Trang chủ Cuộc sống Thư Gởi Phạm Nhân Của Lama Zopa Rinpoche

Thư Gởi Phạm Nhân Của Lama Zopa Rinpoche

Đã đọc: 2120           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Khi một người sống với chấp thủ suốt 24 giờ trong một ngày và chạy theo chấp thủ, thì toàn bộ cuộc sống người ấy—thực hiện mọi thứ theo chấp thủ của người ấy muốn và luôn luôn làm việc vì chấp thủ—trở thành ác nghiệp.

          Một tù nhân đang bị giam giữ trong nhà tù ở Ca-li đã trì tụng 1 triệu lần câu thần chú của đức Phật Dược Sư và đã dùng chúng để nguyện cầu cho đức Lama Rinpoche sống thọ. Sau đó, anh ta đã viết lời thỉnh nguyện đức Lama Rinpoche làm thầy của của mình. Lama Rinpoche đã trả lời như sau:

          Kenney thân mến của thầy!

          Thầy rất cám ơn con đã tử tế viết thư cho thầy. Thầy rất quan tâm đến lời thỉnh nguyện của con—thầy chấp nhận. Con phải cố gắng và thầy sẽ cố gắng. Con phải có trách nhiệm và thầy cũng có trách nhiệm. Con có trách nhiệm tuân theo và thầy có trách nhiệm hướng dẫn.

          Thầyy cám ơn con rất nhiều vì đã trì tụng 1 triệu lần thần chú của đức Phật Dược Sư. Cũng sẽ rất tốt nếu con trì tụng Tâm Kinh 5000 biến để con có thể nhanh chóng nhận thức rõ tánh không. Qua đó, con sẽ phát huy trí tuệ. Chỉ khi ấy, con mới có thể chấm dứt nhà tù khiếp đảm nhất của nghiệp và vô minh. Chỉ khi ấy, con mới giải thoát khỏi ngục tù của luân hồi, nơi bị giam giữ trong vòng xoáy của sanh tử và tất cả những khổ đau, đồng thời phải nhiều lần kinh qua chúng.

          Nếu không giải thoát, con sẽ phải thường xuyên đầu thai liên tục không có giây phút nào dừng nghỉ, bởi vì năm uẩn của chính bản thân con bị ô nhiễm, tràn đầy si mê và nghiệp. Do vậy, chúng thuộc về  bản chất của khổ đau, và vì thế, con sẽ phải thường xuyên kinh qua khổ đau. Con liên tục bị giam cầm trong đó, từ đời này sang đời khác. Quả thực, đây chính là nhà tù khủng khiếp nhất.

          Thông thường, những gì người trần tục gọi là nhà tù, nơi con đang ở, thực chất tương tự với những nơi mà các đạo sĩ sống ẩn dật. Nó cũng giống những nơi mà các nhà tập luyện yo-ga cổ đại, các bậc thánh nhân của quá khứ, hiện tại và tương lai, sống suốt đời họ hoặc nhiều năm, ở những nơi hẻo lánh, hang động và am thất, đôi lúc ở trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt. Bằng cách rèn luyện thân, miệng, ý và sống trong giới luật, họ tạo ra nguyên nhân của hạnh phúc, không chỉ hạnh phúc tạm bợ mà còn cả hạnh phúc miễn viễn. Điều này khiến họ được giải thoát khỏi tất cả khổ đau và nguyên nhân của khổ đau, đồng thời chứng đắc giác ngộ và giải thoát cho nhiều chúng sanh khác. So với những người thực tập yo-ga này, điều kiện của con—bị giam giữ trong phòng một mình—sẽ được xem như may mắn nhất trong số họ, vì con có thời gian và cơ hội để thực tập giáo pháp.Nếu không có điều kiện ở trong tù, cuộc sống của con sẽ chất đầy những xao lãng, cảm giác khoái lạc, vộng tưởng v.v và con chỉ theo đuổi các xao ãng này và chưa bao giờ tìm thấy giáo pháp hoặc có niềm vui trong giáo pháp. Con sẽ không báo giờ có cảm hứng hoặc nổ lực thực tập giáo pháp, bởi vì có quá nhiều xao lãng trong tâm mình (các vọng tưởng và si mê nội tại) và quá nhiều xao lãng bên ngoài. Thậm chí nếu con không ở một mình mà bị nhốt chung phòng với nhiều người, thì tình huống này cũng sẽ  thuyết phục và nhắc nhở con rằng sẽ khong bao giờ hoang phí đời mình, con có một thân người quý giá nhất, và con nên dùng nó để thực tập giáo pháp, phát huy tâm mình hướng tới giác ngộ.

          Thiền và trì tụng thần chú là những sự thực tập rất quan trọng. Tuy nhiên, cách thực tập rất căn bản và quan trọng hơn hai phương pháp trên là việc thực tập lòng tốt, trở nên tử tế với người khác, phát triển tình thương, lòng từ bi và trách nhiệm toàn cầu. Khi chân thành thực tập trở nên thân thiện với người khác và con muốn đem mọi nguyên nhân duy nhất của hạnh phúc cho người người khác, thì ngay cả con không chấp nhận nó, kết quả tự nhiên mọi người trở nên thân thiện và vui vẽ với con. Họ lắng nghe con và bằng cách này con có thể giúp đở họ. Con có thể nói cho họ về phương pháp, cách thức ngục tù khiếp đảm nhất—luân hồi—và đạt được hạnh phúc miên viễn, giải thoát hoàn toàn.

          Vì vậy, thực chất, nhà tù là một nơi tuyệt vời để thực tập giáo pháp, và cách thức nhanh chóng để phát triển tâm con trên con đường dẫn tới giác ngộ. Hơn nữa, nó sẽ giúp con có niềm tin vào nghiệp và hiểu biết về nghiệp bởi vì con đã từng tạo ra nguyên nhân ở trong quá khứ và đây là lý do con đang thực tập trong hoàn cảnh của mình. Thậm chí nếu một ai đó đánh đập, thóa mạ hoặc đẩy con vào nhà tù, thì tất cả những điều này trở thành những lời dạy khiến con thức tỉnh từ giấc ngủ sâu của vô minh. Tất cả các điều này là những điều kiện cho chúng ta chứng đắc giác ngộ và nhận thức rõ khổ đau đích thực và nguyên nhân thực sự của khổ đau không xuất phát từ bên ngoài; nó dựa vào nhau để sanh khởi. Bằng cách nhận thức rõ nguyên nhân đích thực, con sẽ thấy rằng có một sự tận diệt của nó, đó là giải thoát hoàn toàn và hạnh phúc miên viễn. Đây là những gì chúng ta nên nổ lực để chứng đạt. Điều này cho phép chúng ta thấy rõ con đường đã được đức Phật trình bày từ kinh nghiệm đích thực và tròn đầy của chính Ngài, con đường hoàn thiện và giải thoát tất cả khổ đau trong luân hồi và nguyên nhân của nó: vọng tưởng  và nghiệp. Không những thế, đức Phật đã chứng đắc giác ngộ hoàn toàn và giác ngộ cho rất nhiều chúng sanh trong quá khứ, và thậm chí trong hiện tại cũng đang giác ngộ chúng sanh. Rong tương lai, đức Phật sẽ thực hiện điều này trong từng giây phút cho đến khi tất cả chúng sanh đều đạt được giác ngộ. Đức Phật đã chỉ dạy toàn bộ con đường dẫn tới giác ngộ để tất cả chúng sanh có thể giải thoát khỏi khổ đau và nhà tù đích thực: luân hồi. Điều này không chỉ xảy ra trong quá khứ mà còn đang xảy ra ngay bây giờ, trong hiện tại. Do vậy, con có thể chứng đạt giác ngộ bằng cách theo con đường này, bằng cách thực tập, bằng cách đọc hiểu Phật pháp và thể hiện những phương pháp thực tập.

          Hơn nữa, thực sự rất tốt nếu con vâng giữ tám giới[1] của phật giáo đại thừa. Con có thể hỏi Ni sư Robina Courtin giải thích rõ cách để nắm bắt và gìn giữ tám giới đó, và cô ấy có thể trao truyền chúng cho con. Nếu không thể giữ được tất cả tám giới, thì con vâng  giữ bất cứ giới nào mà mình có thể. Ngoài ra, nếu muốn, con có thể suốt đời vâng giữ năm giới đầu, hoặc nếu thích, thì con vâng giữ tám giới ấy dành cho cư sĩ tại gia. Sống trong phẩm hạnh giới luật là sự thực tập tinh thần chủ yếu, là nền tảng rất quan trọng của hạnh phúc cho con và tất cả chúng sanh.Đây cũng là một trong những đóng góp tốt nhất mà con có thể hiến tặng cho sự bình yên  của thế giới này.

          Ngoài ra, nếu có thể, con nên thực tập để có một trái tim lương thiện càng nhiều càng tốt mỗi ngày. Bất kể ở nơi đâu, ở nhà hoặc trong tù, việc thực tập một tría tim lương thiện đều khiến cuộc sống của con trở nên rất có ý nghĩa, vừa lòng và thỏa mãn, bất cứ con ở đâu, ngay cả trong cảnh giới địa ngục. Bằng cách thể hiện một trái tim lương thiện, bất cứ khổ đau và khó khăn nào con đang kinh qua, thì con cũng trãi nghiệm vì những chúng sanh khác. Điều này khiến mọi thứ trở nên quá ư tốt đẹp. Con có nhiều hạnh phúc hơn và yêu thích mọi thứ nhiều hơn. Đây cũng là cách mà chúa Gê-su đã sống, chấp nhận ghánh vác khổ đau của người khác, và cũng như nhiều vị Bồ-tát: rất nhiều vị đã từng thể hiện phương pháp thực tập này. Kết quả là giác ngộ tuyệt đối, giải thoát hoàn toàn có khả năng hoàn hảo để giải thoát những chúng sanh khác.

          Dân hiến đời mình nhằm đạt được hạnh phúc vì người khác là cách tốt nhất để đạt được hạnh phúc cho chính con và là kết quả tích cực nhất. Con trở nên giống như mặt trời xuất hiện trong bầu trời soi sáng mọi thứ. Bằng cách này, con đạt được hạnh phúc ngay bây giờ, trong mỗi ngày, mỗi giờ và mỗi phút. Bằng cách tiếp tục sống cuộc đời như vậy, con có hạnh phúc này đến hạnh phúc khác, từ đời này sang đời khác. Khi chết, chấm dứt cuộc sống này, con có nhiều hạnh phúc và không nuối tiếc, không hề sợ hải và lo lắng về cái chết. hực chất, con có niềm an vui vô tận. Sau đó, con có thể chết vì người khác, đem lại hạnh phúc cho tất cả chúng sanh, cà hạnh phúc tạm bợ lẫn hạnh phúc tuyệt đối (giác ngộ), giải thoát tất cả chúng sanh ra khỏi khổ đau và nguyên nhân của khổ đau.

          Khi có niềm tin vào các đức Phật khác, tốt nhất con nên trì tụng những thần chú của các ngài, càng nhiều càng tốt. Con sử dụng thời gian ở tù của mình để thực tập, tịnh hóa ác nghiệp, tịnh hóa tất cả những phiền não cấu uế, và tích tập phước đức vô biên, càng nhiều càng tốt. Tốt nhất con nên đọc những tác phẩm Phật pháp đáng tin cậy—không chỉ bất cứ tác phẩm nào nói về thiền định hoặc các tác phẩm nói về “tâm linh” mà còn những tác phẩm đáng tin cậy, đặc biệt là Lam-rim, có nghĩa “các dai đoạn của con đường dẫn tới giác ngộ”. Ni sư Robina có thể chỉ cho con một số tác phẩm tốt để đọc. Ở đây, thầy đưa ra một vài tác phẩm để con tham khảo:

          Nhập Bồ Tát Hạnh (tác giả: Tịch Thiên)

          Ba Mươi Bảy Pháp Hành Của Bồ Tát

          Tinh Túy Bát Nhã Tâm Kinh (tác giả: Đức Lạt Ma)

          Các tác phẩm này sẽ cho con có cách nhìn tổng quát về Phật giáo.

          Tán Dương Tâm Bồ Đề (tác giả: Lama Khunu)

          Thư Cho Người Bạn (tác giả: Long Thọ)

          Đây là một tác phẩm rất hay để đọc.

          Giải Thoát Trong Lòng Bàn Tay (tác giả: Pabongka Rinpoche)

          Bồ Đề Đạo Thứ Luận (tác giả: Tông Khách Ba).

          Con có thể rõ những người không ở trong tù—ở nhà, đi du lịch, ngắm cảnh, đi bất cứ nơi đâu họ muốn—thực chất, họ đang sống trong nhà tù thực sự, nhà tù nguy hại nhất, bởi vì họ mắc vào bẩy của tham vọng, giống như con ruồi nhảy vào cây nến, nó hoàn toàn bị sáp bủa vây và chết. Chúng lao vào nơi có chất lõng nóng hổi và bị đốt cháy cho đến chết. Cũng giống như  những con thú bị nhốt trong lồng rồi sau đó bị giết. Bị nhốt ở trong chấp thủ, hoàn toàn sống trong chấp thủ cũng giống như sóng thần bao phủ cả thành phố. Bị chấp thủ hoàn toàn bảo phủ cũng giống như điều đó.

          Khi một người sống với chấp thủ suốt 24 giờ trong một ngày và chạy theo chấp thủ, thì toàn bộ cuộc sống người ấy—thực hiện mọi thứ theo chấp thủ của người ấy muốn và luôn luôn làm việc vì chấp thủ—trở thành ác nghiệp. Bởi vì các hành động của con được thực hiện với chấp thủ, bám chấp vào cuộc sống này, nên kết quả là lần lượt không có an vui và xuất hiện quá nhiều vấn đề. Nó dẫn tới quá nhiều sai lầm và bất mãn, và tâm con ngập tràn khổ đau. Hơn nữa, con gây hại cho nhiều chúng sanh khác bởi vì chấp thủ và sân hận khởi lên khi con không thành công trong việc nắm bắtt những gì mà chấp thủ của mình muốn. Hoặc, nếu có một vài chướng ngại, thì sân hận khởi lên và phá hoại con. Nó phá hủy nguyên nhân hạnh phúc của con—phước đức và nghiệp lành của con—và gây tổn hại người khác. Kết quả là sau đó con đầu thai vào cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ hoặc súc sanh. Khi con đầu thái vào đó, thì rất khó trở lại làm người. Không chắc chắn bao nhiêu niên kỉ sẽ được đầu thai lại làm thân người, chứ chưa nói đến ssuwj tái sanh và có thể đi theo con đường dẫn đến giải thoát và thực tập giáo pháp. Do đó, việc tiêu phí cả đời mình để chạy theo chấp thủ tràn đầy khái niệm trần tục là hoàn toàn không có hạnh phúc. Điều này giống như ăn bánh kẹo có tẩm thuốc độc, chỉ gây nên cái chết—cũng giống như liếm giọt mật nằm trên lưỡi dao sắc bén.

          Bây giờ, có có thể thấy rõ rằng tất cả những người này, mặc dù họ không ở tù, nhưng trên thực tế, họ đang sống trong ngục tù kinh hải, khiếp đảm, thâm hiểm, bi thảm và khủng khiếp nhất. Điều đó giống như ở trong một cái hộp bằng sắt bịt kín rắn chắc nên rất khó để thoát ra ngoài; họ bị nhốt trong cái thùng bằng sắt của vô minh.

          Trong khi đó, có một “cái tôi” tồn tại đơn thuần bị tâm quy ước, thực hiện chức năng của khổ đau phóng túng và chứng đạt hạnh phúc. Chúng ta tin tưởng có một “cái tôi” không đơn thuần bị tâm quy ước, tồn tại theo khía cạnh của chính nó, có thể được tìm thấy bên trong thân hoặc trên năm uẩn. Chúng ta tin tưởng có một “cái tôi” thực sự, nên bám vào điều này và tin tưởng 100% có “cái tôi” như vậy tồn tại. Đây là ảo giác, là nguồn gốc của tất cả si mê và vọng tưởng của chúng ta, chẳng hạn như chấp thủ và sân hận, cũng giống như tất cả sự tồn động của khổ đau, bao hàm cả vòng xoáy của sanh tử v.v  

          Sống dưới sự kiểm soát của vô minh chính là ngục tù nặng nề nhất, nơi mà tất cả những người này đang sống—nhưng những người đó nghỉ rằng họ không ở trong nhà tù. Họ không chỉ bị nhốt trong cái hộp bằng sắt nặng nề của vô minh, mà còn bị xiềng xích của nghiệp trói chặt, và trên tất cả, họ chỉ nảy sinh những ý tưởng phi đạo đức, giống như chấp thủ, bám víu vào cuộc sống này, sân hận v.v Họ rất khó để thực tập đức hạnh, có lòng từ bi hoặc tình thương đối với người khác, cũng rất khó cho họ thực tập kiên nhẫn và các ý tưởng đạo đức khác, chẳng hạn như buông xã. Ngoài việc sống trong cái hộp bằng sắt này với chân tay bị trói chặt, cũng không có ánh sáng. Nó nằm trong bóng tối dày đặc: không có mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Nó hoàn toàn đen tối khiến người ấy không nhìn thấy bắt cứ điều gì, và người ấy bị từng đợt sóng mạnh mẽ, dữ dội của đại dương cuốn đi. Không có an vui và hạnh phúc trong luân hồi, thạm chí trong giây lát—không có an vui và hạnh phúc thực sự ở bất cứ cảnh giới nào trong sáu cõi[2]. Đây là ngục tù vô cùng bức thiết mà con người ở trong thế giới này đang sống. Rất quan trọng khi quan sát những chúng sanh khác trong thế giới này và nhận thấy có bao nhiêu khổ đau mà họ đang chịu đựng. Họ là những phạm nhân thực sự.

          Nếu thực tập giáo pháp, thì con không phải ở trong tù. Khi thực tập buông xã chấp thủ, ngừng bám víu vào kiếp này, những đời sau và hạnh phúc tạm bợ  trong luân hồi; có chánh kiến—tánh không, bản chất đích thực của hiện tượng; có tâm Bồ-đề; dựa trên cơ bản mật giáo, con đường nhanh nhất, thì con đang giải thoát chính mình ra khỏi nhà tù và đưa mình đến giác ngộ giải thoát.

          Bằng cách đạt được nhận thức này, con không còn ở trong nhà tù nữa. Khi thoát khỏi tất cả những khái niệm và quan điểm sai lầm, con trở thành người giải thoát chứ không còn là phạm nhân nữa. Ngay cả khi những người bình thường gọi con là phạm nhân, bởi vì con đang ở trong điều kiện như vậy về mặt sinh lý, nhưng trên thực tế, con không phải là phạm nhân. Mỗi ngày thực tập đức hạnh là con đang tạo ra nguyên nhân của hạnh phúc nhằm thoát khỏi những khái niệm cảm xúc tiêu cực và ác nghiệp.Trong thời gian này, con không phải là phạm nhân, Và con không đẩy mình vào tù tội. Tuy nhiên, bất cứ khi nào nhưng ý tưởng phi đạo đức khởi lên và chạy theo chúng, thì con đẩy mình vào tù tội.

          Ở đây, thầy đang nói đến mối liên hệ giữa nhà tù với các khái niệm sai lầm. Cách khác để suy nghỉ những điều này là tất cả các vọng tưởng: vọng tưởng chấp thủ, sân hận, vô minh, các khái niệm vị kỉ, tâm đố kỵ và kiêu ngạo. Mỗi khái niệm sai lầm là một vọng tưởng, và con bị nhốt ở trong tất cả vọng tưởng này.

          Tốt nhất con nên đọc những cuốn sách nói về Phật pháp và thực tập càng nhiều càng tốt nếu có thể thể. Nơi con đang sống có cơ hội tốt nhất để đạt được hạnh phúc của tất cả các đời sau, trong điều kiện vật chất này mà người bình thường gọi đó là nhà tù. Con cũng có thể chứng đắc giải thoát khỏi luân hồi nhằm đạt được giác ngộ và giác ngộ tất cả chúng sanh khác. Điều đó có nghĩa con đang làm việc và sẳn sàng giác ngộ tất cả chúng sanh bằng cách ở ngay nơi này, nơi mà mọi người bình thường gọi là nhà tù.

          Rất quan trọng để thực tập và điều chỉnh tâm loại boe nguyên nhân của khổ đau—ác nghiệp—và thực tập nguyên nhân của hạnh phúc—đức hạnh. Cũng rất quan trọng để phát huy lòng từ bi bằng cách thấy rõ bao nhiêu chúng sanh đang đang chịu đựng khổ đau. Do vậy, con nên giúp đở các chúng sanh và cần phải phát triển tâm mình dựa trên con đường dẫn tới giải thoát.

          Do đó, con nên tận dụng hoàn cảnh của con bằng cách thực tập giáo pháp ở trong tù, phát huy tâm mình và chuyển hóa tình huống của mình trở nên hạnh phúc. Như vậy, nhà tù trở thành một quốc đảo tuyệt vời, Tịnh Độ. Đó chính là thiên đường.

Thầy rất thương yêu con và cầu nguyện cho con luôn sống trong hạnh phúc của giáo pháp.

         

         



[1] Tám giới: Là những giới luật giữ cho thân tâm mình thanh tịnh trong 24 giờ. Tám giới ấy được trình bày như sau:

  1. Không được sát sanh
  2. Không được trộm cướp
  3. Không được dâm dục
  4. Không được nói dối
  5. Không được uống rượu
  6. Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem múa hát.
  7. Không được nằm giường cao rộng đẹp đẽ
  8. Không được ăn quá giờ ngọ.

 

[2] Sáu cõi: hay còn gọi là sáu nẽo luân hồi. Sáu cõi này được hiểu như sau:

 

1. Cõi Trời: là nơi thanh thoát an vui. Những người khi sống làm điều phước thiện tốt lành cũng như những đời trước đó đã tạo phước đức, tu niệm chân chánh thì khi chết sẽ vào nơi đây. Cảnh trí ở đây trong sáng tươi vui, không có sự lo buồn, tức giận, đau khổ hay chán chường. Nói về chi tiết thì cõi Trời rất rộng lớn chia ra nhiều tầng và mỗi tầng ứng với những cấp độ khác nhau về nghiệp lành. Màu sắc ở cỏi trời tỏa sáng, có nơi rực rỡ vì là cỏi của Chư Thiên.

2. Cõi Người: Là nơi dành cho những ai mà Nghiệp tạo ra trước khi chết được xem là nghiệp lành - dĩ nhiên không phải ai cũng đều tạo nghiệp lành nhiều hơn nghiệp ác - vì thế nên tuy vào nghiệp mà khi tái sinh thành người sẽ có người hạnh phúc người bần hàn, kẻ an vui, người đau khổ.. Do đó kinh sách thường khuyên ta kiếp này được làm người là may mắn hãy cố gắng làm phước đức, tạo nghiệp lành để khi chết đi thành lại kiếp người sống hạnh phúc, an vui, sung sướng.. Màu sắc ở cõi người thường là mây vàng không chói sáng mà sáng đục.

3. Cõi ATULA: Đây là nơi hiện diện của những linh hồn của những con người mà khi còn sống thường kiêu hãnh vì được nhiều người kính nể do có công tu hành, học hỏi, luyện tập, cố gắng - Tuy nhiên họ lại là người tham danh lợi, thích tiếng khen, tự đắc, huênh hoang. Ví dụ như người tu hành tới cấp cao nhưng lại tham sân si, thích tán tụng công đức, mỗi bước đi có lọng tàng che, chung quanh đầy kẻ hầu người hạ, thích được mọi người bái lạy, tôn xưng... Những tánh cách ấy đã tạo thành Nghiệp. Dù họ là người có công với đạo pháp, xây nhiều nơi tu tập cho mọi người nhưng không gột rửa được lòng tham luyến sân si, còn tức giận, nóng nảy được khen thì vui, bị chê thì nổi giận, hay phân biệt giàu nghèo sang hèn. Kinh Sách xưa gọi họ là Người không có phước báu lớn - Vì thế mà khi qua đời phải đọa vào cõi A Tu La. Cõi này gồm có hai tầng: Atula thượng là nơi tự do thoải mái hơn tầng Atula hạ. . Đây là nơi dành cho người nào lúc sống làm được nhiều điều lành nhưng không có phước báu lớn, lòng còn đầy tham luyến ích kỷ.. Còn Atula hạ dành cho người lúc sống làm nhiều điều thiện nhưng vẫn tạo ác n ghiệp...Về màu sắc thì cõi Atula thường mơ hồ, phảng phất màu xanh lá cây . . .

4. Cõi Súc Sanh: Đây là cõi giới của những loài sinh vật, chúng chỉ biết sống theo bản năng chớ không có lý trí... Những kẻ lúc sống ở thế gian chuyên chạy theo vật chất, ham muốn xác thân, những kẻ chuyên mua bán các loại cần sa, bạch phiến, hút xách, chứa chấp, chiêu dụ, bắt cóc đàn bà con gái hãm hiếp hay bắt làm đỉ điếm - Theo Tử Kinh Tây Tạng thì người mới chết khi "hồn" còn ngơ ngác thấy những vùng đất trãi dài đầy hang lỗ, động đá thế là hồn đang ở ngưỡng cửa của cõi Súc sanh - Màu sắc cõi này màu xám mờ mờ.

5. Cõi Ngạ Quỷ: đây là cõi giới của những linh hồn mà khi còn sống đã rất tham tàn gian manh xảo quyệt hối lộ tham nhũng vơ vét của công giết người, cướp của nhất là của từ thiện làm của riêng mình, đặc điều vu khống cho người vô tù rồi ăn hối lộ thả ra hay tự khảo người để đoạt tình, đoạt tiền của... thấy người đói khát mà lòng không mảy may thương xót còn đánh đập xua đuổi. Màu sắc nơi cõi nga quỷ là màu đỏ bầm dữ tợn.

6. Cõi Địa Ngục: Cõi này có màu sắc tối mờ hắc ám ghê sợ. Đây là nơi dành cho những linh hồn mà lúc còn sống là những kẻ đại gian ác, vô lương tâm, những kẻ chuyên tàn sát, khủng bố, những kẻ gây tai họa đau thương nghiệt ngả cho vô số đồng loại. Theo Tử Kinh Tây Tạng thì khi Hồn tới một nơi mà cảnh trí nơi đó tối tăm thấp thoáng những căn nhà màu đen, trắng xen kẻ, hay lẫn lộn kề bên những hố sâu thăm thẳm thì đó chính là cõi địa ngục.

Theo các Lạt Ma Tây Tạng thì khi chết linh hồn người chết sẽ chuyển vào cõi giới nào đó và tùy theo tâm thức mà họ thấy được hình dáng, màu sắc sự vật nơi họ đến. Ngoài ra, tùy theo lòng tin vào tôn giáo của mình lúc còn sống như đối với những người theo Hồi giáo, Thiên Chúa giáo hay Bà La Môn họ... sẽ thấy cảnh trí trước mắt theo tâm thức riêng của tôn giáo họ đã qua Kinh sách từng đọc ví dụ.. người theo Thiên Chúa giáo họ có thể thấy Chúa Jesus, Đức Mẹ, hoặc thấy các Thiên Thần bay lượn hay sự xuất hiện của ác Thần, của Thiên sứ hay Quỷ Sa tăng vân vân..." 

 

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập