. Bị mắng nhiếc, chửi rủa thậm tệ, lại thượng chân hạ cẳng không thương tiếc hằng ngày nên cuộc sống không khác gì địa ngục, suốt mấy năm trời mình mẩy Châu đầy thương tích do hậu quả bị đánh đập dã man. Không còn chịu nỗi thú tính của chồng, Châu đòi ly thân và ly hôn nhưng hắn không chịu, lại còn hăm dọa một cách trắng trợn, “tao lấy vợ về để phục vụ cho tao, mày cứ đòi bỏ ngoài tao sẽ giết chết cả nhà mày”. Bị đánh đập, hành hạ mỗi ngày, Châu muốn quyên sinh tự tử nên nhiều lần mua thuốc trừ sâu định uống, nghĩ lại mình chết yên rồi, nhưng còn mẹ già với các em thì sao, hắn sẽ giết chết hết; nghĩ vậy sợ quá nên đành ngậm đắng nuốt cay cho qua ngày tháng. Hắn được nước làm tới, “tao lấy mày bị mất trinh, vậy mày phải đền trinh cho tao bằng một cô gái trẻ đẹp khác, nếu không tao sẽ giết chết cả nhà mày”. Phần vì thương mẹ, phần vì thương em, Châu đành chịu bị hành hạ và cuối cùng dấn thân vào tội ác tày trời để rồi phải chịu bản án 18 năm tù giam.

Đau khổ và sợ hãi trước sự hăm dọa của hắn, người con gái đó vì phải đền trinh tiết cho chồng nên vốn bản chất hiền lành, thật thà, chất phát, cô si mê mù quáng gây ra một lúc hai tội tày trời, hiếp dâm trẻ em và giết người. Một vụ án làm đau lòng nhân thế, chưa từng xảy ra từ trước đến nay. Cái ngày oan nghiệt ấy đã tới, thật tội nghiệp cho một cô gái miền vùng núi xa xôi không được giáo dục và học hành từ nhỏ, trao thân gửi phận khi tuổi đời còn bé rồi lấy chồng theo lời mẹ khuyên khi tuổi còn nhỏ dại. Nghiệt ngã thay cho dòng đời bất hạnh, một cô gái vốn hiền lành chất phát vì thương mẹ, thương em mà trở thành kẻ chủ mưu hiếp dâm và giết chết trẻ em. Do sự cưỡng ép của người chồng đầy thú tính, sợ người thân mình bị giết hại nên cô đành lòng vướng vào tội ác có một không hai trong lịch sử nhân lọai. Một hôm, trên đường mua thuốc trở về, Châu vô tình gặp bé An người cùng xã mới 14 tuổi nên đã nảy ra ý định đền trinh cho chồng. Về đến nhà, Châu bàn với chồng và được chồng đồng ý ngay. Hai người cùng vạch ra phương án lừa bé An lên một hang núi cao. Châu đã bảo bé, “hôm qua anh chị phát hiện trên hang có rất nhiều vàng, thấy em tội nghiệp và nghèo khổ nên anh chị mới nói cho em nghe, em đừng cho ai biết nha. Tối nay em theo anh chị lên đó lấy vàng về xài, chúng ta cùng giàu to rồi!” Giàu đâu không thấy, chỉ thấy để lại hậu quả đau thương chua xót. Mọi việc đâu vào đó, khi đưa bé An lên hang núi hai vợ chồng cùng nhau trói bé An lại. Châu để chồng mình thực hiện hành vi đồi bại trước sự cầu khẩn, van xin, khóc lóc của cô bé. Một cô gái miền núi hiền lành chất phát có nỗi khổ riêng không ai biết đã trút bầu tâm sự mong bé An tha thứ. Sau khi hãm hiếp xong, chồng Châu đã giết bé An và đốt xác phi tang. Thời gian trôi qua hơn một tháng, tưởng mọi việc đều được trót lọt, một hôm hai người thợ săn tình cờ lên hang núi phát giác ra xác chết liền về báo lại với nhà chức trách. Lúc đó, người trong làng đang bàn tán xôn xao về việc bé An bị mất tích hơn cả tháng nay đã tìm được. Không chờ mọi người phát hiện, Châu liền khuyên chồng ra đầu thú nhưng không được, sau cô đầu thú một mình và người chồng cũng bị bắt.

Tên dâm ác đó chịu án tử hình, còn Châu phải chịu 18 năm tù giam. Mức án này cũng xứng đáng cho tội lỗi của em nên em không oán trách ai cả, chỉ có một điều đối với bé An thật đáng thương tâm và tội nghiệp, vì ngu si mê muội mà em đã tán tận lương tâm giết hại cô bé. Giờ đây, em chỉ mong mọi người hãy mở lòng độ lượng tha thứ lỗi lầm cho em. Nhất là bé An và gia đình bé. Tội em làm giờ em phải chịu, chỉ vì sợ hãi và mê muội nên giờ đây em càng làm khổ mẹ và các em nhiều hơn. Xây dựng hạnh phúc gia đình là điều không thể thiếu trong cuộc sống xã hội. Theo quan niệm khi xưa, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, áo mặc làm sao qua khỏi đầu đã làm nhiều cặp nam nữ phải tự vẫn, quyên sinh vì không được cha mẹ đồng ý. Có nhiều chàng rể, cô dâu đến ngày cưới mới biết mặt nhau, và cũng có những đám cưới đến ngày rước dâu về nhà chồng, nàng dâu biến mất trước sự ngỡ ngàng của nhiều người. Quan niệm cha mẹ đặt đâu con ngồi đó ngày nay không còn phù hợp vì đã có luật hôn nhân gia đình. Nam nữ từ 18 tuổi trở lên đều được quyền lấy nhau khi có đăng ký kết hôn đàng hoàng. Sự hiểu biết và nhận thức về cuộc sống rất quan trọng, nhất là giáo dục hôn nhân gia đình các vùng sâu, vùng xa. Câu chuyện trên đã cho chúng ta một bài học thiết thực về nhân cách sống của một con người. Thất học, nghèo khổ, thiếu hiểu biết nên dẫn đến sợ hãi vu vơ mà làm điều xằng bậy trái với lương tâm, đạo đức và luân thường đạo lý làm người.

CỜ BẠC LÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TÙ TỘI

Cờ bạc là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội như giết hại, trộm cướp, hiếp dâm, ăn không ngồi rồi, lười biếng mà muốn hưởng thụ nhiều, chẳng muốn làm việc vì sợ nhọc nhằn, vất vả nên nghĩ ra phương cách bày trò đỏ đen, dụ dỗ người nhẹ dạ hám lợi, làm chơi ăn thiệt như các chủ sòng bạc. Họ bày ra để lấy xâu, các con bạc phải sát phạt lẫn nhau, ai thua thì thôi, ai trúng thì xâu, chúng ngồi không, gôm tiền khỏe re. Chúng tôi còn nhớ khi ở ngoài đời chưa đi tu, Năm Cam và đàn em chỉ sống nhờ vào nghề chứa cờ bạc lấy xâu và bảo kê gái điếm, cho vay nóng lấy lãi nặng. Tất cả con bạc sát phạt nhau đều thua hết vì nằm trong vòng lẩn quẩn ăn thì xâu, thua thì thôi, cứ thế ngày này quá tháng nọ ăn qua thua lại không cần gian lận, cuối cùng tất cả con bạc đều sạch túi. Con bạc khi thua thì được quyền vay nóng, vay lạnh, vay nằm, vay ngồi, vay đứng, vay đủ kiểu. Khi ăn thì được bảo đảm an toàn có người đưa về đến nhà, khi thua thì cũng khỏi lo vẫn có tiền đi xe. Bởi vậy, đa số các con bạc ai cũng khoái và khỏi sợ gian lận, toàn là con ông cháu cha, tiểu gia đại gia gì cũng có, nhà nghèo không vô được chỗ này. Các gã giang hồ bảo kê sòng bạc mỗi người được 200 ngàn đồng một ngày những năm 90. Loại dịch vụ này làm chơi mà ăn thiệt, ngon ơ. Năm Cam đúng ra không phải là tay giang hồ thứ thiệt nhưng anh ta có cái đầu so với các đàn anh đi trước như đại ca Thay, Đực cao bồi. Thường thì trùm giang hồ phải là những tay có máu mặt cao thủ trong làng chặt chém, xông bờ lướt bụi một thời mới được tôn vinh làm đàn anh. Sau này Năm Cam gặp thời phất lên như diều gặp gió, thu phục tất cả giới giang hồ Nam, Trung, Bắc; vì hắn quá coi thường pháp luật nên cuối cùng cũng phải đi đời nhà ma; một thời tung hoành ngang dọc nay còn đâu, sống trên mồ hôi nước mắt, xương máu của nhiều người thì làm sao có thể tồn tại mãi. Tình, tền, tù tội là cái vòng lẩn quẩn ràng buộc con người. Cờ bạc là do tâm tham lam, hơn thua thôi thúc, là nguyên nhân dẫn đến sa ngã, bê tha, là con đường đưa người ta vào vòng lao lý, có hại cho bản thân, gia đình và xã hội. Vì vậy, tục ngữ có câu:

Cờ bạc là bác thằng bần

Cửa nhà bán hết, đưa chân vào cùm.

Bản thân chúng tôi có máu đam mê cờ bạc khi còn nhỏ, nhà nghèo anh em đông, tôi là đứa lớn nhất trong gia đình. Năm tôi mới 11 tuổi, mỗi ngày đi học trước cổng nhà trường có một ông phì lủ chuyên sống với nghề bán dế, bán cá lia thia, quay số, lắc bầu cua, lắc xí ngầu, sắp cờ thế. Ông này gian lận công khai để lừa đảo các em học sinh nhẹ dạ, mê tiền; để che mắt thiên hạ, ông ngụy trang khéo léo bằng nghề hớt tóc, thực chất nghề chính của ông vẫn là nghề cờ bạc bịp bợm. Đồ quay số của ông có thắng, ông muốn cho nó dừng lại ở số nào thì chỉ cần dùng tay ấn lên bàn quay là nó nghe theo mọi điều khiển của ông; còn nắp lắc bầu cua có đồ chặn bên trong, ông muốn cho ra con nào thì nó ra con đó. Sắp cờ thế cũng vậy, thường thì cờ thế có ba lọai: Cờ tử, cờ bình và cờ biến. Cờ tử là loại cờ một bên chỉ đi một nước là thắng và bên kia phải đi trước, đi liên tục cho đến khi nào thắng mới thôi. Nếu không biết đi đúng nước thì phải chịu thua vì đối phương chỉ đi một nước là bí. Lọai cờ tử này dễ đánh, ai chịu khó nghiên cứu kỹ càng sẽ chọn thế cờ đi trước thì chắc chắn thắng, nhưng phải tính đúng nước đi liên hoàn cho đến khi hạ gục địch thủ. Ông ta rất khôn nên luôn sắp thế cờ thắng về phía bên ông. Ai chọn ván cờ đó và đi đúng ba nước thì ông xuống nước nhỏ nhẹ xin lỗi đối thủ, “để em làm ăn kiếm sống qua ngày nuôi vợ, nuôi con, mong sư huynh thông cảm!” Loại cờ thứ hai là loại cờ bình, nghĩa là hai bên dàn trận từ tướng cho đến quan quân, sĩ, chốt giống nhau ở vị trí không sai khác. Loại cờ này ai đi trước là thua nên ông khôn khéo lúc nào cũng nhử con mồi bằng cách: thứ nhất là xanh đi trước, xanh huề hoặc ăn; thứ hai đi trước lỡ thua thì thua năm, còn ăn thì ăn mười. Đây là chiêu lừa các em học sinh hám lợi thua ít ăn nhiều, xanh đi trước xanh huề hoặc ăn thì ai không ham, vì luật thi đấu cờ tướng thường thì ai đi trước dễ dàng thắng hơn, nếu không thắng được thì giữ hòa, đó là quy luật đấu cờ từ trước tới nay. Bản thân chúng tôi từng là nạn nhân của các trò lừa bịp này. Loại cờ thứ ba là loại cờ thiên biến vạn hóa, loại này khó nhất vì phải đánh tới cờ tàn mới thắng được, phải chết nhiều quan quân, binh sĩ mới chiến thắng. Biến là biến hóa, thay đổi thế trận liên hồi, phải dương Đông kích Tây, hy sinh nhiều tướng lĩnh, cuối cùng mới vào hang ổ của đối phương tiêu diệt sạch. Muốn thắng được địch thủ phải đi liên tục mấy chục nước bằng cách tính nhẩm, sơ ý tính nhầm là thua liền. Loại cờ biến này phải cao tay ấn, lão luyện trong trường cờ mới đủ bản lĩnh hạ gục đối thủ.

Chúng tôi có máu mê cờ bạc từ thuở nhỏ nên bất cứ hình thức nào, cái gì chơi ăn tiền là tôi đều biết hết. Vì quá đam mê nên tôi bị ông phì lủ lừa hoài, có lần mẹ tôi đưa tiền đi mua dầu hôi, tôi xách thùng 5 lít đi nhưng vì mê quá, tôi ghé vô đứng coi một chút cho đỡ ghiền, vậy mà đứng một hồi chịu không nỗi, tôi đã nướng sạch hết số tiền nên đành xách bình về không, vừa đi vừa khóc mếu máu như có chuyện chẳng lành. Mẹ tôi thấy vậy hỏi, “có chuyện gì không may đến với con?” Tôi vừa khóc vừa nói, “mẹ ơi, con đang đi tới nhà thờ thì bị mấy thằng Bắc Kỳ chặn lại lấy hết tiền rồi”. Mẹ tôi tưởng thật, tức quá vừa đi vừa hậm hực nói, “thằng nào đâu mày chỉ tao coi?” Có ai đâu, tôi giả bộ dẫn mẹ đi lòng vòng quanh nhà thờ giả vờ kiếm cho qua chuyện rồi đi về. Tôi lừa mẹ đủ cách, riết rồi đồ đạt trong nhà có bao nhiêu tôi đều gôm bán sạch chẳng chừa thứ gì, kể cả gạo ăn hằng ngày tôi cũng cuỗm luôn. Bà con xóm giềng thường gọi tôi là “đồ cái thằng đá cá lăn dưa, con nhà mất dạy”. Thật ra, tôi lừa mẹ đủ cách, vì thương con bà vẫn bao bọc, che chở, chịu đựng đắng cay, tiếng đời bêu rếu. Chính mẹ tôi đã sinh ra tôi lần thứ hai, nhờ vậy tôi mới đủ duyên tu hành cho đến nay. Cuộc đời của chúng tôi nếu không có mẹ thì giờ đây không biết trôi dạt phương nào, có chăng chỉ là địa ngục mà thôi. Đó là chuyện xảy ra khi tôi còn nhỏ, lớn lên thì hết chỗ chê, tôi tán tận lương tâm đến mức chẳng chừa thứ gì, miễn có tiền là được. May thay! Tôi có người mẹ giàu lòng nhân ái, thất học, nghèo nàn từ thuở bé, sinh ra từ Thái Bình đói khát bỏ xứ vô Nam lúc còn thơ dại. Suốt cả cuộc đời bà tận tụy, hy sinh, buôn bán tảo tần, nhịn ăn bớt mặc để nuôi 8 anh em chúng tôi không một lời than thở, lặng lẽ ngày đêm chịu đựng nhọc nhằn mưa gió mong con khôn lớn trưởng thành để ngày mai có sự nghiệp với đời. Bà chẳng khác nào vị bồ tát Quan Thế Âm đi vào đời để cứu độ chúng sinh, nhờ vậy mà tôi từ chỗ vô minh đen tối được hưởng một chút ánh sánh giác ngộ để làm mới lại chính mình.

Cờ bạc do tâm tham lam, hơn thua thôi thúc, là nguyên nhân của sự bê tha, hưởng thụ chi phối. Khi thắng thì ăn xài nhậu nhẹt, trác táng thâu đêm, bạn bè gần xa đều có mặt. Khi thua thì nợ nần chồng chất, vay mượn cầm bán làm khổ vợ con. Tai hại của cờ bạc không thể nào nói hết, biết bao gia đình tan nhà nát cửa cũng chỉ vì đam mê cờ bạc. Chúng tôi cũng biết được một câu chuyện có thật, gia đình nọ rất giàu có, ruộng vườn đất đai cò bay thẳng cánh, vì máu mê cờ bạc mà bán sạch tất cả. Nhà còn cha già lớn tuổi nên đã đặt sẵn hòm thọ gỗ ván hương, người con vì thua quá cuối cùng bán luôn hòm thọ, mua chiếc hòm quốc doanh về thế khi cha chết. Cả gia tài sự nghiệp đều tan tành theo mây khói, chỉ còn lại cái hòm cho cha cũng bán luôn; và còn rất nhiều chuyện về cờ bạc mà tán gia bại sản rất đau lòng. Người Phật tử chân chánh cần phải phản tỉnh, cảnh giác cao độ, không nên vì tâm tham lam, máu mê cờ bạc mà làm khổ lụy vợ con. Tiền của có được do cờ bạc như mây nổi có đó rồi không, người đam mê cờ bạc dễ dẫn đến sa ngã, bê tha, là đầu mối của việc trộm cướp khi thua quá không còn cách nào khác hơn, chính vì thế mà nhà tan cửa nát, đưa chân vào cùm. Phật thường quở trách và khuyên mọi người hãy nên lánh xa cờ bạc vì có 6 điều không tốt. Một là tài sản ngày càng hao hụt, thậm chí có thể hết sạch; khi thắng người thua oán thù và bị người trí quở trách; ít ai tin tưởng, kính trọng; mọi người tránh xa và hay sinh tâm trộm cướp vì túng thế làm liều.

Bất cứ hình thức nào nếu ăn tiền, hơn thua đều gọi là cờ bạc. Cá độ hơn thua trong việc đá gà, đua ngựa, đá bóng, nhất là những mùa world cup, Sea game… đều là hình thức khác của cờ bạc. Tai hại của nó thật hết sức khủng khiếp. Có người vì thua độ quá phải bán sạch hết nhà cửa, tán gia bại sản, làm khổ lụy vợ con và có khi dẫn đến tự sát. Báo chí thường đăng những vụ giết người, đâm chém nhau chỉ vì hơn thua trong cá độ bóng đá. Một vụ án mạng đã xảy ra thật đau lòng tại tiểu bang Texas ở Mỹ, một người cha 27 tuổi do ghiền bóng đá, khi đang coi trận Mỹ và Ghana không biết có cá độ hay không mà đứa con gái 2 tuổi khóc la ồn ào làm anh tức tối, đánh con chết ngay tại chỗ. Để phi tang con, anh đút ốc vít vào miệng cháu và đổ thừa do con bất cẩn mà ra cớ sự. Anh là người cha tàn nhẫn, vô lương tâm, do đam mê bóng đá mà đành lòng giết con như thế. Thật đau lòng xót dạ cho những kẻ cuồng si, vì một chút hơn thua mà để lại tiếng đời muôn thuở. Nhà chức trách sau khi khám nghiệm tử thi mới phát giác cháu bị đánh gãy mấy cái xương sườn. Chắc chắn anh ta có cá độ lớn nên vì thua đậm nên mới hành động dã man như vậy.

Đam mê cờ bạc là thói quen xấu của một số người, khi thắng thì ăn nhậu trác táng, vui chơi bạn bè, bình luận đúng sai như một chuyên gia tầm cỡ hãnh diện với nhiều người. Cuộc hơn thua nào cũng kẻ khóc người cười, khi thắng người sanh oán, khi thua thì vay mượn, cầm bán, làm khổ vợ con. Khi ăn thì tiêu xài hoang phí, khi thua thì về nhà hành hạ, đánh đập vợ con, cưỡng ép lấy tiền. Họ đâu biết, vợ con ở nhà làm lụng vất vả, chắt chiu từng đồng từng cắc để lo kế sinh nhai. Tài sản nhà cửa đều đem cầm bán hết, cuối cùng phải ở nhà mướn, có rất nhiều những gia đình như vậy. Đau lòng nhất là câu chuyện cha mê world cup mà giết con gái 2 tuổi ở Mỹ. Ở Việt Nam những mùa world cup cũng có người phải tự tử chết vì thua độ quá lớn, biết bao đường dây cá độ tinh vi lên đến vài chục tỷ đồng cũng bị phanh phui. Người Phật tử cần phải thường xuyên phản tỉnh, cảnh giác trước sự mê hoặc của nhiều người bởi tâm tham lam thôi thúc. Phật thường răn dạy và khuyên nhủ mọi người hãy nên lánh xa cờ bạc vì chúng là nguyên nhân của sa ngã, bê tha, gây đau khổ cho mình, người, gia đình và xã hội. Cờ bạc tuy không có trong giới cấm nhà Phật nhưng cờ bạc do tâm tham lam, hơn thua thôi thúc, dễ làm con người mê mờ; khi ăn thì sanh tâm đắm nhiễm, chẳng muốn làm gì; Khi thua thì nợ nần chồng chất, cầm bán đủ thứ, làm khổ lụy vợ con. Vì vậy, người Phật tử không nên cờ bạc, nó là nguyên nhân dẫn đến cửa bại vong, tán gia bại sản.

RƯỢU CHÈ LÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TÙ TỘI

Rượu chè là nguyên nhân thứ hai dẫn đến tù tội. Người ta thường nói rượu chè be bét, bê tha là chỉ cho người đã bị ghiền, bị nghiện, nên gọi là nghiện rượu. Người nghiện rượu thì sinh tật lè nhè, chẳng chịu làm ăn chi cả, tối ngày la cà đầu trên xóm dưới để kiếm bạn rượu. Hạng người như thế thì sáng xỉn, chiều say, tối lai rai, lại hay làm phiền lòng mọi người; khi chưa uống thì rất dễ thương, khi uống vào thì lằng nhằng, lè nhè, lục nhục chẳng giống ai, làm bà con lối xóm phiền lòng, về nhà đánh đập, chửi mắng vợ con. Thế giới hiện nay đang tìm cách chống nạn nghiện rượu, một tệ nạn gây đau khổ cho rất nhiều người. Tất cả tai nạn giao thông do người uống rượu gây ra chiếm đến 70%, rượu làm thần kinh người lái xe không được sáng suốt, lờ mờ, vì thế không chủ động được tình huống bất ngờ xảy ra. Rượu đã làm người uống say sưa, mê loạn nên người lái xe dễ gây tai nạn. Rượu làm hư hỏng con người, rượu vào thì lời ra, lúc mới uống thì còn bình tĩnh giữ lễ nghĩa với nhau “anh một ly, em một ly”, đến khi ngà ngà say thì “mày một ly, tao một ly”. Khi quá say thì không còn biết gì nữa, la mắng, chửi rủa om sòm, dẫn đến tranh chấp, xô xát, gây thương tích cho nhau.

Có ba người cùng làm bảo vệ tại một công ty nọ, tối đến rảnh rang cùng nhau hàn huyên tâm sự chén thù, chén tạc. Đang hứng thú bỗng dưng hết rượu, muốn uống thêm nữa nên anh Tâm kêu gọi mọi người đóng góp thêm, Thiện liền móc bóp ra đưa 50000 đồng nhưng anh Dữ ngồi kế bên không chịu, “hôm nay mày phải bao hết”. Thiện nói mỗi người một phần là công bằng. Hai bên giằng co, chẳng chịu nhường nhịn, lời qua tiếng lại một hồi dẫn đến ẩu đã, đánh nhau. Thiện bị đánh tức quá liền chụp con dao đâm anh Dữ chết liền tại chỗ. Những chuyện như thế rất hay xảy ra trong đời sống hiện tại, rượu vào lời ra dẫn đến cãi vã, tranh chấp, cuối cùng bị con ma men sai khiến làm mất lý trí, dẫn đến tình trạng đâm chém, giết hại lẫn nhau.

Có một câu chuyện ngụ ngôn nói về tai hại của rượu. Một anh nông dân đang làm ruộng ngoài đồng thì một vị thần khổng lồ bỗng xuất hiện nói, “này gã nông dân kia, ngươi đã đến số chết, ta đến đây để lấy mạng ngươi”. Hoảng hồn, sợ hãi, người nông dân quỳ xuống lạy lục, van xin vị thần tha mạng. “Ta có thể tha chết cho ngươi với một điều kiện, một là phải giết cha ngươi, hai là phải uống hết một lít rượu. Vậy ngươi chọn điều kiện nào?” “Dạ, con sẵn sàng uống hết một lít rượu chớ không nỡ nhẫn tâm giết cha được ạ”. Vị thần nhắc lại, “ngươi nhớ đấy, nếu uống hết một lít rượu ta sẽ tha mạng cho ngươi”. Nói xong, vị thần biến mất. Anh nông dân vô cùng mừng rỡ, hối hả về nhà vì ngày mai là ngày giỗ ông bà nên gia đình đã mua sẵn rất nhiều rượu. Anh liền chụp chai rượu một lít uống một hơi gần hết sạch, cha anh thấy vậy tức quá liền chửi mắng um sùm, “mày không biết rượu này để ngày mai đãi khách hay sao?” Trong lúc nửa tỉnh nửa mê bị con ma men sai khiến, anh không kiềm chế được bản thân liền chụp cây cuốc đập vào đầu ông chết liền tại chỗ. Mẹ anh nghe được từ nhà dưới chạy lên nói, “mày điên rồi hay sao?” Sẵn cây cuốc còn đang cầm trên tay, anh nện luôn cho bà một cái. Thế là hai ông bà cùng đi Chầu Diêm Vương. Tai hại của việc uống rượu không thể lường hết được, người biết làm chủ cuộc sống và có năng lực tu tập sẽ không bao giờ hưởng thụ quá mức, họ biết dè dặt chừng mực, chỉ vui chơi vừa phải vì đã biết trước những tác hại của nó. Bệnh tật, hao tiền tốn của, tâm trí mê mờ, mất tự chủ khi uống quá say dẫn đến các việc làm xằng bậy gây đau khổ cho mình và người.

Rượu là chỉ chung cho các chất gây say, gây ghiền, là chất độc tệ hại hơn các chất độc khác; vì chất độc khác chỉ hại chết một mạng người, còn rượu tác hại nhiều đời nhiều kiếp. Người bị ghiền gọi là rượu chè vì đã thấm sâu vào máu của họ nên trí tuệ giảm sút, mê mờ; do đó tham-sân-si tăng trưởng, gây tạo nhiều nghiệp ác. Người nghiện rượu thường đối xử tệ bạc với cha mẹ và hay đánh đập, hành hạ vợ con vô cớ. Tiền bạc vợ con làm lụng vất vả, chắt chiu, chẳng dám tiêu xài hoang phí, ông chồng nghiện ngập làm hao tiền tốn của đã đành, có khi còn làm mất phẩm chất, nhân cách khi quá say. Ngày nay, quán nhậu, làng nướng mọc lên như nấm, không có giờ giấc, phép tắc gì hết, còn thêm cái kiểu khích lệ công khai “uống mười tặng một, tặng hai” để cạnh tranh thị trường say xỉn, làm mất đi hạt giống trí tuệ của con người. Nạn đâm chém, giựt dọc, hiếp dâm cùng tai nạn giao thông từ chỗ uống rượu say xỉn mà ra. Rượu còn là nguyên nhân gây ra việc xào xáo gia đình, làm khổ lụy vợ con. Do rượu chè bê tha mà người ta dễ bỏ bê công việc, sẵn sàng làm điều xằng bậy khi mất tự chủ. Nhiều cuộc cãi vã, tranh chấp trong tiệc rượu đã dẫn đến xô xát gây thương tích, thậm chí làm mất mạng sống chỉ trong thoáng chốc, khi tỉnh lại thì ăn năn cũng muộn màng. Người con Phật không nên uống rượu để giữ gìn phẩm giá và nhân cách sống, không gây lỗi lầm đáng tiếc xảy ra. Trong kinh Phật dạy, uống rượu có 6 việc không tốt làm con người mất đi uy tín. Một là làm cho tiền bạc tài sản bị hao hụt, mất mát. Hai là uống rượu sinh ra các thứ bệnh làm mất sức khỏe như nóng gan, cao huyết áp, đau bao tử. Ba là thường xuyên gây gỗ, cãi vã, đánh nhau, làm khổ lụy vợ con cùng bà con hàng xóm. Bốn là bị mất uy tín, tiếng xấu đồn đãi do bê tha, rượu chè. Năm là dễ sinh nóng giận, cáu gắt vô cớ. Sáu là tâm trí càng u mê, đần độn.

HÚT SÁCH LÀ NHÂN DẪN ĐẾN TÙ TỘI

Hút xách là nguyên nhân thứ ba dẫn đến tù tội. Hút xách là người đã nghiện hút á phiện hoặc chích xì ke như nha phiến, morphine, heroin, gọi chung là ma túy, có tác dụng gây nghiện mạnh, làm tê liệt thần kinh, quên đi thực tế cảm xúc mạnh mẽ, làm mất ý chí, lý trí của con người. Hút xách là cha đẻ của rượu chè vì tác hại của nó gấp trăm ngàn lần nghiện rượu. Ai dính vào vòng này sẽ bị thân tàn ma dại khó bề cứu chữa. Ma túy là nguyên nhân dẫn đến trộm cướp, giết người không gớm tay. Khi cơn ghiền đã đến, con nghiện bị hành hạ, vật vã chịu không nỗi, buộc phải làm liều để có tiền hút chích. Con nghiện sẵn sàng trộm cướp hoặc giết người để có tiền hút chích. Đại đa số người mắc bệnh này đều là con nhà giàu, con ông cháu cha, ai lỡ vướng vào rất khó cứu chữa vì nó ăn sâu vào máu, vào tủy người nghiện. Ai bỏ được hút chích ma túy mà hoàn toàn không bị nghiện lại quả thật rất hiếm, thành ra vướng vào coi như tàn đời, khó vượt qua mà làm mới lại chính mình.

Ma túy và đàn bà luôn làm các tay giang hồ hãnh diện với vai trò đàn anh để chứng tỏ mình có máu mặt và bản lĩnh. Muốn chứng tỏ là anh hùng hảo hán phải biết đủ các món ăn chơi sanh điệu mới xứng đáng là đàn anh thứ thiệt nên đa số vướng vào ma túy, đàn bà. Ma túy theo thời xa xưa rất quý hiếm và đắt giá nên chỉ có các  đại gia mới đủ sức tiêu dùng. Người xưa đa phần hút chích chỉ để tính toán làm ăn vì nó hưng phấn, thông minh lạ thường. Ngày nay con người quá ham siêu lợi nhuận nên bất chấp mọi rào cản của pháp luật, dùng mọi hình thức để đầu độc con người, miễn làm sao có tiền là được. Trong y học, ma túy là thần dược để chữa trị các bệnh ngặt nghèo, nó có tác dụng cầm máu và giảm đau nhanh nhất. Rắn độc có thể cắn chết một người, còn ma túy tác hại vô số kiếp, làm cho gia đình xã hội tán gia bại sản, hao tài tốn của, tệ nạn lan tràn. Người bị nghiện sẽ gây tội ác tày trời khi cơn ghiền đến như trộm cướp, giết người hoặc bằng mọi cách lường gạt gia đình, người thân để có tiền hút chích. Ma túy trong những thập niên 90 trở về trước liều dùng và hàng xịn cũng không có nhiều nên người nghiện thời gian này chết chậm hơn và có thể kéo dài tuổi thọ nếu chỉ hút á phiện. Loại này rất thơm nên người hút phải tìm chỗ kín đáo vì dễ bị phát hiện.

Chúng tôi có quen một người chuyên làm nghề thổi kèn đám ma, ông thổi rất hay nhưng bản thân cũng nghiện hút á phiện. Mỗi ngày ông ta phải núp trong miễu thờ bà để phê, cứ đến giờ phê là khoảng mấy chục con thằn lằn hưởng soái, chừng 15 phút sau khi ngửi á phiện là chúng thi đua té lăn cù méo phê thuốc. Cứ thế ngày này qua tháng nọ, ông thổi kèn phê thì lũ thằn lằn cũng phê theo. Vì cả một đời ông chẳng nuôi ai nên cũng kiếm tạm đủ tiền hút qua ngày. Đây là trường hợp đặc biệt khi người nghiện hút á phiện không lường gạt, trộm cướp của người khác nhờ làm ra tiền và biết kiềm chế, không cho tăng đô nên không làm tổn hại cho ai. Một người bạn đồng nghiệp của ông cũng làm nghề thổi kèn nhưng không nghiện ma túy, do đó ông ấy nuôi 10 đứa con đều thành đạt hết. Riêng ông bao nhiêu tiền bạc đổ vào phê hết nên chẳng giúp ích được ai. Đây là hạng người thứ nhất nghiện ma túy nhưng không làm tổn hại ai.

Hạng người thứ hai hút chích ma túy và trở thành con nghiện nên cha mẹ, vợ con phải nuôi và bảo bọc cho đến chết. Đây thuộc hạng người con cái bất hiếu phá sản, cha mẹ thuộc hạng quyền thế trong xã hội hoặc nhà giàu có. Vì muốn giữ uy tín với thiên hạ nên đành ngậm đắng nuốt cay nuôi con hút chích tại nhà. Chúng tôi có quen một cậu út đã nghiện ngập từ bé, cha mẹ biết được tạo điều kiện cai thuốc nhiều lần nhưng cậu ấm không đủ sức vượt qua. Họ là những người giàu có nên khéo sắp xếp buộc cậu con trai hút chích tại nhà, không được giao du cùng những con nghiện khác. Cậu ta hút chích như vậy đến năm bốn mươi mấy tuổi mới chết, ròng rã gần 30 năm sống chung với con ma trắng, thật là đáng sợ. Hạng người thứ hai chỉ làm tổn hại tài sản gia đình, may nhờ cha mẹ giàu có nên đủ khả năng nuôi họ suốt đời. Người nghiện ma túy nằm trong hai trường hợp này chỉ làm hao tài tốn của bản thân gia đình, không gây ra các tệ nạn xã hội. Tuy nhiên, về mặt xã hội họ làm bại hoại nhân phẩm, đạo đức con người, một đất nước có nhiều người như vậy khó mà phát triển và tiến bộ.

Hạng người thứ ba do lười biếng, muốn hưởng thụ nhiều và đua đòi theo chúng bạn nên bị nghiện mà không có tiền hút chích; do đó thường xuyên chôm đồ nhà, dối gạt cha mẹ, người thân bằng nhiều cách, cuối cùng dẫn đến lường gạt, trộm cướp của người khác, có khi dẫn đến giết người. Hạng thứ tư là các tay anh hùng hảo hán có số má trong giới giang hồ, vì muốn chứng tỏ bản lĩnh đàn anh nên phải biết đủ các món ăn chơi và ma túy, đàn bà là niềm tự hào và kiêu hãnh của chúng. Hạng thứ tư này muốn có tiền hút chích để thỏa mãn cơn ghiền thì phải hành nghề phi pháp, tổ chức và bảo kê sòng bạc, bảo kê gái gú, cho vay nặng lãi, đòi nợ mướn. Hai hạng hút chích này gây ra rối loạn an sinh xã hội, làm thiệt hại nặng nề về mọi phương diện. Bao nhiêu vụ án xảy ra như cướp của, giết người, nạn thanh toán nhau để dành địa bàn hoạt động, tiếp tay cho các đường dây mua bán ma túy hoành hành đều từ hai hạng này gây ra. Người hút chích ma túy đã làm thiệt hại nặng nề cho xã hội, làm con người mất đi nhân cách đạo đức, không còn biết tình người là gì nữa. Nhà nước đã phải bỏ ra chi phí quá lớn để đầu tư đội ngũ cán bộ có đủ khả năng triệt phá các băng nhóm tội phạm và các cơ sở quản lý con người để giáo dục, cải tạo ngắn hạn hoặc dài hạn những thành phần phạm pháp nghiêm trọng.

Nhớ lại khi xưa những năm tháng còn ở trong tù, chúng tôi may mắn được làm tù trưởng nhờ thế lực đỡ đầu có quyền hành, do đó mặc tình làm điều phi pháp. Đầu tiên chúng tôi móc nối các tù nhân là con nghiện ma túy để đem hàng đen vào trại, hoặc thỏa thuận với cán bộ quản giáo cho mấy người này về nhà phê. Một con nghiện đã thâm niên trong nghề hút chích có vợ bán ma túy đã chi rất mạnh nên được cho ra ngoài lao động, tôi thường dẫn hắn về nhà để chích chót. Số tiền thu được từ những dịch dụ này rất lớn, chúng tôi sống như ông hoàng con muốn gì được đó. Đúng ra, ở tù mà có thế lực rất dễ dàng tạo nhiều tội lỗi, vì muốn có tiền nên phải trấn lột hay nói chung cần phải chặt đẹp. Thật ra, trong cuộc sống của thế nhân, bất cứ môi trường nào dù tốt đẹp cách mấy cũng vẫn có kẽ hở vì lòng tham con người không bến bờ nhất định, như giếng sâu không đáy. Hiện nay, nhiều gia đình có con nghiện ma túy đã liên hệ với chúng tôi nhờ giúp đỡ, đa số các tay này từng vào trung tâm cai nghiện năm lần bẩy lượt mà vẫn chưa thể vượt qua. Những người này đều đã nghiện nặng, nếu gia đình không chu cấp thì có thể dễ dàng cai nghiện; còn ai gia đình khấm khá, chi viện đầy đủ thì vẫn có đường dây đưa vào nên vô tình hại thêm. Chính con nghiện đã nói với chúng tôi như vậy. Nhiều người khi hồi gia vì chịu không nỗi cơn ghiền, đành phải hành nghề phi pháp để có tiền phê tiếp. Đa số các con nghiện không đủ khả năng, bản lĩnh khi phải tiếp xúc với đời, tất cả đều bó tay, chào thua. Khó! Khó! Khó!

Thế giới ngày nay đang đau đầu, nhức óc về tệ nạn ma túy vì nó gây ra thiệt hại quá lớn về con người, vật chất. Do lợi nhuận về kinh tế quá cao, nó vượt qua các mặt hàng kinh doanh khác và chỉ thua mua bán vũ khí. Để thỏa mãn cơn ghiền nên con nghiện bất chấp mọi nguy hiểm, sẵn sàng làm tất cả dù biết đó là tội ác tày trời như giết người, cướp của. Tại sao hút chích và mua bán xì ke, ma túy không có trong giới cấm? Tuy không có trong giới cấm nhưng chúng nằm trong giới thứ 5 “không được uống rượu và các chất gây say sưa, nghiện ngập”. ThờiPhật tại thế chắc chưa có tệ nạn ma túy, hút chích xì ke nên không nghe Phật nói. Trong các thứ đam mê, nghiện ngập thì hút chích xì ke, ma túy là cha đẻ của nghiện rượu, tác hại của nó gấp trăm ngàn lần hơn thế và là thứ nặng nhất trong Tứ đổ tường. Cảm giác khoái lạc của ma túy còn hơn khoái lạc nam nữ, nên đa số dính vào vòng này đều chịu chết chìm trong si mê, tội lỗi; như người uống nước nóng lạnh tự biết, khi cơn ghiền đến sẽ đau khổ tột cùng, vật vã, khó chịu nếu không được phê tiếp; để vượt qua được con nghiện phải được đánh đấm thật mạnh lên bắp vế non hàng trăm cái sẽ thấy dễ chịu hơn. Chiêu này chúng tôi đã từng chứng kiến khi ở trong tù, nhờ vậy con nghiện giảm bớt cơn đau và đỡ vật vã hẳn. Ngày nay, trong các trung tâm đã có những loại thuốc giúp cất cơn nhanh chóng, hiệu quả. Nếu gia đình đã tìm nhiều cách để giúp con nghiện mà không hiệu quả thì chỉ còn cách duy nhất là gởi vào trung tâm cho lập nghiệp lâu dài. Đây là giải pháp an toàn và hiệu quả nhất có thể thay đổi cuộc đời con nghiện, nhưng với điều kiện duy nhất là không cung cấp tiền bạc, vì ở đâu cũng có kẽ hở của nó. Việc tạo công ăn việc làm tại chỗ, không cho giao thiệp, tiếp xúc bên ngoài sẽ giúp con nghiện hoa may cai được.

Người thời xưa cho á phiện là loại thuốc an thần, giảm đau cực kì hiệu quả, làm cho cơ thể thông minh, sáng suốt lạ kỳ, có tác dụng chữa bệnh rất cao. Vì thế, người giàu sang mới có tiền dùng nó, còn người bình thường không có khả năng với tới. Nó còn có tác dụng cầm máu nhanh chóng và giảm đau cấp kỳ nên được sử dụng trong y học. Một người nữ đang mang thai sắp đến kỳ khai hoa nở nhụy bị đau bụng dữ dội không cách nào chịu nỗi, oằn oại rên la thảm thiết. Vì quá đau nên cô có ý định nhảy xuống giếng tự tử, người chồng bị nghiện xì ke sợ cô chết mà ngậm đắng nuốt cay chích cho cô một mũi, nhờ vậy cơn đau được khống chế. Từ đó cô trở thành bạn chích với chồng. Thế là cả hai vợ chồng đều bị bắt vào trung tâm cai nghiện, chồng cô bị sida nên qua đời sau thời gian ngắn, cô vì có con nhỏ nên được cho về nhưng chứng nào tật nấy, ngựa quen đường cũ, cô không đủ sức vượt qua cơn ghiền nên chịu chết chìm trong si mê, nghiện ngập. Nhà cửa đều bán sạch hết và trở nên thân tàn ma dại. Nghe nói sau này cô phải mua phấn bán hoa và sau đó bị bệnh sida, cuối cùng từ giã cõi đời, để lại đứa con không nơi nương tựa.

Là người con Phật ta quyết không dính vào con đường nghiện ngập vì đã biết rõ tác hại của nó không những một đời mà còn nhiều kiếp về sau. Phật chế giới thứ năm là có lý do chính đáng, chúng giúp ta ngăn ngừa những việc xấu ác để không rơi vào hố sâu tội lỗi. Bồ tát là con người giác ngộ đang tiến bước trên con đường Phật quả, bởi giác ngộ nên Bồ tát biết ngăn ngừa từ nhân, còn chúng sinh chờ đến quả khổ mới than trời trách đất, đổ thừa tại-bị-thì-là…, cuối cùng đành nhắm mắt xuôi tay cho nghiệp xấu chi phối. Nhất là người bị nghiện xì ke thì khó lòng bỏ được, người nào đầy đủ nghị lực và can đảm lắm mới có thể vượt qua, còn không thì phải đam mê một thứ khác thật sâu đậm mới lấp nổi chỗ trống đó. Chính bản thân chúng tôi đã vượt qua nổi cũng chỉ bằng cách đó, ngọai trừ trường hợp đặc biệt do Bồ tát thị hiện vào đời để cứu độ chúng sanh nên không cần thay thế, chỉ một bước nhảy là có thể thoát được.

Nhiều cha mẹ vì quá thương con, sợ con bị hành hạ, dằn vặt chịu không nỗi nên vô tình giết chết con mình bằng cách tiếp tế, chi viện mỗi ngày. Nếu gia đình nào đủ sức bao bọc để con mình tiếp tục hút chích thì thời gian có thể kéo dài thêm năm mười năm nữa là cùng. Chúng tôi có biết một người do cha mẹ nuông chìu quá mức nên đã bị nghiện từ tuổi thiếu niên. Anh là đứa con trai duy nhất trong một gia đình giàu có, tiếng tăm. Vì sợ ảnh hưởng đến uy tín nên cha mẹ bắt anh giam lỏng trong nhà và sẵn sàng chu cấp đầy đủ. Đây là giải pháp tạm an toàn cho những gia đình có quyền lực trong xã hội. Phương pháp này tạm thời giúp người nghiện không rơi vào tình trạng cướp của giết người, không gây xáo trộn về cuộc sống an toàn xã hội. Tuy nhiên, cách giải quyết trên chỉ tạm thời giúp con nghiện không phạm pháp trong hiện đời và kéo dài đời sống, nhưng để lại hậu quả nghiêm trọng nhiều đời sau theo luật nhân quả nghiệp báo “gieo gió gặt bão”. Vì hiện tại anh không hóa giải được nghiệp nhân hút chích nên thỏa mãn cơn ghiền thoải mái, bao nhiêu phước báo hiện đời hưởng sạch, lại chẳng gieo thêm phước mới, nên khi ra đi mang theo thói quen nghiện ngập, si mê đến nhiều kiếp về sau.

Theo luật nhân quả nghiệp báo, nhân si mê nghiện ngập trong hiện tại nếu không được hóa giải thì vô số kiếp phải bị đọa lạc vào chỗ khốn cùng, như con thiêu thân lao vào lửa, như bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt, hôn mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sinh, đều do si nghiệp. Khi được làm người trở lại thì bị thân thể xấu xí, hôn ám si muội, không làm chủ bản thân nên dễ dàng rơi vào si mê, nghiện ngập. Vì không còn phước nên hiện đời không ai giúp đỡ, đành lao vào việc trộm cướp để có tiền hút chích, nếu không may bị chủ nhân phát hiện, sợ quá giết luôn gia chủ để bịt đầu mối thì tội chồng tội, quả xấu chồng quả xấu, người này sẽ không còn cơ hội làm mới lại chính mình nên đời này kiếp nọ sống trong mù mịt, tối tăm, khó có cơ hội vươn lên làm lại cuộc đời và mãi mãi sẽ là người từ tối vào tối. Ai lỡ vướng vào vòng si mê, nghiện ngập khó có khả năng được trở lại làm người. Nếu được làm người thì chỉ là hạng thấp kém, bần cùng, dễ dàng bị thói quen đam mê, nghiện ngập cuốn hút; do hết phước nên sinh trong gia đình nghèo, khi gặp duyên đưa đẩy bị bàn bè xấu tác động và dễ dàng nghiện ngập trở lại; muốn thỏa mãn cơn ghiền đành phải trộm cướp, lường gạt người khác, cuối cùng rơi vào hố sâu tội lỗi như người bị mắc dưới bùn không chân, càng nhích càng lún sâu, đành chịu chết dần chết mòn trong đau khổ.

Cha mẹ con nghiện muốn giúp con mình vượt qua thói quen mê muội này phải dứt khoát kiên quyết và bản lĩnh. Thường con nghiện không đủ sức một mình tự cai mà cần nhiều người hỗ trợ. Thứ nhất ta phải cách ly con nghiện tuyệt đối, không cho quan hệ bạn bè bên ngoài. Đây là điều cần yếu quan trọng đầu tiên, nếu để con nghiện tự do đi lại sẽ dễ dàng bị cám dỗ lôi cuốn. Thứ hai ta phải hướng dẫn con nghiện phát nguyện sám hối, hứa chừa bỏ không tái phạm và thường xuyên suy tư, quán chiếu để thấy rõ tác hại của nó làm hao tài tốn của, có thể dẫn đến tán gia bại sản, vợ con khốn khổ, cha mẹ khóc than. Nếu gia đình không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu, con nghiện có thể lường gạt hoặc trộm cướp để có tiền phê tiếp, không khéo dẫn đến cướp của giết người. Đã dính vào nghiệp này rồi thì tiền mất tật mang, mê muội ngu si, vô số kiếp sống trong đau khổ lầm mê không có ngày cùng. Đa số người nghiện xì ke đều là con nhà giàu, từ chỗ cha mẹ thiếu quan tâm, chỉ biết thương con, chìu con, muốn gì được nấy, đòi gì được đó, vô tình giết chết con mình. Do chạy theo nhu cầu sự sống mà mãi mê làm giàu, bảo vệ công danh sự nghiệp sợ không bằng người, cứ thế mỗi khi con muốn gì lại chẳng quan tâm đến, cứ chu cấp thỏa đáng theo nhu cầu của con.

Bản thân chúng tôi lúc còn chích xì ke trong thời gian ở tù vì tội móc ngoặc, hối lộ, do khôn khéo luồn lách giỏi nên được làm tù trưởng tự do đi lại bình thường. Chính vì thế càng ở lâu trong tù càng tạo nhiều tội lỗi, chúng tôi móc nối các phạm nhân nghiện xì ke mua một lời mười, đem thuốc cho họ chích trong trại giam tạo thành đường dây lớn mạnh. Đời sống của tôi lúc đó như ông hoàng con được bao bọc, che chở bởi nhiều thế lực nên hiên ngang móc nối, làm nhiều phi vụ phạm pháp, tung hoành ngang dọc một thời, sau này khi đi tu rồi ngồi lại suy ngẫm mới thấy tác hại lớn lao của nó. Người có địa vị, danh vọng càng cao mà không có nhân cách đạo đức sẽ gây nên nhiều tội lỗi, lợi dụng quyền cao chức trọng để làm những việc phi pháp. Một quốc gia nếu muốn dân giàu nước mạnh thì người lãnh đạo phải xa lìa tham nhũng, gái gú, luôn liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu đi đầu trong mọi mặt thì tệ nạn xã hội sẽ không có cơ hội phát triển; do đó mọi người sẽ sống an vui, hạnh phúc, không còn lo sợ nạn trộm cướp, giết người và hãm hiếp.

NGHÈO KHỔ, TÚNG QUẪN DỄ DẪN ĐẾN TÙ TỘI

Nghèo khổ, túng quẫn là nguyên nhân dẫn đến tù tội. “Bần cùng sanh đạo tặc” là câu tục ngữ luôn răn nhắc chúng ta phải tin sâu nhân quả, không thì túng quẫn sinh liều, gây ra không biết đau thương cho mình và người. Một gia đình nọ cha già quanh năm đau yếu, bệnh hoạn. Hai con thơ còn quá nhỏ, đứa trước đầu năm, đứa sau cuối năm, không có nghề nghiệp chính đáng mà chỉ làm mướn đó đây, không ổn định. Gia cảnh khó khăn, nợ nần chồng chất, cuộc sống càng ngày càng bi đát, hai vợ chồng cùng bàn nhau tìm ra giải pháp để cứu vãn tình thế. Nhà nghèo không mảnh đất cắm dùi, người vợ cuối cùng chấp nhận cho chồng vào TP.HCM kiếm việc làm thuê, mình chị ở nhà gồng gánh nuôi con cùng với gánh nặng cha già đau yếu. Trong hoàn cảnh khó khăn như thế, dù chị cố gắng xoay sở hết mình vẫn không đủ sức gắng gượng nên nợ nần ngày thêm chồng chất. Một năm trôi qua mòn mỏi chờ chồng đem tiền về nhưng biệt tăm tin tức. Đùng một cái, tin vui đã đến, người chồng đem về số tiền đủ để trang trải nợ nần và vẫn còn dư chút đỉnh. Họ cất đó, chưa dám xài đến, trong lòng mừng thầm khi nghĩ cuộc sống sẽ tốt hơn. Bất ngờ thay, công an ập đến nói người chồng giết người cướp của, anh chồng lãnh án tử hình còn gia đình phải bồi thường 90 triệu đồng cho nạn nhân. Một cắc còn không có nói chi đến số tiền quá lớn, sự thật quá đau lòng và xót dạ làm sao. Thật tội nghiệp cho những gia đình nghèo, vì không có hiểu biết chân chánh nên bị cái nghèo làm cho mờ mắt.

Người nghèo thường không làm chủ vấn đề sinh đẻ, cuộc sống khó khăn khiến họ không có cơ hội tiếp cận những trò giải trí bên ngoài, nên niềm vui chính là “đầu ấp tay gối”. Họ không biết chủ động dùng những phương pháp tránh thai và không biết tự chủ, kiềm chế trong việc chung chăn xẻ gối. Đó là lý do nhiều gia đình nghèo sinh con năm một và chịu cảnh con đông. Đã nghèo lại mắc cái eo vì phải nuôi thêm cha già bệnh tật, cô vợ ở nhà dù chắc chiu, hà tiện hết mức cũng không đủ sức đắp vá nên nợ nần cứ thế chồng chất, tăng lên theo thời gian. Anh chồng dù cố gắng lắm cũng chỉ dư chút đỉnh vì nghề nghiệp không ổn định. Chủ nợ đến nhà đòi mỗi ngày nên cô vợ điện tin cho chồng biết, anh túng quẫn quá mới phải làm liều, khi đã cùng đường anh nghĩ ngay đến ông chủ. Trong đêm hôm đó anh viện cớ nói chuyện cùng ông rồi lấy cây búa sau lưng nện cho đến chết khi ông không để ý. Sau khi giết người anh lấy đi một máy tính xách tay, một chiếc xe tay ga cùng vài triệu đồng rồi đón xe đi thẳng về quê. Trên đường đi anh bán sạch hết những gì lấy được và tiêu xài thoải mái, còn lại chút tiền đủ để trả nợ và dư chút đỉnh. Vậy là cuối cùng anh bị bắt tại quê nhà.

Cuộc sống khó khăn dễ làm con người ta trở thành những kẻ sát nhân giết người tàn nhẫn. Vì hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn, nợ nần chồng chất nên dù cố gắng làm lụng đầu tắt mặt tối vẫn thiếu trước hụt sau. Quá túng quẫn khiến anh sinh liều, đành giết người để có tiền xoay sở, cuối cùng phải chịu ôm hận thiên thu với bản án tử hình. Thường người nghèo ít học, thiếu hiểu biết nên dễ dàng làm những điều xằng bậy. Họ không hiểu tại sao người khác giàu còn mình lại nghèo. Nghèo là do không biết bố thí cúng dường, hiếu dưỡng với cha mẹ hoặc giúp đỡ, chia sẻ khi gặp người bất hạnh, khó khăn. Luận về nhân quả giàu hay nghèo đều có nguyên nhân, không có gì bỗng dưng khi không lại nghèo. Thường người nghèo hay thất học, hiểu biết quá nông cạn nên không biết quân bình tham muốn, cuộc sống cơ cực, vất vả quanh năm suốt tháng, nợ nần chồng chất, thiếu trước hụt sau, không có tiền để vui chơi giải trí, chỉ lấy việc chăn gối làm đầu nên họ thường đông con là vậy. Họ không biết cân nhắc và sắp xếp cách thức ổn định kinh tế gia đình từ buổi đầu. Những người giàu có thường rất khôn ngoan, sáng suốt. Khi chưa thành tài họ luôn cố gắng vừa học vừa làm, chịu khó siêng năng, cần mẫn. Khi ổn định công ăn việc làm, đời sống kinh tế tương đối khá thì họ mới tính đến chuyện trăm năm, xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái. Người nghèo do quá khứ gieo nhân xấu ác nên đời nay sinh ra chỗ khốn cùng, không được học hành tới nơi tới chốn, không có nghề nghiệp chính đáng, chỉ làm thuê làm mướn kiếm sống qua ngày không đủ để nuôi thân huống hồ lấy vợ nuôi con. Nghèo lại càng nghèo thêm là như thế. Có người nghèo mà lòng dục lại mạnh nên thế gian thường xảy ra những hoàn cảnh éo le, “vợ đẻ, con đau, bồ có chữa”, đã nghèo mà còn đam mê thì nói sao không khổ.

Do đó, nền tảng giáo dục gia đình xã hội rất quan trọng. Xã hội ngày nay có nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo bằng nhiều cách như xây nhà tình thương, hộ trợ vốn làm ăn, hướng dẫn giáo dục ý thức sống có hiểu biết về nhân cách đạo đức làm người… Về mặt tâm linh các vị tu sĩ phát tâm đi về các vùng sâu vùng xa, mở mang khuyến khích, giáo dục mọi người hiểu biết và tin sâu nhân quả, làm lành làm tốt sẽ hưởng phước báo, làm ác làm dữ sẽ chịu khổ đau. Tu sĩ phải biết kết hợp từ thiện và hoằng pháp để kết duyên lành với người bất hạnh, nhờ vậy mới có cơ hội giúp đỡ vật chất lẫn tinh thần, động viên, khuyến khích người nghèo biết gieo trồng phước đức mà tránh quả khổ đau. Nghèo khổ thường dẫn đến túng thiếu, khó khăn, nợ nần chồng chất, hay bi đát hơn đã nghèo lại mắc cái eo, phải gánh thêm cha mẹ già bệnh hoạn. Cuộc sống khó khăn nên phải vay mượn, do đó luôn bị chủ nợ hối thúc, bắt buộc, nếu không đủ khả năng chi trả trong nhất thời thì lãi mẹ đẻ lãi con. Không ai muốn mình mắc nợ mà vì hoàn cảnh bắt buộc nên đành ngậm đắng nuốt cay, chịu nhiều tủi nhục bởi lời nặng nhẹ, hăm he của chủ nợ. Có gia đình người nông dân nọ vì nhà nghèo nên mới mướn ruộng làm thuê, ông đã 63 tuổi nhưng do khó khăn nên mắc nợ. Chủ ruộng cằn nhằn, hăm he lấy lại ruộng. Một hôm trong lúc phát cỏ, chủ nợ lời qua tiếng lại đay nghiến nên ông bất mãn, không kiềm chế được bản thân, sẵn cuốc trên tay ông phang chủ ruộng mấy phát chết liền tại chỗ, sau phải lãnh án 18 năm tù bóc lịch. Còn nhiều vụ án giết người cướp của vì quá nghèo khổ khác đã và đang làm đau đầu các cấp chính quyền, nhà nước đang tìm cách khắc phục hậu quả khó khăn nhưng cảnh nghèo vẫn luôn còn tồn tại.  

ĐÀN ĐIẾM, LƯỜI BIẾNG, HƯỞNG THỤ DỄ DẪN ĐẾN TÙ TỘI

Đàn điếm, lười biếng, hưởng thụ là nguyên nhân dẫn đến tù tội với quan niệm “ngồi mát ăn bát vàng”, là nhân bê tha, sa đọa đưa con người ta vào cửa bại vong. Hương là một cô bé từ nhỏ vốn đã lười học lại hay thích chưng diện, đua đòi, ăn chơi theo thời đại. Nhờ có thân hình trắng trẻo, tướng tá mi nhon, gợi cảm nên ai nhìn cũng thích. Để có tiền hưởng thụ, vui chơi nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, cô bày ra các chiêu lừa tình một đêm với cánh đàn ông ham của lạ. Sau một đêm ân ái được người đẹp chiều chuộng, phục vụ hết mình, tận dụng nạn nhân còn mơ màng nửa tỉnh nửa say, cô lấy hết tiền bạc, tư trang ra đi không từ biệt.

Lười biếng là căn bệnh trầm kha của một số người ăn không ngồi rồi, làm ít mà muốn hưởng nhiều nên dễ đi vào con đường tội lỗi. Hương vì đua đòi chúng bạn nhà giàu nên đã đánh mất tuổi thơ quá sớm. Cái quý nhất của đời mình Hương cũng chẳng quan tâm, chỉ biết làm sao có tiền để thỏa mãn thú vui vật chất. Tuổi đời chưa đủ mười sáu mà cô nổi tiếng nhờ tình một đêm, rồi lấy hết tài sản của những ông khách ham của lạ. Cũng từ đó mà một vụ án xảy ra làm người bị hại trở thành bị cáo. Thơm tình cờ quen Hương nhờ một lần chat cùng trên mạng. Sau nhiều lần gặp gỡ, hẹn hò, hai người đã phải lòng nhau. Hôm đó đôi bạn vui vẻ chút bia bọt giống như đôi tình nhân tâm đầu ý hợp, sau hai người cùng về khách sạn mây mưa. Được sự chiều chuộng hết lòng của nàng, chàng mơ màng trong cơn say tình ái và ngủ một mạch cho đến sáng. Khi tỉnh dậy nàng đâu không thấy, chàng quờ quạng, sờ soạng túi quần mới biết tiền bạc, điện thọai, chìa khóa xe đều không cánh mà bay. Nếu ngậm bồ hòn làm lơ và chịu mất tất cả thì chàng tiếc nuối, tức tối không chịu được; mà khiếu nại thì chịu tiếng dại gái, không thưa kiện thì chiếc xe mấy chục triệu mới mua biết trả lời sao với gia đình. Thơm ngồi suy nghĩ mà ân hận vô cùng, ham chi chút bèo dạt mây trôi mà giờ đây thành ra nông nỗi. Anh đành chấp nhận mất mặt trình báo với công an để truy tìm thủ phạm. Sự việc cuối cùng cũng đưa ra ánh sáng, hung thủ đã bị bắt sau nhiều cú lừa ngoạn mục. Trớ trêu thay, cô ta chưa đủ tuổi thành niên nên từ người bị hại Thơm trở thành bị cáo về tội giao cấu với trẻ em. Hương chỉ mới vừa mười sáu nên đây là bài học nhớ đời cho những ai còn đam mê sắc đẹp, hãy nên thận trọng khi quan hệ ngoài luồng với bất cứ ai. 

Ngày nay, trên đà phát triển quá nhanh, con người bị kích động bằng nhiều hình thức hấp dẫn. Phòng trà, bia ôm, vũ trường mọc lên như nấm. Phim ảnh, sách báo đồi trị công khai tuyên truyền bằng nhiều hình thức để thu hút, hấp dẫn con người. Sự tiến bộ quá nhanh và sung mãn vật chất đã làm con người đam mê đắm đuối sự vui chơi trác táng nên dễ sa đà, tội lỗi. Có một gia đình mẹ là chủ chứa nuôi gái phục vụ khách làng chơi, rốt cuộc con mình chính là nạn nhân của cái vòng oan nghiệt. Thường thì nghề này khó bao giờ tồn tại lâu dài, nơi nào có bảo kê mạnh lắm cũng chỉ vài năm là công an dẹp hết. Thế nhưng hậu quả để lại rất đau thương, con gái của bà dù đã có chồng vẫn phải làm đĩ để nuôi thân cùng chồng. Những chỗ như vậy hay có giang hồ bảo kê, đa số hành nghề cho vay cắt cổ và đều nghiện ngập ma túy. Sau thời gian thất thế sa cơ, các tay giang hồ hảo hớn đều sống dưới dạt áo đàn bà, thậm chí có nhiều anh bất lực đến nỗi trực tiếp cho vợ bán dâm rồi làm người canh cửa để có tiền hút chích. Con người ta vì nhận thức và quan niệm sai lầm nên dễ rơi vào vòng nghiện ngập, si mê rồi cam chịu chết chìm trong vòng tối tăm, u mê, tội lỗi. Một ả nọ vì không có nghề nghiệp chính đáng mà không chịu cực khổ làm ăn nên chọn nghề bán hoa sinh sống. Do lớn tuổi nên ả đi khách rẻ hơn các đồng nghiệp khác, vì vậy ả thường bị các cô trẻ dùng áp lực không cho hành nghề. Ả vì muốn duy trì sự sống nên đã chấp nhận nuôi một tình nhân nghiện ngập ma túy để có người bảo kê. Sau nhiều lần gây cấn chuyện tranh giành mối mang đi khách, các em trẻ tuổi xúm nhau đánh hội đồng ả. Giữa cơn hỗn chiến xảy ra, vì muốn bảo vệ người yêu nên hắn đâm chết một cô trong nhóm, cuối cùng phải lãnh án tù chung thân, ả kia chịu cảnh thân tàn ma dại.

Thói quen lười biếng, muốn hưởng thụ nhiều đã dễ dàng đưa con người ta vào vòng tội lỗi, đây là một vấn nạn lớn mà các nhà chức trách đang đau đầu vì sự quản lý chưa chặt chẽ bởi nhiều hình thức trá hình. Nhu cầu phát triển ngày càng cao về văn minh vật chất cũng dễ kéo theo những tệ nạn xã hội. Cảnh tượng thảm não nhất là các đấng mày râu nghiện ngập ngồi gát cửa cho vợ mình bán dâm, sống dưới dạt áo đàn bà mà không biết hổ thẹn, làm đủ mọi cách chỉ để có tiền thỏa mãn cơn ghiền. Xưa ông bà ta thường nói nam nhi đại trượng phu làm hình bóng cho đàn bà nương tựa, vậy mà vẫn có những chàng trai suốt đời đầu chỉ đội đá mà đi. Chúng ta thử tưởng tượng một cục đá chừng hai chục ký lô mà cứ đội trên đầu mãi từ ngày này qua tháng nọ thì người như thế là khôn hay dại? Thật sự quá đau lòng và nhục nhã ê chề cho những chàng trai như vậy, họ làm mất mặt đấng mầy râu và không còn xứng là đàn ông nữa. Vậy mà vẫn có nhiều người hãnh diện với lối sống đó, họ cho mình có số đào hoa nên chỉ biết sống dưới dạt áo đàn bà.

Tóm lại, đàn điếm, lười biếng, muốn hưởng thụ nhiều là nguyên nhân dẫn đến vòng tù tội. Đàn bà thì thích làm khách đưa đường, nặng hơn nữa thì làm má mì mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em, mua bán ma túy, hoặc lợi dụng sắc đẹp để lừa gạt người khác bằng nhiều thủ đoạn tinh vi. Đàn ông thì cà rê dê ngỗng, chẳng muốn làm gì, nếu có mã đẹp trai thì dùng nam nhân kế lừa gạt phụ nữ nhẹ dạ, ham sắc; không thì sống dưới dạt áo đàn bà chờ đem tiền về nuôi, còn tệ hơn nữa thì hành nghề “ma đưa lối, quỷ đưa đường”, canh chừng vợ mình bán thân nuôi miệng; nếu biếng nhác hơn sống với nghề cờ gian bạc lận, hoặc làm các gã ma cô bảo kê gái điếm, gát sòng bạc và túng cùng phải hành nghề trộm cướp để có thật nhiều tiền hưởng thụ.

LÀM NGƯỜI CẦN PHẢI CÓ HIỂU BIẾT

Từ xưa đến nay tình ái luôn là thứ dễ làm con người mù quáng và si mê, do đó biết bao câu chuyện xảy ra làm đau lòng nhân thế. Cảnh nhồi da xáo thịt làm mất đi tính người, con giết cha, mẹ giết con, vợ giết chồng, rồi kẻ tình địch giết hại lẫn nhau vì ghen tuông vô cớ. Con người ngày càng gây nhiều tội lỗi và làm khổ đau cho nhau vì cuộc sống không bao giờ như ý muốn. Thật ra tình dục không phải là chuyện xấu, nó luôn gắn liền với con người từ vô thủy kiếp đến nay. Đã là chúng sinh thì phải ăn, phải ngủ, đã đưa vào thì phải thải ra và chúng ta luôn có trách nhiệm duy trì giống nòi nhân loại. Con người là một sinh vật cao cấp hơn hẳn các loài khác về mọi phương diện, nếu biết suy nghĩ và hành động hướng thiện sẽ giúp ích cho nhân loại, ngược lại sẽ gây đau khổ cho nhau. Thế giới loài người luôn ở vị trí chủ động, nếu ác thì cùng hung cực ác, nếu thiện thì không loài nào bằng. Do đó, đứng giữa dòng đời nghiệt ngã với muôn vàn sóng gió, tốt xấu lẫn lộn đang xen vào nhau, tùy theo nhận thức mỗi người mà có tình cảm yêu thương, gắn bó với nhau hay kết nên ân oán, hận thù. Chính vì thế mà chúng ta cứ sống loanh quanh, lẩn quẩn trong cái vòng ấy, nếu đi theo chiều hướng tốt đẹp sẽ dẫn con người đi trên con đường hướng thiện, bằng ngược lại sẽ đi vào chỗ tối tăm. Thế gian là một trường đời hỗn hợp, ai biết tu nhân tích đức thì sống an vui hạnh phúc, ai không biết thì cam chịu khổ đau. Hạnh phúc hay khổ đau đều do mình tạo lấy, không ai có quyền ban phước giáng họa mà chính mình là chủ nhân ông của bao điều họa phúc được tạo ra từ thân-miệng-ý mỗi người. Mình làm phước sẽ được hưởng phước báu, mình làm ác sẽ phải chịu khổ đau, đó là sự thật.

Nguyên nhân chính đưa con người vào vòng tội lỗi làm khổ đau cho nhau là do không tin sâu nhân quả, vì biết mà cố phạm, và bị nghiệp thức che đậy. Ý thức được khổ đau do sự giết hại gây ra, mỗi người chúng ta giữ giới không giết người và hạn chế tối đa việc giết hại các loài vật từ nhỏ đến lớn. Làm bậc cha mẹ ta phải giáo dục con cái từ lúc ấu thơ, khi thấy chúng tự tay giết hại những con vật nhỏ như bướm, kiến, ong do vô tình hay cố ý thì cha mẹ phải tìm cách ngăn cản, la rầy, nói rõ cho chúng biết tác hại của nó; nếu không lớn lên các em có thể mạnh tay hơn mà giết những con vật lớn và cuối cùng có thể giết người khi không làm chủ bản thân. Nếu chúng ta ai cũng y theo lời Phật dạy mà giữ gìn giới không giết hại thì thế giới sẽ không còn chiến tranh, binh đao, sóng thần, động đất, không sợ khủng bố trả thù, không bị bệnh tật và chết yểu, mọi người sẽ sống an vui, hạnh phúc.

Trộm là lén lấy không cho người biết, cướp là công khai giành giựt lấy. Trộm cướp là lấy những vật sở hữu của người khác như tiền bạc, ngọc ngà châu báu mà không được sự cho phép của chủ nhân. Tóm lại, cái gì do lòng tham thúc đẩy nên lấy của người khác một cách bất chính đều là trộm cướp. Bao nhiêu vụ án xảy ra cũng chỉ vì tình, vì tiền, dẫn đến cướp của, giết người, hãm hại lẫn nhau. Kẻ chết đã an phận, người sống phải lãnh chịu những hậu quả đau thương đến tột cùng. Có nhiều vụ án bị cáo và bị hại đều là người thân, như vụ con giết cha đã được đăng trên báo. Đứa con từng chứng kiến cha mình hành hạ, đánh đập mẹ mỗi khi say rượu. Sự bạo hành đó thường xuyên xảy ra làm đứa con cảm thấy xót xa, đau lòng, nỗi uất ức, căm hờn người cha đã đến tột đỉnh. Một hôm, chứng kiến cảnh cha hành hạ mẹ dã man, không kiềm chế được cơn giận, đứa con giết cha bằng cách cho điện giựt. Vụ việc này bị hại là cha mà bị cáo là con, dự phiên tòa là bà nội và người mẹ. Thật đau lòng và xót xa làm sao! Nếu người cha đó sống có nhân cách đạo đức thì đâu có chuyện gì xảy ra. Xã hội ngày nay nạn bạo hành gia đình là một vấn đề nhức nhối, số vụ ly hôn càng ngày càng tăng tạo ra nỗi khổ, niềm đau cho nhiều người. Con người sống với nhau không có tình yêu thương chân thật do sự chấp ngã của bản thân nên tham lam, ích kỷ, ganh ghét, thù hằn, dẫn đến giết hại lẫn nhau.

Phạm văn Bình là dân chơi đất Hà Thành được cha mẹ nuông chìu từ nhỏ nên đã kết bè, kết bạn với đám người hư hỏng chuyên móc túi và trộm cướp. Chưa đầy mười tuổi Bình được đưa vào trại thiếu niên để giáo dục, sau được tha về nhưng chứng nào tật nấy, Bình cấu kết nhiều tay anh chị, lập băng nhóm tổ chức cướp giựt có vũ khí và nổi tiếng từ đó với cái tên Bình bò; nhưng dù xưng hùng, xưng bá cỡ nào cũng không thoát được bàn tay chính nghĩa, cuối cùng anh bị tóm cổ trong một phi vụ cướp giựt. Sau 7 năm ngồi tù bóc lịch, tưởng chừng anh đã thay tâm đổi tánh, nào ngờ anh còn tổ chức trốn trại, cướp vũ khí của cán bộ quản giáo và bắn một công an bị thương. Trong thời gian trốn lệnh truy nã, Bình bò len lỏi trên những chuyến xe khách Bắc Nam sống bằng nghề móc túi và quen được cô gái bán hàng nước. Anh ta phải nói dối mình tên Tuấn, là tài xế lái xe. Sau nhiều lần trò chuyện Bình đã lấy được lòng cô với những món quà đáng giá. Con tim của hai người bắt đầu rung động mãnh liệt và tình cảm đã trở nên sâu đậm. Tuy nhiên, trốn chạy thế nào cũng có ngày phải ra ánh sáng, các trinh sát đã tìm ra anh và biết được hai người đang yêu nhau tha thiết. Huyền là cô thôn nữ hiền thục, khi biết người tình là tướng cướp trốn lệnh truy nã thoạt đầu cô rất bàng hoàng sửng sốt, sau vì chữ tình cô không nỡ bỏ anh. Cô nói với cha mẹ nếu không lấy được anh thì sẽ ở giá suốt đời. Các trinh sát nhờ Huyền động viên Bình ra đầu thú để hưởng sự khoan hồng. Lúc trước hai ba ngày Bình chuẩn bị vượt biên thì sự tha thiết cùng lời hứa hẹn chân thành của Huyền đã làm Bình tỉnh ngộ. Hai người được làm đám cưới trước khi Bình vào tù và Huyền còn rước đứa con riêng của Bình về nuôi để chồng an tâm. Hàng tháng cô đã nhín ăn bớt mặc để tích cóp tiền đến thăm chồng, nhờ vậy Bình yên lòng cố gắng học tập, cải tạo tốt để mau trở về sum họp cùng cô. Ước mơ của anh đã trở thành sự thật và Bình đã được đặc xá trước thời hạn 6 năm. Để hỗ trợ giúp cho chàng rể thật sự hoàn lương, cha mẹ vợ đã cho miếng đất để hai vợ chồng cất nhà ở và sau đó còn cho mượn sổ đỏ vay vốn làm ăn. Hiện giờ Bình là giám đốc một doanh nghiệp ăn nên làm ra rất có uy tín. Nhờ tình yêu thương chân thành của người vợ đã hết lòng hy sinh cùng sự hỗ trợ của cha mẹ vợ đã giúp Bình hoàn lương thật sự, hiện giờ anh sống rất hạnh phúc bên vợ con.

Phật dạy không gì cao quý và khó khăn hơn chặng đường vượt qua cạm bẫy cuộc đời, đó là tự chiến thắng chính mình. Chiến thắng chính mình tức là chiến thắng thói quen đã làm đau khổ nhiều người do tham lam, sân hận, si mê sai sử. Do thói quen nhiều đời và hiện tại giao du với bạn bè xấu nên ngay từ nhỏ Bình đã dấn thân vào con đường tội lỗi. Anh đã chiến thắng chính mình nhờ tình yêu chân thành của người vợ hiền thục giúp anh hoàn lương bằng những việc làm thiết thực: đem con riêng của Bình về nuôi, chấp nhận làm đám cưới trước khi anh trở vào tù,  thường xuyên thăm anh để động viên, hun đúc tinh thần cho anh bền chí học tập, cải tạo tốt. Động lực thứ hai giúp anh là sự khoan hồng, bao dung và độ lượng của quý ban chính quyền các cấp; thứ ba nhờ sự hỗ trợ, giúp đỡ của cha mẹ vợ đã cho anh miếng đất cất nhà và còn cho mượn sổ đỏ để vay vốn làm ăn; cùng với ý chí, quyết tâm cao độ của chính mình mà anh đã vượt qua lỗi lầm xưa.

Phật dạy người cư sĩ tại gia có quyền lấy vợ lấy chồng, nhưng phải thủy chung một chồng một vợ, không được dan díu và quan hệ bất chính với nhiều người. Ngoại tình là nguyên nhân dẫn đến ghen tuông, ích kỷ, phá hoại hạnh phúc gia đình người khác. Trong tình yêu ghen tuông luôn gắn liền với ích kỷ và nó là trạng thái tâm lý không thể tách rời nhau. Bao nhiêu vụ án xảy ra làm kinh hoàng thiên hạ với những cái chết thật đáng tiếc và vô lý làm sao, chỉ vì ghen tuông mù quáng. Bởi chúng ta yêu thương vì muốn lợi dụng nhau mà không có tình yêu chân thật, dẫn đến hẹp hòi, không độ lượng. Trong tình ái, do bảo vệ “cái ta” ích kỷ hoặc ghen tuông vô cớ nên dễ làm con người mù quáng, gây nhiều đau khổ cho nhau. Tình yêu bản chất vốn không xấu xa, tội lỗi, ai cũng muốn mình được an vui, hạnh phúc trong đời sống lứa đôi, nhưng vì chúng ta không biết cảm thông và tha thứ, bao dung và độ lượng. Không nói dối để lừa gạt người thì cuộc sống sẽ thoải mái, không còn lo toan, sợ hãi và luôn nói lời chân thật nên được nhiều người quý kính. Không uống rượu và hút chích xì ke, ma túy thì con người sáng suốt, thông minh, không bao giờ làm điều xằng bậy như trộm cướp, giết người hay lường gạt người khác. Một xã hội nếu không có nền tảng giáo dục tâm linh dễ khiến con người cuồng si trong tham muốn nên con giết cha, vợ hại chồng, mẹ giết con, anh giết em và vô số sự giết hại khác từ chỗ chấp ngã mà ra.

Người con Phật nhờ tin sâu nhân quả, quyết tâm học và ứng dụng theo lời Phật dạy, gìn giữ 5 điều đạo đức nên ít rơi vào vòng lao lý, tù tội. Xã hội ngày nay nếu biết đưa 5 giới nhà Phật vào chương trình giáo dục học đường chính thức để mọi người cùng nhau học hiểu và áp dụng vào đời sống hằng ngày thì tình trạng cướp của, giết người, làm những điều phi pháp sẽ giảm thiểu tối đa. Nhờ sợ tội và biết làm phước nên mọi người sống thương yêu, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần vô ngã, vị tha. Cuộc sống này có vô vàn sự cám dỗ như sắc đẹp, tiền tài, danh vọng, ăn ngon, mặc đẹp, ngủ kỹ…; chúng luôn thôi thúc, mời gọi chúng ta nên con người dễ sa ngã trước sóng gió cuộc đời. Hiểu biết chân chánh, nhận thức sáng suốt, cố gắng hành trì, sống đúng lời Phật dạy để vượt qua nỗi khổ niềm đau, sống an vui hạnh phúc là tâm nguyện của những người con Phật đang tiến bước trên con đường giác ngộ và giải thoát. Một chút trải nghiệm trong cuộc đời xin chân thành chia sẻ cùng chư huynh đệ pháp lữ gần xa, nguyện được kết duyên sâu cùng với tất cả mọi người.

 

 

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập