Trang chủ Cuộc sống Tình Người Trong Cuộc Sống

Tình Người Trong Cuộc Sống

Đã đọc: 4787           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Chúng ta sống cứ mãi mê chạy theo, bám víu công danh sự nghiệp, tiền bạc, vật chất tiện nghi mà quên đi phần tinh thần, tức con người tâm linh, nên dễ dẫn đến quẫn trí và tuyệt vọng. Không có gì đau khổ, cùng cực bằng tâm mờ mịt đi trong đêm tối ba mươi. Còn có sự sống là còn có hy vọng, nhưng hy vọng của chúng ta không phải là mộng mơ, không phải vu vơ, huyền hoặc. Nếu chúng ta hy vọng mà không có đích đến rõ ràng thì thật nguy hiểm; như trường hợp của kẻ xấu chỉ muốn làm sao tìm cách chiếm đoạt của người khác mà nhẫn tâm cướp của giết người, hy vọng kiểu đó chỉ gây thêm tội lỗi và khổ đau cho nhân loại.

Con người là loài có hai chân, đầu đội trời, chân đạp đất, có văn hóa, có văn minh, có hiểu biết, có yêu thương nhờ biết suy nghĩ, nhận thức tốt và biết cách thăng hoa trong cuộc sống nên gọi là có tình người. Nhờ có suy nghĩ và biết vận dụng đi theo chiều hướng tốt đẹp nên con người mở rộng tấm lòng nhân ái, biết san sẻ và giúp đỡ nhân loại; ngược lại, nếu vận dụng đi theo chiều hướng xấu thì làm tổn hại cho tất cả chúng sinh. Khi loài người đã sai lầm thì vô cùng cực ác, có thể tàn sát, giết hại một cách dã man và hủy diệt môi trường, sự sống không thương tiếc vì lợi ích cho riêng mình, nhất là những ông vua thời phong kiến.

Thế gian này theo lời Phật dạy có năm loài cùng chung ở, từ loài người nhìn lên trên thì có thần Atula và chư Thiên là loài có phước báu hơn người. Từ loài người nhìn trở xuống thì có súc sinh, ngạ quỷ là loài kém phước báu hơn người. Con người và các loài súc sinh chúng ta thấy biết rõ ràng, còn thần Atula và chư Thiên, ngạ quỷ và địa ngục chúng ta không thể nhìn thấy trực tiếp. Năm loài cùng chung ở hay sáu đường sinh tử luân hồi có đầy đủ trong loài người, nhưng loài người có ưu điểm hơn năm loài kia vì biết suy nghĩ, nhận thức được mọi sự việc tốt xấu, đúng sai, vui buồn lẫn lộn và thường xuyên nếm trải hương vị ngọt ngào hay đắng cay của cuộc sống. Chính vì vậy, đức Phật mới xuất hiện nơi loài người vì loài người có đủ điều kiện để tu thành bậc Chánh đẳng giác. Năm loài còn lại không đủ khả năng tu hành thành Phật. Đạo Phật ra đời đã trên 2600 năm, trải qua các cuộc thịnh suy, thăng trầm của thời đại nhưng không bao giờ có đổ máu, hận thù, tàn phá, giết hại, mà đạo Phật chỉ giúp cho con người sống có hiểu biết và yêu thương hơn bằng tất cả tấm lòng từ bi và trí tuệ với tinh thần vô ngã, vị tha. Đó là ưu điểm của nhân loại biết vận dụng lời Phật dạy trong đời sống hằng ngày nên biết cách làm chủ bản thân, không lệ thuộc vào đấng thần linh hay thượng đế. Do đó, sống có tình người, tình nhân loại, tình chúng sinh nên không làm tổn hại cho nhau.

Trong sáu đường sinh tử luân hồi, mỗi loài đều có hoàn cảnh và sự sống khác nhau. Loài súc sinh chúng ta thấy rất rõ là loại có cánh bay lượn trên không, chúng sống thành từng đàn, từng nhóm và tồn tại nhờ thức ăn của núi rừng thiên nhiên bao la theo kiểu hoang dã. Nhóm thứ hai có cách sống nhờ sự trồng trọt của loài người, hầu như mạng sống của chúng ảnh hưởng theo sự phát triển của nhân loại. Nếu con người tồn tại và phát triển ngày càng đông thì có nguy cơ tiêu diệt các chủng loại khác và phá hủy thiên nhiên để phục vụ cho nhân sinh. Loài sống trên mặt đất cũng vậy, có loài sống nhờ rừng núi thiên nhiên và chúng có thể ăn nuốt lẫn nhau theo kiểu lớn hiếp nhỏ, mạnh hiếp yếu. Ngoài ra, các loài súc sinh sống gần con người, chịu sự nuôi dưỡng của con người và tùy theo khả năng mà chịu sự sai khiến làm việc, phục vụ cho con người, và có những loài được nuôi để cung cấp thức ăn cho nhân loại. Các loài sinh vật dưới nước cũng thế, chúng cũng bị con người bắt và nuôi dưỡng cũng để làm thức ăn phục vụ cho nhân loại. Chư thiên là loài có phước báu hơn loài người nhờ biết tu thập thiện, tu tập các tầng bậc thiền định, do đó được hưởng phước báu mọi nhu cầu cần thiết theo ý muốn của mình nên rất khó tu. Cụ thể hóa như những người quá giàu ở thế gian này rất khó tu vì họ phải bận rộn đa đoan các thứ quyền lực, danh vọng, tiền bạc nên không có thời gian để tu hành. Đến khi phước hết vẫn bị đọa lạc trở lại như thường. Thần Atula có phước hơn người nhưng vì nóng giận quá mức nên hay tranh đấu dẫn đến hiềm khích, gây ra chiến tranh tạo sự oan gia, ân oán, hận thù cho nhau. Chính vì thế, hai loài này tuy có phước hơn người nhưng một bên hưởng thụ quá đầy đủ, một bên nóng giận quá độ nên rất khó tu tập. Còn địa ngục thì quá khổ đau cùng cực, không có chút tự do, chúng sinh rơi vào cảnh giới này chịu khổ triền miên không có ngày thôi dứt, chính vì vậy nên không có thời gian suy xét và quán chiếu, do đó cũng không tu được.

Nhìn từ góc độ thực tế, chúng ta thấy cũng có địa ngục trần gian, ai phạm tội giết người thì bị xích lại nhốt vào ngục tối, nặng nhất là án tử hình. Tội nhân bị án này sẽ ăn không ngon, ngủ không yên, ngày đêm cứ phập phồng lo sợ không biết thần chết đến lúc nào để rước mình đi, khi nghe tiếng mở cửa là sợ điếng cả hồn vì ai cũng tham sống, sợ chết. Một ngày trôi qua là họ mừng một ngày vì vẫn nuôi hy vọng được sống để làm lại cuộc đời. Còn những án khác từ án chung thân đến án khổ sai từ một tháng cho đến hai chục năm và nhẹ nhất là hưởng án treo. Nhìn từ góc độ triết lý học Phật giáo, chúng ta thấy vô vàn, vô số địa ngục khác như các bệnh viện phòng cấp cứu, các nhà bếp của mỗi gia đình, các quán nhậu, các lò sát sanh, các chợ bán thịt cá, heo, bò, gà, vịt, các loài hải sản và cuối cùng là các nhà lưới bẫy đánh bắt. Mỗi một ngày, vô số các loài bị phanh da xẻ thịt để cung cấp phục vụ cho loài người. Nhìn ở góc độ địa ngục trần gian, chúng ta còn có thể hình dung địa ngục trong tâm thức mỗi người, đó là tâm toan tính hại người, hại vật hoặc bị phiền não chi phối gọi là địangục tâm thức. Người tu nếu đạt đến giác ngộ giải thoát thì tâm sẽ an nhiên, tự tại dù thân có bị hành hạ, đau nhức chi phối.

Loài ngạ quỷ là loài quỷ đói thấy thức ăn mà ăn không được bởi nghiệp tham lam, ích kỷ, bỏn sẻn chiêu cảm. Nhìn từ góc độ cuộc đời, ta thấy ngạ quỷ cũng có trong loài người thiếu ăn, nghèo đói, thèm khát, ham muốn quá đáng mà không được nên khổ đau bức bách. Quỷ đói không phải có trong người nghèo khổ mà cả người giàu có vì tham vọng quá lớn, không được như ý muốn cũng vẫn phải chịu khổ như thường.

Loài súc sinh của thời kỳ cổ đại được sống tự do, thoải mái trên những núi đồi thiên nhiên bạt ngàn, xanh tươi, màu mỡ, ít bị loài người sát hại. Một số loài súc sinh phải chịu ảnh hưởng phước báu của con người nên con vật nào được người thương thì cuộc sống có phần thoải mái, ngược lại thì bị người giết hại. Con người thuần hóa các loài vật để phục vụ cho mình như lạc đà, lừa, ngựa, trâu, bò để chuyên chở và cày bừa. Việc săn bắn, đánh bắt, giăng bẫy các loài thú tuy có nhưng không đáng kể và việc nuôi thú để làm thực phẩm cho con người cũng không có nhiều. Tuy nhiên, thế giới con người ngày nay quá đông nên nhu cầu đánh bắt loài vật không đủ sức cung phụng cho loài người, do đó con người phải tự nuôi thêm các loài gia cầm, súc vật theo công nghệ hiện đại để đủ đáp ứng nhu cầu thực phẩm. Ngoài ra, các loài vật cũng chịu sự ăn nuốt lẫn nhau, mạnh hiếp yếu, lớn hiếp nhỏ nên luôn sống trong khổ đau, lầm lạc.

Năm loài cùng nêu trên có hai loài là chư Thiên va thần Atula có phước sung mãn hơn người nhưng lo thụ hưởng nên không có điều kiện tu tập; ba loài dưới ngườithuộc đẳng cấp thấp hèn nên không có văn hóa, không có tình người; loài người do biết suy nghĩ, cảm nhận được sự khổ đau và hạnh phúc nên có điều kiện tư duy, quán chiếu, soi sáng mọi việc bằng nhận thức sáng suốt, có học hỏi, có tu tập, có văn minh, có hiểu biết, có yêu thương, có cảm thông, có bao dung, có độ lượng, có tha thứ và cùng san sẻ cho nhau nên loài người có đủ khả năng tu hành thành Phật. Đó là ưu điểm của loài người, năm loài kia không thể thành tựu Phật đạo, chính vì vậy đức Phật mới giáng sinh nơi loài người. Theo lời Phật dạy, thế gian này có năm loài cùng chung ở, hay gọi là sáu đường sống chết-luân hồi, có hai loài chúng ta thấy biết dễ dàng nhất là thế giới của loài người và súc sinh, bốn loài còn lại chúng ta có thể nhìn bằng trực giác hay tuệ giác của Phật mới biết rõ sự hiện hữu ngay nơi cuộc sống của mình.

Loài người từ khi còn sống hoang dã cho đến ngày hôm nay đạt được tiện nghi văn minh vật chất, nhưng vẫn phải đau đầu vì cái ác luôn chiếm ưu thế bởi các học thuyết vu vơ, huyền hoặc. Cùng với sự tác động của nhiều phim ảnh đã gieo rắc vào tâm tư con người những tư tưởng bạo động, hận thù, tàn sát, giết hại lẫn nhau. Khi xưa, con người chưa văn minh tiến bộ nên đa số chịu ảnh hưởng sự cai quản của thần linh, thượng đế, phải chấp nhận số phận đã an bài, hạnh phúc hay khổ đau đều do đấng tối cao sắp đặt. Con người khi sinh ra ai cũng khát khao được tự do và hạnh phúc, nhưng đa số không biết làm cách nào để được hạnh phúc chân thật. Nhiều người cho rằng, hạnh phúc là có cơm ăn, áo mặc, nhà ở tiện nghi. Một số người cho rằng, hạnh phúc là có quyền cao chức trọng. Nhiều người cho rằng, hạnh phúc là có nhiều tài sản và vợ đẹp, con ngoan. Một số người cho rằng, hạnh phúc là nội tâm thanh tịnh, không còn ham muốn dục vọng và các khoái lạc trần gian. Các vị Bồ tát thì lấy hạnh phúc của nhiều người làm niềm vui cho chính mình nên dấn thân đi vào đời làm việc không biết mệt mỏi, không biết nhàm chán để phụng sự nhân loại.

Làm người trong thế gian ai cũng muốn hưởng được hương vị ngọt ngào của cuộc sống, vì thế chúng ta cần đủ nghị lực chọn một hướng đi rõ ràng và trong sáng. Nếu chúng ta do thấy biết sai lầm nên sống cuộc đời lầm lỗi và hay thất chí, nản lòng thì ta sẽ gặp nhiều bất hạnh, khổ đau trong cuộc sống. Ta đừng tự hạ thấp giá trị của mình khi so sánh với mọi người, mỗi chúng ta là một viên gạch xây nên căn nhà tình thương tuy giá trị của mỗi viên gạch lớn nhỏ khác nhau. Chúng ta hãy nên không ngừng trau dồi học hỏi, quán chiếu cuộc đời để chuyển hóa kiến thức từ sự học hỏi của thế gian thông qua lời Phật dạy; chúng ta tu tập để phát sinh trí tuệ thấy biết đúng như thật nên không bị phiền não, khổ đau chi phối và luôn sống trong an lạc, hạnh phúc. Người có nhiều kiến thức thường thấy mình là trung tâm của vũ trụ, vì sự chấp ngã của cái tôi này quá lớn, do đó họ sinh tâm tham muốn quá độ nên có thể làm tổn hại nhiều cho nhân loại. Người có trí tuệ sáng suốt luôn  biết rõ chân lý cuộc đời là một dòng chuyển biến đổi thay, cho nên bản chất của nó là vô thường, tuy biết vô thường nhưng vẫn dấn thân phục vụ và làm việc không biết mệt mỏi vì lợi ích chúng sinh mà không tham đắm, mê mờ. Trí tuệ là tài sản vô giá, luôn giúp chúng ta vượt qua cạm bẫy cuộc đời để có cơ hội nối kết yêu thương đồng hành cùng nhân loại. Mỗi một con người là quà tặng cho cuộc sống, khi nhân loại đến với nhau có hiểu biết và thương yêu thì thế gian này sẽ là thiên đường của hạnh phúc.

Chúng ta muốn có một nhân cách sống đạo đức tốt đẹp thì phải học theo gương hạnh của các bậc thoát trần thượng sĩ ngày xưa. Thời Phật còn tại thế, một hôm Ngài đến thăm ba vị đệ tử của mình đang tu tập tại một làng quê xa xôi, hẻo lánh. Được Phật thân hành đến, ba vị đệ tử cùng nhau cung kính đảnh lễ và ngồi sang một bên chờ sự chỉ dạy của Ngài. Phật ân cần thăm hỏi, “này các đệ tử, tụi con sống ở đây có được an lạc và hòa hợp hay không?” Ba tôn giả đồng thưa, “chúng con sống với nhau rất hòa hợp và hạnh phúc”. Phật hỏi, “các con sống như thế nào mà được an lạc và hạnh phúc?”. Ba tôn giả trả lời, “kính bạch Đức Thế tôn, chúng con sở dĩ sống hòa hợp, an lạc là nhờ biết gìn giữ thọ trì giới cấm miên mật; biết mở rộng tấm lòng từ-bi-hỷ-xả; biết khiêm cung, tôn trọng, lễ phép với nhau; luôn vui vẻ, hòa nhã; biết cảm thông và độ lượng; luôn nhẫn nhịn và nhiệt tình giúp đỡ lẫn nhau trong mọi trường hợp”. Phật từ bi nói, “lành thay, các con về sau rất xứng đáng làm hương thơm cho đời”.

Đôi lời tâm sự chân thành với lòng biết ơn vô hạn, kính mong chư huynh đệ pháp lữ gần xa hãy nhín chút thời gian để cùng chúng tôi kết nối yêu thương, sẻ chia cuộc sống trên tinh thần đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau bằng trái tim hiểu biết.

Kính ghi

Phong Trần Cuồng Nhân

NGƯỜI VÀ VẬT

Một con người sống có đạo đức, nhân cách, được mọi người tôn quý và kính trọng chưa hẳn người đó xuất thân từ một gia đình có uy quyền, thế lực hay giai cấp quý tộc; cũng không hẳn là người có nhiều học vị, bằng cấp hoặc người có nhiều tiền của. Nếu người đó đạt được những tiêu chuẩn trên mà lại không có giới hạnh, đạo đức, sống thiếu tình thương, tình người trong cuộc sống thì giá trị đó cũng không lợi ích gì cho ai.

Ngày xưa, một con sư tử và chín con chó sói cùng đi săn chung với nhau. Chúng bắt được mười con nai và lần lượt chia mồi. Sư tử hỏi ý kiến đồng bọn nên chia như thế nào cho công bằng. Một con sói lanh lợi nói, “Chúng ta có mười tên, săn được mười con, vậy thì chia đều là bình đẳng và hợp lý nhất, không có gì phải bàn cãi nữa”. Sói vừa dứt lời đã bị sư tử tát cho một cái lòi cả mắt ra. Sau nó quay sang hỏi cả bầy sói, “vậy chúng ta nên chia như thế nào cho công bằng đây?” Sói nâu thấy bạn mình mới bị lòi mắt nên hoảng quá, “dạ bẩm ngài, để hết mười con ngài xơi từ từ ạ”. Sư tử gầm lên thật lớn rồi liền đạp cho sói nâu một đạp lăn cù mèo, “đồ cái thứ gian dối, dua nịnh”. Xong, mọi việc đâu vào đấy. Sư tử từ tốn nói, “này các bạn, chúng ta phải chia như thế nào cho đều vậy?” Cả bầy sói bây giờ sợ xanh cả mặt, chẳng con nào dám nhúc nhích, hó hé gì cả. Sư tử bực quá, chỉ ngay con sói đen trong bầy, “chú mày ý kiến thế nào?” Sói đen run rẩy thưa, “dạ bẩm ngài… cả đoàn chúng ta cả thảy có mười, săn được mười chú nai. Phần ngài chín nai thì bằng mười, chúng con một nai chín sói cũng bằng mười. Đó là cách chia đều và công bình số một ạ”. Sư tử nhà ta ra chiều đắc ý lắm, “được, chú sói đen thông minh lắm đấy, ta sẽ ban thưởng sau. Ta từ trước tới nay không muốn làm người mạnh hiếp kẻ thế cô, ta căm thù sự bất công và gian dối, dua nịnh”. Sói đen cung kính thưa, “dạ, kính bẩm ngài, con từ xưa nay dốt đặc, nhờ chứng nghiệm thực tế của hai bạn con vừa rồi nên mới có chút sáng kiến đấy thôi”. Sư tử nhà ta hãnh diện lắm nên lớn tiếng nói, “này, lũ sói nhà ngươi hãy ngoái lỗ tai lớn ra mà nghe và bắt chước sự khôn ngoan như chú sói đen kia đấy nhé!” Cả bầy sói đồng thanh, “dạ, dạ,… xin nghe”.

Câu chuyện ngụ ngôn cho chúng ta thấy sự tinh khôn, xảo quyệt của sư tử là đại diện cho những người không có nhân cách đạo đức; bầy sói là tượng trưng cho loài vật nhỏ hay kẻ dưới quyền. Người và vật cũng đồng nghĩa là một chúng sinh, nhưng con vật mặc dầu có thú tính ăn nuốt lẫn nhau nhưng chúng chỉ sát hại con mồi khi đói khát, khi no đủ chúng không cần quan tâm đến miếng mồi ngon nữa. Loài người là một chúng sinh cao cấp nhờ có nhận thức, suy nghĩ, biết phân biệt phải quấy, tốt xấu, đúng sai; nếu biết đi theo chiều hướng thượng thì xả bỏ sự vị kỷ của cá nhân để đóng góp lợi ích thiết thực cho nhân loại; ngược lại, nếu chỉ vì lợi ích cá nhân với mưu mô xảo quyệt hại người sẽ mang lại nỗi khổ niềm đau  cho nhân loại. Đó là bài học đau thương, buồn tủi cho kiếp con người chúng ta. Con người do lòng tham muốn quá độ nên đã dùng đủ mọi hình thức để mưu cầu lợi ích về cho riêng mình. Khi có quyền cao chức trọng thì con người chẳng từ bỏ một mưu sâu kế độc nào để hại người, hại vật, miễn làm sao được lợi cho mình là được rồi. Trong khi đó, loài vật không gian hùng như vậy, chúng vì bất đắc dĩ bảo vệ mạng sống nên phải sát hại địch thủ và khi đã no đủ rồi chúng không màng đến miếng mồi nữa. Quả thật, con người vì lòng tham lam quá đáng như giếng sâu không đáy, không biết đủ, một khi đã ác rồi thì cùng hung cực ác, man rợ, dã man đến tận cùng.

Thời xa xưa khi con người chưa văn minh tiến bộ cho nên học thuyết thần linh thượng đế ra đời, nói rằng trời sinh ra vạn vật và làm chủ muôn loài. Một ông vua ngày xưa vì mệnh danh là thiên tử tức con trời, thay trời trị vì thiên hạ nên đã đặt ra những luật pháp khắc nghiệt để bảo vệ dòng dõi thiên tử; do đó có những luật chu di ba họ, bảy họ, chín họ theo kiểu diệt cỏ phải diệt tận gốc. Vua muốn làm gì thì làm muốn giết ai thì giết, muốn phong quan tiến chức cho ai thì phong, sự sống của tất cả muôn loài vật đều lệ thuộc vào ông vua. Gã sư tử kia là đại diện cho con người vị kỷ đó, mồm mép ba hoa lúc nào cũng muốn chứng tỏ mình là con người đạo đức cao thượng. Thường thì con người do thấy biết sai lầm nhưng lợi dụng quyền cao chức trọng, áp đặt cuộc sống nhằm bảo vệ địa vị độc tôn của mình bằng danh nghĩa đấng tối cao. Con người do lòng tham không đáy nên lợi dụng quyền lực của mình để khống chế thiên hạ. Miệng thì tuyên truyền hô hào dân chủ, kêu gọi mọi người bình đẳng đóng góp ý kiến để xây dựng, phát triển, mở mang; nhưng chú sói đầu tiên vừa mở miệng bình đẳng, công bằng thì đã nhận chiếu chỉ án khổ sai chung thân. Kế đến chú sói nâu vừa mở miệng “chúng em nhường hết cho anh xơi” thì được lệnh lưu đày biệt xứ. Thế thì còn chú sói nào dám can đảm góp ý kiến xây dựng nữa đâu? Cả bọn đều ngậm bò hòn làm thinh trước sự bất công, áp bức của sư tử. Đến lượt con sói đen được chỉ định ý kiến, tất cả bọn sói đều lo sợ quay mặt về nó để chờ đợi, kết quả đau thương như hai chú sói trên, “dạ bẩm ngài, theo con nghĩ chia hai là đều nhất, ngài là một cộng với chín nai thì bằng mười. Chúng con, chín sói cộng với một nai cũng bằng mười, như thế là quá công bằng, bình đẳng”. Một tràng pháo tay vang dội, hoan hô chú sói đen thông minh đáo để. Lúc này sư tử nhà ta càng vênh vang tự đắc, “phải như sói đen mới đáng mặt là kẻ thông minh, sành sỏi. Ta sẽ ban thưởng hậu hỷ cho chú mày sau. Chú mày học phương thức chia chát này ở đâu vậy, sao từ xưa đến giờ trong sách vở chưa từng ghi lại?” “dạ, bẩm ngài! Con vừa học được từ hai bạn sói trước mắt đó”. Sư tử nghe nói vậy liền cười ha hả ra chiều thích thú lắm, rồi dõng dạc tuyên bố “này lũ sói nhà ngươi hãy học cách khôn ngoan như sói đen đấy nhá!” Cả bọn đồng thanh “dạ”.

Chúng sinh vì một niệm bất giác nên bị gió nghiệp cuốn trôi, từ một bản tâm bình thường, trong sáng, vô ngã, vị tha mà chúng ta kết thành ngã si, ngã ái, ngã chấp, rồi khoát lên nó quan niệm sống đầy bản ngã và cố chấp thành kiến, để phục vụ cho “cái tôi” này mà con người trở nên tàn nhẫn, độc ác trên thế gian này. Con người là một chúng sinh cao cấp có suy nghĩ, nhận thức sáng suốt do biết nghiệm xét quán chiếu, tìm tòi nên có thể làm những việc dời núi, lấp sông, vá trời, lấp biển. Con người có thể tạo nên các tiện nghi vật chất để mưu cầu, hưởng thụ cho riêng mình nên bằng mọi cách vơ vét, gom thâu, bành trướng thiên hạ để nắm quyền cai trị nhằm hưởng lộc tối cao. Gã sư tử đó ra vẻ dân chủ, bình đẳng lắm, nhưng thực chất chỉ là hạng lừa đội lốt sư tử; nào là văn minh, dân chủ, công bằng, tự do, nào là vì lợi ích của nhân loại, hứa hẹn đủ thứ để rồi trở thành con ma nhà họ hứa. Ai biết cách tâng bốc, chạy lòn phía sau thì công danh, sự nghiệp phất lên như diều gặp gió. Ai thành tâm nói lên sự thật thì lãnh án khổ sai, biệt xứ. Cuộc đời lúc nào cũng bị phủ lên lớp áo màu xanh, hy vọng đổi mới, phát triển mở mang nhưng chỉ trên danh nghĩa suông, chỉ lợi ích riêng tư cho một số người.

Vậy chúng ta phải làm thế nào để trở thành người có đức hạnh? Muốn trở thành người có đức hạnh không phải đơn giản và dễ dàng, nó đòi hỏi người ấy đối với bản thân phải luôn biết xét nét, nhìn kỹ lại chính mình để thấy được những lỗi nhỏ nhặt nhất mà tìm cách khắc phục, chuyển hóa chúng. Người có đức hạnh phải biết làm chủ bản thân qua các cảm thọ, xúc chạm để thấy biết rõ ràng sự thật nơi thân này. Biết cảm thông, bao dung và độ lượng, tha thứ cho những ai đã từng làm cho mình đau khổ tột cùng; luôn sống vì lợi ích chung, lấy niềm vui thiên hạ làm niềm vui chính mình. Ai sống được như vậy là người đức hạnh, đạo đức, đang đi trên con đường giác ngộ, giải thoát. Chúng ta nên học hạnh lắng nghe của Bồ tát Quán Thế Âm, sẵn sàng chia vui sớt khổ vì lợi ích tha nhân. Ai sống được như vậy là người có đức hạnh.

QUYỀN LỰC VÀ ĐỊA VỊ

Ngày xưa, con người cảm thấy bé nhỏ với bầu vũ trụ bao la này nên đa số đặt niềm tin vào một đấng tối cao có khả năng ban phước, giáng họa. Từ đó, các ông vua phong kiến lợi dụng quyền năng trên chế tác ra luật pháp độc tôn, bắt buộc mọi người phải noi theo dưới danh nghĩa là Thiên tử-con trời do thượng đế an bài, sắp đặt. Đất nước và con người đều thuộc quyền sở hữu của vua. Tất cả mọi người đều phải trung thành tuyệt đối theo sự sắp xếp của nhà vua. Vua muốn phong quan tiến chức cho ai thì phong, muốn giết ai thì giết; kẻ dưới không có quyền khiếu nại, nếu vua bảo chết mà không chịu nghe gọi là bất trung; với một quyền lực như vậy, ông vua được hưởng tất cả mọi nhu cầu cần thiết theo sự kính trọng tột cùng của mọi người. Làm vua quả thật không đơn giản tí nào, vì người đó nhiều đời đã từng phục vụ và đóng góp cho nhân loại quá nhiều, nên ngày nay mới được hưởng phước làm vua. Quyền lực thời phong kiến xem ông vua là con trời, đại diện cho thượng đế an bài, sắp đặt, và cả đất nước con người thuộc quyền sở hữu của vua.

Ở thời đại cổ xưa, con người rất tin tưởng vào đấng thần linh, thượng đế mà không dám chống trái vì sợ thần linh giận dữ, trừng phạt. Ngày nay, con người văn minh tiến bộ vượt bậc nên thấy chế độ phong kiến quân chủ độc tôn không còn phù hợp với thời kỳ khoa học hiện đại, do đó đã thay đổi cơ chế quyền lực thành dân chủ nhiều đảng để cùng cạnh tranh làm việc, phục vụ, đóng góp lợi ích cho xã hội, được dân bầu từng nhiệm kỳ một. Nếu vị lãnh đạo nào có khả năng làm lợi ích cho đất nước nhiều thì được bầu thêm một nhiệm kỳ mới, nhưng tối đa chỉ hai nhiệm kỳ rồi nhường chỗ cho người khác, do đó tình trạng tham nhũng, lạm phát của công rất ít khi xảy ra. Cơ chế dân chủ hay ở chỗ nếu mình nắm ghế quyền lực mà không đủ khả năng để giúp ích mọi người thì tự xin từ chức, hoặc nếu lạm dụng quyền hạn tham nhũng thì có pháp luật truy tố đem lại công bằng, lợi ích cho xã hội.

Theo lời Phật dạy, “thế gian này năm loài cùng chung ở hay có sáu đường luân hồi, con người là một chúng sinh cao cấp nhờ có suy nghĩ, nhận thức, phân biệt đúng sai; nếu biết vận dụng đi theo chiều tốt đẹp thì không ai bằng và ngược lại thì vô cùng cực ác”. Lịch sử nhân loại đã chứng minh rõ điều đó, chỉ có con người tâm linh mới đủ khả năng giúp nhân loại vượt qua rào cản của si mê, tội lỗi nhờ có hiểu biết và thương yêu trong bình đẳng. Ai làm người cũng nên biết thao thức, trăn trở và hãy mở rộng tấm lòng ra để cùng nhau kết nối yêu thương, sẻ chia cuộc sống. Đời sống con người luôn song hành hai phần thân và tâm, tức thể xác và tinh thần; nhưng đa số chúng ta chỉ chú trọng về phần vật chất cho thân  nhiều hơn mà quên lãng đi yếu tố tinh thần. Mặc dù chúng ta sống trong giàu có, tiện nghi vật chất đầy đủ, nhưng lại nghèo nàn phần tâm linh nên chúng ta thường thất vọng, khổ đau. Lại có một hạng người tuy giàu có, dư dã, nhưng lại sống khổ sở hơn người nghèo vì chẳng dám ăn, dám xài, nói chi đem ra giúp đỡ cho người khác. Họ sống trong tham lam, ích kỷ, hẹp hòi, lao tâm nhọc sức để tích chứa cho riêng mình.

Muốn cho xã hội được phát triển vững mạnh và lâu dài thì con người cần phải làm giàu tri thức và đạo đức. Tri thức giúp phát triển xã hội, đạo đức giúp con người sống có hiểu biết và yêu thương hơn. Tri thức và đạo đức như đôi cánh chim tung bay khắp cả bầu trời rộng lớn để cùng bồi đắp cho nhau sống có tình người bằng trái tim hiểu biết. Thiếu tri thức thì không làm được gì, có tri thức mà không có đạo đức thì dễ dàng bị tha hóa, tiêu cực, làm thiệt hại cho nhau. Con người là chủ nhân ông của bao điều họa phúc, bất hạnh hay khổ đau là do chính mình quyết định. Chúng ta hãy vì tình thương của nhân loại mà cùng chia sẻ cho nhau, vì con người hơn hẳn các loài vật là có sự hiểu biết nên chúng ta cùng nhau chia vui, sớt khổ để thiết lập tình thương theo nhịp cầu tương thân, tương ái bằng tình người trong cuộc sống.

CẢM XÚC TRONG TÌNH NGƯỜI

Sống ở đời ai cũng cần có tình cảm, hay nói cho đúng là tình người trong cuộc sống. Tình cảm là khả năng nhận biết các cảm giác qua sự tiếp xúc của sáu giác quan như mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý. Con người là một chúng hữu tình, vì có tình nên phát sinh ra hai vấn đề ưa và ghét. Khi gặp cảm thọ dễ chịu thì sinh ra ưa thích luyến ái, muốn được lâu dài nên bám giữ, nuối tiếc; khi gặp cảm thọ khó chịu thì tỏ thái độ không hài lòng, bực tức rồi giận hờn mà phát sinh phiền muộn, khổ đau. Tình cảm con người được biểu hiện qua tâm lý cảm xúc ưa thì thương yêu, thích thú, lo lắng, phiền muộn và ganh tỵ; ghét thì sinh ra giận hờn, tức tối, khinh bỉ, coi thường và tìm cách trả thù. Có một loại tình cảm mà từ xưa cho đến nay nhân loại bao giờ cũng ca ngợi đó là tình yêu nam nữ. Khi yêu nhau ta hay thầm thương, trộm nhớ, ấp ủ tâm tư muốn chiếm hữu cho riêng mình nên sinh ra ích kỷ, nhỏ mọn, hẹp hòi. Cảm xúc là một trạng thái phản ứng tinh thần do bị kích động bởi hai trạng thái yêu thương và ghét bỏ, nên chúng mang tính tích cực hoặc tiêu cực. Thường những cảm xúc tích cực đem đến cho người ta sự vui vẻ, an lạc, hạnh phúc. Cảm xúc tiêu cực làm cho người ta đau khổ, buồn rầu, tức giận, ghét bỏ, sợ hãi, bất an, thất vọng và đau đớn. Nếu chúng ta một bề cứ chấp trước, bám víu, ôm mãi vào lòng cảm xúc xấu quá nhiều thì lâu ngày sẽ dẫn đến tình trạng rối loạn cảm xúc, có thể gây ra nhiều chứng bệnh hiểm nghèo trong cơ thể như bệnh thần kinh, huyết áp cao, viêm khớp, ung thư bao tử và bệnh trầm cảm.

Chúng tôi có duyên lành hàng tháng đến trung tâm Bảo Trợ Xã Hội Chánh Phú Hòa- Tỉnh Bình Dương để cùng tâm tình và chia sẻ với bà con cô bác anh chị em niềm tin sống có hiểu biết và thương yêu. Rồi cứ ba tháng một lần, chúng tôi đến trung tâm Tâm Thần Tân Định- Huyện Tân Uyên- Tỉnh Bình Dương, nơi đây gần 1200 người bệnh tâm thần từ nhẹ cho tới nặng. Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh hoạn như thế là nghiệp nhân si mê đưa vào cơ thể các chất kích thích, hoặc mua bán các chất đó cho mọi người. Ngoài những yếu tố trên còn có các yếu tố phụ là chất chứa cảm xúc xấu trong lòng quá nhiều nên gây rối loạn, dẫn đến bệnh hoạn. Muốn hóa giải những cảm xúc xấu đó, chúng ta cần có tình yêu thương chân chính, cần có tình người với nhau để làm chất liệu sống giúp con người vượt qua cạm bẫy cuộc đời mà biết cảm thông, tha thứ và sẵn sàng san sẻ cho nhau.

Cuộc sống chúng ta nếu không có tình yêu thương nhân loại thì ta sống để làm gì, nhưng yêu thương không đúng cách, đúng chỗ, đúng thời thì dễ trở nên sầu bi, khổ não. Trong mối quan hệ mật thiết với nhau, ai cũng muốn được yêu thương vì đó là chất liệu sống cần thiết cho con người; nhưng khi thương ai, chúng ta chỉ muốn chiếm hữu cho riêng mình. Đã làm người ai cũng cần có tình yêu thương chân chính, nhưng đa số chúng ta yêu thương trong sự ích kỷ, hẹp hòi, nên dễ dẫn đến si mê, chấp ngã mà sinh ra ghét bỏ, giận hờn. Khi tham muốn, thích thú một cái gì mà không được thỏa mãn thì sinh ra thèm khát; như chúng ta ham muốn khoái lạc với người khác phái nhưng không có đủ điều kiện để tác thành, ta ôm ấp, thèm khát mãi cho đến khi không làm chủ được bản thân, dễ dàng dẫn đến cuồng si, hành động trong mê muội. Cái gọi là nhu cầu trong cuộc sống nhưng bị cấm đoán lâu ngày thì sẽ hấp dẫn con người thèm khát lạ thường, nếu không biết cách hóa giải thì cuối cùng phá rào làm bậy.

Thế giới loài người chúng ta cứ loanh quanh, lẫn quẩn trong tình cảm thương yêu và ghét bỏ, tạo ra cảm xúc vui buồn, tốt xấu lẫn lộn. Nhất là các em trai tuổi từ 15 đến 18 trong giai đoạn chuyển biến tâm sinh lý để trở thành một người lớn, lúc này các em dễ dẫn đến tình trạng thủ dâm bởi cảm thọ khoái lạc; nếu không biết điều hòa chừng mực sẽ tạo ra cảm xúc ghiền, do đó dễ dẫn đến làm những điều bậy bạ. Nhiều em vì không đè nén được cảm xúc nên thủ dâm quá độ, đến khi lập gia đình bị giới hạn trong sinh hoạt tình dục làm cho người bạn đời dễ bị hụt hẫng, chới với trong quan hệ chăn gối ái ân. Trong tình cảm thường phát sinh ra hai trạng trái cảm thọ và cảm xúc. Vậy cảm thọ và cảm xúc khác nhau ra sao? Khi nghe một vị Pháp sư nói chuyện về cách thức chuyển hóa và làm mới lại chính mình, ta cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái như trút gánh nặng trên vai, đó là cảm thọ; nhưng khi hiểu được như vậy, ta bỗng dưng dâng trào nước mắt, hai hàng lệ rơi bởi sự xúc động mạnh mẽ; cảm xúc là trạng thái biến dạng từ sự rung động mãnh liệt của cảm thọ, nó được phát ra từ tình cảm của một con người. Trong cảm xúc cũng có hai loại tốt và xấu. Xấu thì bi quan, chán nản, mặc cảm tội lỗi, hờn giận, bất mãn, lo lắng, sợ hãi, ganh tị, tật đố, thèm khát, kiêu ngạo và phá bỏ. Tốt thì mừng vui, thương mến, yêu thích, nhiệt tình, cởi mở, vui vẻ, trong hoan hỷ. Những loại cảm xúc xấu làm cho ta bực bội, khó chịu trong người và bộc phát ra bên ngoài; như khi giận ai thì mặt đỏ bừng lên trong rất dữ tợn, khi lo sợ hay bất an một điều gì đó thì mặt mày tái mét và khi phiền muộn, khổ đau thì dáng điệu ủ rủ, tiều tụy như người khóc đưa tang mẹ. Mặc cảm tội lỗi về quá khứ năm xưa ta lỡ làm điều sai quấy rồi ăn năn, hối hận, day dứt mà không tháo gỡ được, lâu ngày trở thành nội kết để ta ôm mãi mối tơ lòng. Khi ta tức giận hay ghét bỏ một người mà không có cơ hội trả thù được, cái giận nó cứ âm ỉ, sôi sục mãi trong lòng ta lâu ngày, để rồi biến thành nội kết làm cho ta đau khổ tột cùng. Khi đã trở thành nội kết rồi thì dù có trải qua 10 năm hoặc 20 năm đi nữa, ta vẫn luôn bị nó dằn dặt mãi nên ôm vào nỗi khổ, niềm đau cho đến khi gần tắt thở, lìa đời mà tâm niệm chấp trước vẫn cứ sôi sục mãi trong lòng.

ÔM LUÔN NỘI KẾT VÀO LÒNG

Chúng tôi đã từng biết và mắt thấy tai nghe về một gia đình nọ. Người cha có một đứa con gái vì si mê tình ái nên bỏ nhà theo trai; giận quá nên ông cứ ôm ấp mãi nội kết vào lòng mà không tha thứ cho đứa con gái và vì sĩ diện làm cha nên ông cấm tuyệt không cho cô ta về nhà. Cho đến khi ông lên cơn bệnh nặng sắp chết, ông còn dặn kỹ bà vợ “nếu tôi có chết cũng không cho con Thắm về để tang”, nói xong ông tắt thở; nhưng mẹ cô ta thương con nên gọi về để tang cha, đứa con gái có mặt trước linh cửu của cha mình đốt nén tâm hương mong cha tha thứ, cảm thông cho lỗi lầm năm xưa, vì con trẻ còn quá dại khờ. Người cha đó mặc dù đã chết nhưng thần thức vẫn tức tối, bảo thủ nỗi oán giận đứa con mình nên ôm luôn nội kết phiền muộn, khổ đau mà ra đi không được. Đương lúc con cái trong gia đình khóc thương thì bỗng dưng một mùi xú uế hôi thúi xông lên nực nồng khó chịu làm cho cả nhà sống dở, chết dở vì cái mùi ấy. Mặc dù được các nhà đạo đến để tìm cách bít lấp chỗ xì đó nhưng không hiệu quả, khiến không khí tang chế trong gia đình trở nên ảm đạm hơn. Không ai dám tới để phúng điếu cùng chia sẻ với gia đình vì mùi xú uế ấy. Đây là một câu chuyện có thật trong cuộc đời, chính bản thân chúng tôi khi xưa đã từng ăn nhậu chung với ông ta. Ông ta thường trách móc về đứa con gái của mình trong lúc đang nhậu với chúng tôi. Chính vì ông không cảm thông và tha thứ cho đứa con nên ôm luôn cảm xúc phiền muộn vào lòng mãi. Từ cảm xúc giận dỗi, ông chấp trước bám vào đó lâu ngày trở thành nội kết, nó cứ sôi sục âm ỉ bên trong tạo ra vết thương lòng khó phai, nên đến khi chết rồi ông vẫn cứ ôm giữ chặt, do đó không siêu được. Lúc còn sống, ông thường nói với bà vợ rằng, “nếu sau này tôi có chết bà đừng cho con Thắm về để tang tôi, vì nó không phải là con của tôi, nếu bà không nghe lời, tôi sẽ xì cho cả nhà hôi thối cho mà coi”. Con người ta do bám víu, chấp trước vào cái thấy, nghe của mình nếu ai làm khác đi thì không đồng ý. Đứa con gái vì chút si mê tình ái do tuổi trẻ bồng bột mà bị người cha không nhìn nhận là con của mình. Ai trong cuộc đời không một lần lầm lỗi hay vấp ngã, không ai muốn điều đó. Vì vậy, bậc làm cha mẹ hãy nên sáng suốt bao dung, biết thương tưởng con cái còn nhỏ dại mà tha thứ lỗi lầm. Người cha đó vì sĩ diện với mọi người nên ôm hận vào lòng đến khi chết vẫn mang theo, do đó mà không siêu được.

Quả thật, ý thức con người thật là ghê gớm! Một ý niệm phiền muộn khởi lên nếu ta cứ ôm ấp mãi để rồi lâu ngày trở thành nội kết thì tâm niệm đó cứ theo ta suốt đời, suốt kiếp, nên thế giới này sở dĩ chiến tranh binh đao tàn sát, giết hại lẫn nhau không có ngày thôi dứt cũng chỉ vì ôm nội kết oan khiên vào lòng mà không buông xả được. Chúng ta tu là để chuyển hóa những cảm xúc xấu, không cho chúng biến thành nội kết. Nếu ta cứ để những tâm niệm ích kỷ, thù hằn trong lòng, thử hỏi làm sao không có án mạng xảy ra. Con người luôn sống trong cái vòng lẫn quẩn từ sự chấp ngã dẫn đến muốn chiếm hữu cho riêng mình, từ đó sinh ra bao điều tội lỗi do tâm chấp trước, bám víu vào “cái ta” ích kỷ này. Mỗi một con người đều có thói quen và quan niệm khác nhau tùy theo sự huân tập trong quá khứ hoặc hiện tại nên không ai giống ai. Nếu ta cứ chấp trước, bám víu vào đó, bắt buộc mọi người phải giống mình thì thật là một tai hại; nếu ai làm khác đi thì ta không bằng lòng và ôm vào một khối phiền muộn, khổ đau để mỗi ngày chúng hành hạ, dằn dặt chính ta mãi.

Nói tóm lại, khi ưa thích thì sinh luyến ái, muốn bảo vệ cho riêng mình nên tư tưởng chiếm hữu phát sinh và ta muốn nó mãi là của mình, ai chạm đến thì không được. Khi ghét ai thì bao nhiêu oan khiên, hận thù ta ôm mãi vào lòng, để rồi ta tự tạo cho mình gánh nặng khổ đau mà giết chết mình theo thời gian. Khi giận ai thì ta muốn trả thù, khi ghét ai thì ta muốn phá bỏ. Hai tâm niệm này làm cho ta sống trong hiềm hận, khổ đau. Ai khéo tu thì tìm cách chuyển hóa chúng, đừng để nó âm ỉ sôi sục mãi trong lòng. Nếu ta thường xuyên quán chiếu từng tâm niệm trong tỉnh giác, ta sẽ cảm nhận được sự bình an, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

CHA MẸ LÀ THẦY GIÁO ĐẦU TIÊN

Gia đình là tổ ấm làm nên chất liệu cuộc sống nếu cha mẹ biết quan tâm, lo lắng cho con cái đúng mức. Thường con cái bị hư hỏng là do ỷ lại sự nghiệp của cha mẹ và con cưng là con hư. Thật ra, chẳng có ai lo lắng cho ta hết cuộc đời này, dù cha mẹ rất nuông chiều ta nhưng đến một lúc nào đó, ta cũng phải đi bằng đôi chân của mình, vì có cha mẹ nào sống đời với ta đâu. Xưa có hai vợ chồng tiều phu già với đứa con trai duy nhất được mẹ cưng chiều quá đáng. Bà ta vì sợ con mình cực khổ nên không cho nó làm gì động đến móng tay. Biết mình không còn sống được bao lâu nữa, nên ông già bí mật cất giấu số tiền dành dụm bấy lâu nay vào một nơi kín đáo. Ông viết di chúc lại cho con rành rẽ, “nếu con làm được đồng tiền đầu tiên bằng chính mồ hôi, sức lực của mình thì …”. Chàng thanh niên rất muốn được lấy số tiền đó nhưng lại không chấp nhận lời đề nghị của cha. Mẹ cậu ta vì thương con nên đã lén bán đi một số tư trang của bà và đem đưa cho đứa con. Xưa nay, chúng ta thường nghe nói “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, quả thực là khá chính xác. Bà mẹ đó vì cưng chiều con quá đáng nên để con suốt ngày ngồi không hưởng thụ trong khi cha mẹ già còng lưng ra làm việc nuôi con; may nhờ có người cha kiên cường nên mới giúp đứa con thay đổi nhận thức và hành động tốt đẹp về sau.

Xưa nay cậu ta quen thói ăn không ngồi rồi nên khi cầm số tiền duy nhất của mẹ thì cậu thoải mái vui chơi, thong thả cho qua ngày tháng; đến khi số tiền chỉ còn một ít, cậu ta mới trở về nhà đưa cho cha rồi nói dối “đó là công sức của con làm mấy ngày hôm nay”. Người cha già dửng dưng, lạnh lùng cầm số tiền đó quăng hết xuống ao. Đứa con trai vẫn tỉnh bơ như không có chuyện gì xảy ra, bà mẹ nhìn thấy liền ôm mặt khóc vì tiếc của. Người cha nhắc lại lời di chúc ban đầu và đuổi đứa con ra khỏi nhà liền lập tức. Cậu con trai tiếp tục ra đi phương xa kiếm miếng ăn mà trong người không có một đồng xu dính túi. Cơn đói khát bắt đầu hoành hành, chàng đành phải năn nĩ người ta cho làm thuê, làm mướn, miễn sao có chén cơm sống qua ngày. Đồng tiền cậu làm được trong một ngày, ăn uống kham khổ, nhín nhúc bớt lắm mới dư được chút ít. Sau một thời gian làm lụng vất vả, dành dụm được ít tiền chàng mới trở về nhà thăm cha mẹ.

Cũng như lần trước, người cha cầm số tiền ít ỏi của con quăng hết xuống ao. Đứa con bây giờ có khác ngày trước, cậu ta xót xa thương tiếc tiền mình làm ra nên nhảy ùm xuống ao, xuýt chút nữa là mất mạng vì không biết lội. Trong khi đối diện với cái chết gần kề, người con bây giờ mới kính trọng và hiểu được tấm lòng cao quý của cha mình nhiều hơn. Đứa con tỏ ra ăn năn, hối hận trong lòng nên mới quỳ xuống lạy tạ sám hối, xin cha tha thứ lỗi lầm con trẻ dại khờ không biết công sinh thành dưỡng dục, mang nặng đẻ đau, làm lụng vất vả, nhọc nhằn mới nuôi con khôn lớn đến ngày nay. Người cha lúc này mới thật sự yên tâm và từ đó ông trao hết gia tài cho con. Đứa con bây giờ mới có nhận thức chín chắn về trách nhiệm và bổn phận của một con người đối với gia đình và xã hội.

SAI LẦM ĐÁNG TIẾC

Tôi và cậu con trai trong câu chuyện đồng thói quen ỷ lại vào cha mẹ và người khác. Cậu con trai đó nhờ sự giáo dục nghiêm khắc của người cha mà sau này trở thành một nhà doanh nghiệp thành đạt. Bây giờ người ấy luôn có mặt trên từng cây số để ủng hộ và giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh. Còn tôi bây giờ tuy được xuất gia tu hành, trên cầu thành Phật, dưới cứu độ chúng sinh, nhưng tôi chẳng khác nào cậu con trai năm xưa chỉ biết tham cầu lợi dưỡng cung kính, cúng dường. Thậm chí khi gia đình Phật tử có duyên sự cần thiết nhờ chư Tăng tụng niệm bái sám, nếu lỡ gia đình nào nghèo không cúng dường bao thư thì trong lòng tôi cảm thấy không vui, sau này nghe nói đến Phật tử đó thì tôi tìm cách lánh xa. Gia đình nào cúng dường hậu hỷ thì bản thân tôi tìm cách thân cận, khen ngợi, tâng bốc để được lòng thí chủ. Việc tôi tiếp khách Phật tử cũng lại như thế, ai có tiền bao thư thì tôi tiếp đãi long trọng như nhà riêng của mình, bất kể là làm ảnh hưởng chư Tăng đang sống chung với mình, miễn mình có tiền nhiều là được. Chính vì vậy, sau này các Phật tử đó coi thường quý thầy, lúc đầu họ đến vì Tam bảo, sau này họ đến vì tình cảm riêng tư làm xáo trộn Tăng chúng, và cuối cùng dẫn đến tình trạng giành giật “thầy đó là thầy của tôi, thầy kia là thầy bá vơ vất vưỡng”. Tôi tự cảm thấy xấu hổ và hối hận vì tôi tu là để được lợi dưỡng cho riêng mình và muốn người khác phải tôn sùng mình làm thầy thiên hạ. Quả thật, tôi không xứng đáng làm con nhà Thích tử chút nào, vì ở ngoài đời nhân loại không hiểu biết chân lý sống làm người nên mới đua chen, giành giật, giết hại lẫn nhau; còn tôi được thấm nhuần Phật pháp sau thời gian trượt dài trong đam mê tội lỗi và được Phật Pháp cứu vớt; ấy thế mà vẫn chứng nào tật nấy. Tuy bây giờ chứng tật có khác hơn so với lúc trước, nhưng tôi vẫn là con người tham lam, ích kỷ, đội lốt con lừa sư tử.

Hôm nay, nhân kể câu chuyện cậu con trai chỉ biết sống bám vào cha mẹ, chưa từng làm ra đồng tiền chính bằng mồ hôi nước mắt của mình nên không biết trân trọng, quý kính giá trị của nó; tôi có dịp nhìn nhận lại chính mình. Tôi xưa kia đã hơn nữa đời lầm lỡ vì quan niệm ấy, cho đến lúc được vào Thiền viện tu hành rồi mà bản ngã càng phình to hơn vì nghĩ mình là thầy thiên hạ. Cho đến bây giờ tôi chỉ hiểu biết suông, lý giải suông, nên nhiều khi đối diện với cuộc đời, nửa gió bát phong cũng không qua nổi, huống gì là “tám gió thổi chẳng động”. Tuy nhiên, hiểu được, biết được còn hơn, vì mình còn thấy được lỗi lầm, đã thấy được lỗi lầm thì còn có cơ hội ăn năn, sám hối; biết mình còn khiếm khuyết nhiều nên cố gắng, bền chí sửa sai nhằm chuyển hóa ba nghiệp tham-sân-si để vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời, nhờ vậy không bị chết chìm trong hang quỷ vô minh.

Nói đến đây, tôi mới nhớ lại một bài Kinh mà ngài A Nan thắc mắc hỏi Phật về một điềm chiêm bao kỳ lạ. Điềm ấy như sau, “có một cõi đó, chư Tăng toàn sống và làm việc dưới hầm, còn những người cư sĩ mặc tình ung dung đi lại tự do phía trên, không bị sự giới hạn, ngăn cách nào”. Thông thường, chư Tăng tu học là nhờ sự hộ trì cúng dường của Phật tử, nếu quý thầy thọ dụng của đàn na tín thí mà không chịu học hỏi tu hành, làm lợi ích cho tha nhân thì sẽ chịu nhân nào quả nấy tùy theo mức độ nặng, nhẹ. Phật dạy, nhân quả rất công bằng và bình đẳng, không thiên vị một ai. Làm tốt được hưởng phước, làm ác chịu khổ đau. Nếu ai có duyên thể nghiệm lời nói trên thì chắc chắn phải ưu tư, trăn trở về sự tu hành của mình để xứng đáng làm bậc mô phạm giúp mọi người chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc; hay chúng ta lại nghĩ rằng mình là ông thầy nên bắt buộc mọi người phải tôn trọng, cung kính?

Như ông già tiều phu kia do khéo biết dạy con một cách thật tài tình, nếu không phải vậy thì con người ta dù có sống đến 100 tuổi cũng chỉ làm thiệt hại cho bản thân, gia đình và xã hội. Thật may mắn là chúng ta còn có tính biết sáng suốt ngay nơi thân vật chất này, nương nơi mắt thì thấy nghe không lầm lẫn, thấy chỉ là thấy, tai mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế, nếu ai biết thể nhập thì một đời sẽ sống lợi ích cho tha nhân nhiều hơn là cho chính mình. Đồng tiền của chàng trai ấy tuy làm ra rất ít ỏi nhưng giá trị của nó quý hơn gấp trăm ngàn lần đồng tiền vô nghĩa, ăn bám vào người khác, dù đó là tiền cúng dường. Người sống ăn bám vào cha mẹ hoặc của người thân, hay thọ nhận của cúng dường quá đáng mà không biết tu hành cũng giống như cục đá mài dao càng ngày càng mòn cho đến lúc hết xài được, trong khi dao càng mài thì càng sắc bén, phục vụ, đáp ứng nhu cầu, đời sống cho con người. Nếu ai biết làm việc phước thì phước càng tăng trưởng nên thong dong, tự do đi trên cầu ngắm cảnh xem hoa, vui thích đó đây.

Thật ra, không có gì thiêng liêng và cao quý bằng tình cha mẹ. Khi chưa mở mắt chào đời, đứa con được nằm trong lòng người mẹ, hưởng trọn vẹn phút giây êm ả, ấm áp tình người; rồi từng giờ, từng ngày, mẹ mớm cho dòng sữa ngọt ngào; đến khi khôn lớn trưởng thành, mọi thứ, mọi cái đều có cha mẹ lo, con trẻ khỏi phải nhọc nhằn, lao khổ. Cho nên, Phật dạy “ơn cha, nghĩa mẹ khó đáp đền”; và chính ngài cũng thế, “sở dĩ ta tu hành thành Phật cũng nhờ công ơn cha mẹ, nếu không có mẹ sinh, cha nuôi dưỡng thì làm sao có thân này để ta tu tập mà thành Phật”. Do đó, hạnh hiếu là hạnh Phật, con hiếu là con Phật, và đạo Phật là đạo hiếu thảo nhất trên đời, vì dạy cho con người biết sống yêu thương bằng trái tim hiểu biết. Nuôi dạy con cái đúng cách là trách nhiệm của bậc làm cha mẹ nếu muốn con mình sau này khôn lớn, trưởng thành làm việc có ích cho gia đình và xã hội. Nhìn từ góc độ gia đình, cha mẹ là vị thầy giáo dục đầu tiên cho con trẻ. Dân gian ta có câu “cây còn nhỏ không uốn thì lớn dễ gãy cành”. Cho nên, bậc làm cha mẹ dạy cho con mình có nhận thức sáng suốt, sống không ỷ lại mà phải biết tự lập vươn lên; như con cái lỡ vấp ngã một lần thì ta có thể hỗ trợ cho chúng đứng dậy, nhưng đến những lần ngã khác ta phải chỉ cho chúng biết cách tự mình đứng dậy. Này các bạn trẻ, nếu chỉ biết ỷ lại hay phó mặc số phận, cuộc đời thì các em coi chừng rơi vào hố sâu của tội lỗi. Ai muốn hoàn thiện chính mình thì ngay khi còn trong mái ấm học đường hãy nên chuyên cần học hỏi, tự cố gắng sống không ỷ lại vào kẻ khác, tự mình thắp đuốc lên mà đi. Ai làm được như thế từ trong nhận thức cho đến hành động thì tương lai sẽ là người tốt trong hiện tại và mai sau.

SỐNG ĐỂ YÊU THƯƠNG

Gia đình lý tưởng là gia đình vợ chồng sống chung thủy, biết thương yêu, cảm thông và độ lượng. Cha mẹ có trách nhiệm đối với con cái, con cái biết hiếu kính cha mẹ và ông bà, tổ tiên. Tình thương chân thật là yếu tố hạnh phúc giúp cho mọi người sống có trách nhiệm với nhau. Muốn được như vậy, chúng ta phải gia công học hỏi, nghiên cứu, tìm tòi và chọn cho mình một nghề nghiệp chính đáng. Từ người đứng đầu một đất nước cho đến thứ dân bần cùng đều có việc làm khác nhau để hỗ trợ cho nhau trong cuộc sống tương quan này. Trong xã hội, nghề nghiệp và địa vị có thể khác nhau. Những người khéo biết sống sẽ chọn cho mình một nghề nghiệp chân chánh hay còn gọi là Chánh mạng. Dù ở địa vị hay hoàn cảnh nào, nếu chúng ta làm việc bất chánh sẽ đều đem đến phiền muộn, khổ đau cho nhiều người. Ngược lại, nếu chúng ta sống hiền lương đạo đức, không gian tham dối trá, sống thành thật với mọi người thì ta sẽ có đời sống an vui, hạnh phúc.

Có một gia đình mẹ là chủ một cửa hàng tạp hóa nhỏ, đứa con trai những khi rảnh rỗi thường ra cửa hàng chơi hoặc phụ giúp mẹ công việc lặt vặt. Ngày nào cũng vậy, cửa hàng có những hóa đơn thu và trả tiền thanh toán tại chỗ hoặc gửi qua đường bưu điện. Cậu con trai thường được mẹ giao hóa đơn đến bưu điện gởi đi. Công việc làm mỗi ngày đối với cậu đã trở thành quen thuộc. Một hôm, cậu ta tự suy nghĩ, “mình bây giờ là một nhà kinh doanh nhỏ có thể làm ra tiền rồi”. Nghĩ là làm, cậu ta bắt đầu viết những hóa đơn để tính tiền với mẹ mình:

Con phụ mẹ quét dọn hằng ngày 1 đồng.

Con chuyển hóa đơn dùm mẹ 2 đồng.

Con tưới vườn hoa dùm mẹ 2 đồng.

Con phụ mẹ dọn dẹp linh tinh 1 đồng.

Tổng cộng mẹ phải trả cho con là 6 đồng.

Chiều hôm đó, sau khi nhận hóa đơn của con, người mẹ âm thầm nhét sáu đồng và kèm theo một hóa đơn khác để trong tủ học của con mình. Tối hôm đó, cậu ta thấy sáu đồng tiền công mẹ trả và trong lòng khởi lên niềm vui vô hạn, nhưng phía dưới đồng tiền có kèm theo một hóa đơn, “con trai yêu quý, mẹ cần con thanh toán cho mẹ một số tiền như sau:

Chi phí mẹ nuôi con 12 năm trong ngôi nhà hạnh phúc là 0 đồng.

Chi phí ăn uống và học hành mẹ lo cho con trong 12 năm là 0 đồng.

Chi phí mẹ chăm sóc cho con mỗi khi ốm đau, bệnh hoạn là 0 đồng.

Từ khi con có mặt trong cuộc đời, con có được người mẹ hết lòng thương yêu chi phí là 0 đồng.

Tất cả các chi phí mẹ dành cho con trong 12 năm tổng cộng là 0 đồng.

Sau khi cầm tờ hóa đơn của mẹ, cậu con trai cứ đọc đi đọc lại nhiều lần mà những giọt lệ cứ lăn tròn trên hai má. Cậu ta cảm thấy hối hận và ăn năn vô cùng vì tình thương của mẹ dành cho mình không gì có thể so sánh được. Lòng mẹ bao la như biển thái bình dạt dào, tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào. Cậu ta đến hôn lên đôi má rám nắng của mẹ và nhẹ nhàng bỏ vào túi mẹ 6 đồng tiền công; còn tờ hóa đơn của mẹ cậu giữ lại để làm kỷ niệm. Này các em, các người trẻ tôi đã kể cho các em nghe một câu chuyện tình mẹ con đẹp như trong mơ, nhưng lại có thực. Nếu các em biết trân trọng và quý kính cha mẹ thì ngay khi các em còn học trên ghế nhà trường, các em phải cố gắng siêng năng tinh cần học cho tốt. Các em học tốt để làm gì? Để có hiểu biết và yêu thương trên tinh thần từ bi và trí tuệ. Ơn cha mẹ mang nặng đẻ đau, sinh thành dưỡng dục, không quản ngại gian nan, cực khổ để nuôi con khôn lớn từng ngày. Mẹ nuôi con như biển hồ lai láng nào có tính kể gì đâu, chỉ mong con trưởng thành theo năm tháng để sau này sống có ích cho gia đình và xã hội. Cậu bé kia chưa hiểu hết công ơn sâu dày của cha mẹ nên mới phụ mẹ chút đỉnh mà đã tính tiền công đủ thứ. Vậy ai nuôi em đến ngần ấy tuổi mà em khỏi phải lo lắng chút nào. Tất cả các thứ trong cuộc sống, em đều có cha mẹ lo hết; lúc em còn trong bụng mẹ, em đã từng làm vua con suốt 280 ngày, mọi cái đã có mẹ lo; đến khi em mở mắt chào đời cũng được mẹ mớm cho dòng sữa ngọt, được nâng niu, chiều chuộng đủ thứ để em mau biết lật, biết bò, rồi biết cất tiếng kêu “ba! mẹ!” và chập chững đi từng bước; lúc này thì mẹ lo nhiều hơn, mẹ sợ em té, em ngã; rồi một nắng hai sương em lớn lên đi trường học còn mẹ đi trường đời để em có đủ cái ăn, cái mặc. Vậy mà mẹ em có kể công, than vãn gì đâu. Em không thấy hóa đơn của mẹ đó sao? Không có gì để tính, chỉ có tấm lòng và tình thương của mẹ đã dành hết cho em. Em thật hạnh phúc được sống trong vòng tay âu yếm của mẹ. Trong khi đó, còn rất nhiều em sống không có cha mẹ đang bơ vơ, vất vưỡng đầu đường, xó chợ để kiếm từng miếng ăn qua sự bố thí của mọi người. Em hãy nên biết trân trọng và giữ gìn những gì mình đã có, luôn tìm cơ hội san sẽ bớt những nỗi buồn tủi cho những mảnh đời bất hạnh khác. Tôi và em, chúng ta cùng phát tâm làm nhé!

NHỮNG MẢNH ĐỜI ĐÁNG THƯƠNG

Dòng đời nghiệt ngã luôn cuốn trôi tất cả những gì thân thương nhất của một số người bất hạnh, không phải ai cũng có diễm phúc may mắn được cha mẹ thương yêu, bảo bọc và lo lắng.

Ta vẫn thấy con người bao thế hệ.

Giống như tằm làm kiếp để nhã tơ.

Dẫu cuộc đời vẫn đẹp như trong mơ.

Nhưng còn đó những mảnh đời bất hạnh.

Em được sinh để sống một kiếp người.

Mà sao đời không cho em sáng suốt.

Tại sao em mãi lang thang lạc loài.

Tuổi thơ em không một chút tình thương.

Em không được đến trường cùng bè bạn.

Để được sống làm người có hiểu biết.

Em tội gì để mất đi tuổi thơ.

Tôi và em cùng kết nối yêu thương.

Chân thành thay! Chân thành thay!

Chúng tôi có phúc duyên với người bất hạnh nên tháng nào cũng có những chuyến từ thiện, hoằng pháp kết hợp hài hòa về phương diện vật chất và tinh thần. Việc làm của chúng tôi mong muốn mọi người có đủ niềm tin trong cuộc sống, có hiểu biết chân chánh, có tình yêu thương nhân loại, có tin sâu nhân quả và tin có luân hồi tái sinh. Chết không phải là hết, nó chỉ thay hình đổi dạng tùy theo nghiệp nhân gieo tạo trong hiện tại mà cho ra kết quả tốt hay xấu. Đó là việc làm chủ yếu của chúng tôi cầu mong mọi người được sống bình an và hạnh phúc.

Một buổi chiều ngày nọ, tôi đang đạp xe tập thể dục hằng ngày, lúc này đường phố xe cộ qua lại tấp nập, bầu trời mây đen bắt đầu lan rộng nên mọi người ai cũng vội vàng, hối hả trở về nhà để tránh cơn mưa sắp đến. Từ phía trước xa xa, trước mắt tôi là một bé gái trạc chừng 10 tuổi đang đeo trên vai một cái bao, quần áo lấm lem, đầu không đội nón, chân không giày dép. Em vừa đi, vừa khóc mếu máu, khuôn mặt bơ phờ trông rất thảm thương. Thật là tội nghiệp! Tôi không cầm lòng được nên bước xuống xe, hỏi “vì sao con khóc, có chuyện gì đáng tiếc xảy ra cho con, thầy có thể giúp được gì cho con không?” Đứa bé ngước mắt nhìn tôi trong nghẹn ngào, xúc động nấc lên từng tiếng rồi òa khóc lớn. “Con có chuyện gì cứ nói cho thầy nghe đi”. Đứa bé lấy dạt áo lau nước mắt rồi nói, “dạ thưa thầy, từ tờ mờ sáng đến giờ con lụm ve chai bán được 20 ngàn, con bỏ tiền vào túi không ngờ túi bị rách, tiền rớt mất hồi nào con không hay, bây giờ con không dám về nhà nữa thầy ơi, vì không có tiền đem về con sẽ bị ba đánh!” Vậy  ba con làm gì mỗi ngày?” “dạ thưa thầy, ba con chẳng làm gì cả, suốt ngày ông ấy chỉ nhậu nhẹt, hễ bữa nào ba con say quá thì lôi con ra đánh và mắng nhiếc đủ điều”. Tôi động lòng trắc ẩn nên xém chút lệ rơi, nghe đứa bé nói mà lòng đau nhoi nhói. Tôi thấy đứa bé càng đáng thương hơn vì vào tuổi này em có tội tình gì mà phải chịu bất hạnh đến thế. “Vậy còn mẹ con đâu?” Nghe tôi hỏi thế đứa bé càng khóc lớn hơn, “dạ, mẹ con bị ba đánh hoài nên chịu không nỗi đã bỏ nhà ra đi không một lời từ giã” “Vậy con có được đi học không?” “Nhà con nghèo lắm thầy ơi, ba không có tiền uống rượu nên làm gì có tiền cho con đi học”. Nói đến đây, tôi đã biết được hoàn cảnh của đứa bé, quả thật đáng thương làm sao! Em có tội gì mà đời đã cướp mất đi tuổi thơ để em mãi lang thang, lạc loài trong vô vọng; để em không được cắp sách đến trường cùng bè bạn; để em mất đi sự hiểu biết và yêu thương. Tôi nhìn đứa bé với lứa tuổi còn ngây thơ và hồn nhiên, ấy thế mà đã phải chịu lắm gian truân trong cuộc đời. Và tôi càng thương tâm hơn khi đất nước ta còn quá nhiều các em như thế, có khi còn bất hạnh nhiều hơn đứa bé trên. Tôi rất cảm thương tình cảnh của bé gái nên móc trong túi ra cho em 100 ngàn. “Con hãy cầm số tiền này chia ra làm 5 phần, một phần đưa cho ba, số tiền còn lại con cất đó để phòng thân những ngày thiếu tiền mà có chỗ bù vào. Đây là số điện thoại của thầy, khi nào có việc con cứ nhắn tin cho thầy”. Đứa bé không thể tin vào mắt mình, em không ngờ khi gặp vận xui thì có quý nhơn giúp đỡ. Nét mặt em bây giờ lộ rõ sự vui mừng, em khoanh tay lại nói, “con xin cám ơn thầy!”, rồi em ung dung thẳng tiến để mau về nhà. Tôi đứng nhìn theo em mà trong lòng cứ vấn vương mãi. Tôi thầm nguyện cầu hồng ân Tam bảo luôn gia hộ cho các em lúc nào sống cũng có cha mẹ đầy đủ để các em có điều kiện đến trường như bao trẻ em khác.

Tôi tiếp tục ngồi trên xe đạp chạy trên đường. Trước mắt tôi, một ngôi nhà lầu khang trang, tráng lệ đang mở nhạc sập sình với những âm thanh hết sức thu hút. Lần này thì tôi nhìn thấy một cảnh tượng khác. Một người phụ nữ tay bưng chén cơm đang cho con ăn nhưng đứa bé cứ nũng nịu chẳng thèm ăn. Người phụ nữ ấy cứ năn nĩ và dỗ dành mãi mà đứa con vẫn cứ trơ trơ. Nó còn bĩu môi nói, “hôm nay con muốn ăn phở bắc Hà Nội à”. Hiện nay, thế giới nhân loại đã trên dưới 7 tỷ người, mỗi một ngày có 40 ngàn người chết đói. Cuộc sống hiện nay có rất nhiều trẻ em đang thiếu thốn vật chất lẫn tinh thần, đang khát khao tình thương nhân loại. Các em cần sự bảo bọc của quý ban chính quyền các cấp, các nhà mạnh thường quân cùng với tấm lòng nhân ái của tất cả mọi người, chúng ta hãy vì tương lai của các em. Hiện nay, nạn tham nhũng, lãng phí xa hoa số tiền lên đến hàng tỷ tỷ. Trong khi đó, các em vẫn thiếu thốn và khát khao tình thương nhân loại. Các em rất thèm muốn được sống thương yêu, trong vòng tay âu yếm của cha mẹ để được cắp sách đến trường mà học điều nhân nghĩa. Tôi bây giờ thương các em nhiều lắm nhưng lực bất tòng tâm, tôi chỉ có tấm lòng nhân ái và lúc nào cũng thầm nguyện cầu cho các em được sống đời an vui, hạnh phúc trong sự đùm bọc, yêu thương, giúp đỡ của mọi người.

MỘT VIỆC LÀM CÓ ÍCH

Nhân dịp mùa hè, có một gia đình gồm hai vợ chồng và hai đứa con nhỏ cùng đi nghỉ mát ở biển Vũng tàu. Bọn trẻ được dịp thích thú vui đùa trên biển cát. Từ phía xa xa, có một cụ già tay cầm chiếc bị cũ, dáng người nhỏ nhắn, tóc bạc trắng đang đi thẳng ra chỗ các trẻ nít vui đùa. Bà cụ mặt mày trông hốc hác, vừa đi vừa nhìn dáo dác như tìm kiếm vật gì, thỉnh thoảng bà cuối xuống nhặt cái gì đó bỏ vào túi. Cha mẹ hai bé sợ bà làm ảnh hưởng xấu đến con mình, nên cố ý gọi lớn tiếng kêu con hãy tránh xa chỗ bà cụ. Bà cụ không biết có nghe thấy gì không, cứ lặng lẽ nhìn những đứa trẻ một cách say mê. Miệng bà cười tươi nhìn trẻ nít vui đùa trông thật dễ thương, nhưng chẳng ai đoái hoài đến bà, chúng cứ làm ngơ nhìn về phía khác. Bà cứ thế lặng lẽ vừa đi vừa nhặt cái gì đó trên bãi biển một cách âm thầm. Hai vợ chồng cùng các con vào quán uống nước rồi mới hỏi thăm bà già kia làm gì, ở đâu. Chủ quán mới kể rằng, “xưa cháu của bà thường ra biển chơi, vô tình đạp đinh sét nên sau bị bệnh uốn ván mà chết. Kể từ đó, ngày nào bà cũng có mặt nơi bãi biển một vài lần để nhặt những thứ rác rưỡi chết người đó và thầm cầu nguyện cho các trẻ đến đây vui chơi thoải mái mà không bị cái gì làm trở ngại”. Việc làm của bà tuy nhỏ nhưng chứa đựng cả một tấm lòng từ bi cao cả, rộng lớn. Bà muốn mọi người đến đây đều được vui vẻ thoải mái để tận hưởng không khí trong lành của biển đẹp quê hương. Hai vợ chồng nghe xong vội tìm bà để nói lời xin lỗi về sự nghi ngờ của mình, nhưng bà đã đi xa để tiếp tục làm cái việc tầm thường đó. Ai có được người mẹ như thế và có được người bà như vậy thì thật may mắn và diễm phúc lắm. Việc làm ấy tuy đơn giản nhưng thấm đậm tình người. Trong xã hội, mỗi người đều có công ăn việc làm và chức nghiệp khác nhau, nếu ai cũng rộng lượng mở lòng một chút thì thế gian này sẽ là thiên đường của hạnh phúc, bởi ai cũng sống có yêu thương và hiểu biết thì làm gì có sự nghi ngờ và nghĩ xấu cho nhau.

BÁM VÍU ĐỂ LO TOAN                       

Đã làm người ai không có tình cảm và những mối quan hệ liên quan mật thiết với nhau, tình người, tình nhân loại, tình chúng sinh, tình cha mẹ, tình họ hàng thân thuộc, tình anh chị em chung huyết thống, tình bè bạn, tình đồng nghiệp, tình làng nghĩa xóm và cái tình đầu ấp tay gối vợ chồng… Có một loại tình cảm mà thế giới con người luôn đưa lên hàng đầu và được đề cập nhiều nhất qua các tác phẩm văn hóa nhân loại là tình yêu nam nữ. Tình cảm con người được biểu hiện qua các cảm xúc thân thương và ghét bỏ do mối quan hệ ta và của ta hay người và của người. Từ tình cảm đó phát sinh luyến ái yêu thích chấp giữ, bảo vệ, thành ra có thương yêu vị kỷ chỉ muốn riêng cho mình; ngược lại thì sinh ra oán ghét, hận thù, tìm cách làm tổn hại cho nhau. Tình yêu nam nữ thường được người đời tôn vinh và ca ngợi; nhưng bao học thuyết, bao nhiêu chủ thuyết, bao nhiêu tôn giáo đều chỉ ca ngợi không có gì đẹp bằng tình yêu chân thật vượt qua sự vị kỷ của tình yêu nam nữ. Trong tình yêu chân thật không có sự buồn thương, giận ghét, bất an, lo lắng và sợ hãi; vì đã vượt qua hai khái niệm thương và ghét.

Ngày xưa, có đôi nam nữ trai tài gái sắc thương yêu nhau rất mặn nồng, tha thiết. Cặp trai tài gái sắc này khó ai bì kịp, họ sống với nhau rất ư là hạnh phúc. Do quá xứng đôi vừa lứa nên suốt ngày họ chỉ say mê đắm đuối ngắm nhìn nhau mà không biết nhàm chán. Tưởng hạnh phúc như thế được dài lâu, nào ngờ tai họa bắt đầu giáng đến, cặp vợ chồng trẻ này không biết bị bệnh gì mà mắt hai người từ từ mờ dần và cuối cùng mù hẳn. Lúc này, chàng không nhìn thấy được nàng nữa và nàng cũng không còn được thấy chàng. Việc này khiến cả hai người đều đau thương, buồn tủi và hết sức là lo lắng. Vì sợ mất nhau nên người chồng tối ngày cứ suy nghĩ, “vợ ta dung nhan xinh đẹp kiều diễm đúng như một trang tuyệt sắc giai nhân, trên đời này khó có ai đẹp bằng nàng. Ta bây giờ bị mù lòa, không nhìn ngắm nàng được, nếu để cho người khác nhìn thấy nàng thì ta sẽ mất nàng trong chớp mắt”. Người chồng nghĩ vậy và người vợ cũng nghĩ như chồng, “chồng ta đẹp trai, khôi ngô, tuấn tú, mặc dù mắt bị mù nhưng hàng khối người phụ nữ khác vẫn bị chết mê, chết mệt khi nhìn thấy chàng. Vì vậy, ta dù có đui mù cũng phải canh chừng kẻo các nàng ấy cướp mất chàng của ta”. Chàng và nàng vì sợ mất nhau nên lúc nào cũng nắm tay nhau, đi cùng đi, ngồi cùng ngồi, nằm cùng nằm, thậm chí cho đến khi giải quyết việc riêng của mình thì hai người vẫn không rời xa nhau. Cứ như thế trải qua 20 năm, họ luôn sống gắn bó với nhau không rời nửa bước.

Con người ta xưa nay thường lầm chấp rằng cái gì cũng cố định, không có sự đổi thay, nên chúng ta cứ cố chấp bám víu vào đó để rồi nhìn đời bằng cặp kính màu đen. Chúng ta hy vọng nắm bắt, uốn nắn mọi việc nó theo ý mình nhưng có bao giờ được đâu. Thương thì sinh luyến ái muốn bảo vệ, chấp thủ cho riêng mình; ai chạm đến thì phát sinh phiền não vì sợ bị mất mát bị người khác chiếm đoạt. Thương yêu vốn là bản năng có sẵn nơi mỗi con người. Thế giới con người chúng ta mọi người đều sống cần có tình cảm và sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau; nếu không như vậy thì cuộc sống này trở nên vô nghĩa.

Trở lại câu chuyện ngụ ngôn trên, chúng ta thấy ai cũng muốn bám víu cái thân vô thường, sinh diệt này, cứ muốn làm sao cho thân này trẻ mãi không già. Đã làm người thì làm sao không yêu thương được; không nhớ, không thương thì cuộc sống này có ý nghĩa gì; nên người ta thường nói, “yêu là khổ, không yêu thì lỗ - Thà chịu khổ chứ không chịu lỗ”; nên hầu như ai cũng chấp nhận khổ để được yêu. Sống mà không có yêu thương thì cuộc đời trở nên vô nghĩa. Cho nên, ta cứ yêu và khi yêu trái tim ta màu xanh; nếu sợ khổ mà không kết tình yêu thương thì thế gian này cuộc sống đâu còn giá trị nữa, phải không các bạn? Ta cứ yêu và ta đã yêu, yêu nhau thật nhiều, nhờ thế ta sẽ thấy cuộc sống này trở nên có ý nghĩa và nhiệm mầu biết bao. Tình yêu thương chân thật là phương thuốc tâm linh mầu nhiệm chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau thành an lạc, hạnh phúc.

Tình cảm con người được biểu hiện qua các tâm lý cảm xúc hạnh phúc và khổ đau; bởi thương yêu và ghét bỏ, vui vẻ và phiền muộn, lo lắng và sợ hãi, ganh tị và tật đố, đều do sự tham muốn quá đáng dẫn đến chấp ngã, gây đau khổ cho nhau. Thực tế, chúng ta sống trên đời này là để được yêu thương và chia sẻ để được mở rộng tấm lòng nhân ái với tất cả mọi người; nhưng vì bị vô minh che lấp, nên tham-sân-si-phiền não nỗi lên làm che mờ tính giác thanh tịnh, sáng suốt của ta; do đó khổ đau bắt đầu có mặt. Để được thương yêu trong cuộc sống, chúng ta cần phải biết chia vui sớt khổ, cảm thông và tha thứ, luôn thương yêu, giúp đỡ mọi người mà không phân biệt người thân, kẻ lạ. Đó mới là tình người trong cuộc sống bằng trái tim thương yêu có hiểu biết.

Cuộc sống của chúng ta sở dĩ có nhiều khổ đau là do chúng ta không biết buông xả, cảm thông và tha thứ. Ta muốn người yêu phải theo sự sắp xếp của mình, nếu khác hơn thì ta sinh khổ đau, phiền muộn. Nếu như ý thì ta dính mắc vào đó để ôm trọn cuộc tình mà ta lầm tưởng nó đẹp như trong mơ; nhưng sự thực có đẹp mãi hay không? Cũng như hai người mù kia khi được một vị thần y chữa cho sáng mắt, họ thấy lại được như xưa nhưng đã đau khổ tột cùng khi phát giác ra người mình yêu không còn đẹp như trong mơ nữa. Mặc dù hơn 20 năm qua họ không bao giờ rời xa nhau nửa bước, họ luôn bám víu vào sự xinh đẹp, trẻ trung của nhau và nghĩ rằng nó sẽ mãi mãi như thế. Do đó, khi được sáng mắt, người chồng quá ngỡ ngàng lên tiếng trước tiên, “ôi, mụ già nào đây, vợ ta xưa nay rất xinh đẹp và dễ thương lắm mà!”; ngược lại, bà vợ cũng giãy nãy nói rằng, “cái lão già mắc dịch, ông đâu phải là chồng của ta. Chồng ta xưa nay đẹp trai, hào hoa phong nhã, ai thấy cũng muốn yêu chứ đâu có già khú đế như lão bây giờ”. Thế là hai người cự cãi với nhau, không ai đồng ý sự thay đổi quá nhanh chóng như vậy và họ không chấp nhận sự già nua của nhau đang phơi bày trước mắt mình. Do đó, họ chấp nhận chia tay đễ mỗi người ôm vào kỷ niệm quá khứ thần tiên của cái đẹp thời trẻ trung.

Khi xưa, có một chàng trai vì muốn tìm cầu chân lý nên đã thắc mắc với cha rằng “nếu cha giải đáp được yêu cầu của con thì cha bảo con làm gì con cũng sẽ làm mà không bao giờ cãi lại. Chàng thắc mắc, “cha hãy làm sao để con có thể trẻ mãi không già?”. Tâm lý con người ai cũng muốn mình trẻ đẹp mãi để được nhiều người yêu thương, nhưng thực tế rất phũ phàng, ai rồi cũng phải già-bệnh-chết. Cho nên ngày xưa, người ta hay luyện thuốc trường sinh bất tử để sống đời, nhưng có ai sống đời được đâu. Người cha nghe con hỏi vậy đành lắc đầu chịu thua, không biết phải trả lời bằng cách nào cho con hiểu. Con người thì phải sinh-già-bệnh-chết, còn các pháp thì sinh-trụ-dị-diệt, và thiên nhiên thì thành-trụ-hoại không. Từ con người cho đến muôn loài muôn vật đều chịu sự chi phối đổi thay của vô thường. Cho nên, người phụ nữ thường hay trang điểm, sửa sắc đẹp, làm duyên, làm dáng để mình được trẻ đẹp mãi; nhưng có ai trẻ mãi không già đâu. Nếu ta cứ bám víu vào nó thì cái khổ sẽ từ đó phát sinh.

Có hai vợ chồng già không có con nên mỗi ngày phải làm việc vất vả, nhọc nhằn. Một hôm, sau khi cuốc gần xong miếng đất để chuẩn bị gieo trồng hoa màu, vì tuổi già sức yếu nên ông chồng mệt mỏi, chán chường, đứng nhìn trời đất mà than thở rằng, “ước gì mình khỏe mạnh như thời trai tráng thì hay biết bao!”. Một vị thần nghe cụ than thở, động lòng thương xót nên hiện ra chỉ cho cụ cách thức để đạt nguyện ước của mình, “ông đi về hướng Tây cách đây 3 dặm thì sẽ thấy một dòng suối thần tiên. Ngày mai, ông xuống đó tắm sẽ được trẻ mãi không già y như mơ ước của mình”. Cụ già trong lòng mừng thầm vì từ nay về sau mình sẽ trẻ trung, mạnh khỏe, làm gì cũng thoải mái không sợ mệt nhọc nữa. Trời vừa tờ mờ sáng, ông vội vàng đi đến dòng suối kỳ diệu đó để thực hiện điều nguyện ước. Vừa ngâm mình dưới dòng suối, một sự thật không thể ngờ, ông cảm thấy sự linh nghiệm của nó như y như vị thần đã nói. Dòng nướt mát đã làm cho cụ trẻ dần trở lại từ 80 xuống đến 70, rồi từ 60 cho đến khi trở thành một chàng thanh niên khôi ngô, tuấn tú 24 tuổi. Bây giờ, hình bóng cụ già không còn nữa mà hiện tại là một chàng thanh niên trẻ trung, khỏe mạnh. Nhìn lại thân thể của mình, chàng trai ra vẻ hãnh diện, tự hào, “kể từ nay về sau, mình đủ sức dầm mưa dãi nắng mà không sợ mệt mỏi của tuổi già nữa”.

Chàng trai trẻ trở về nhà để chỉ dẫn cho bà vợ già biết cách làm trẻ lại như mình. Đến lượt bà cụ chống gậy đi ra dòng suối đó. Sự nhiệm mầu vẫn thế, bà từ bà già 70 lần lượt giảm dần cho đến khi còn 24. Đáng lẽ lúc này bà phải bước lên bờ, nhưng lòng tham không cho phép bà dừng lại ở đó. Bà tự nhũ thầm, “phụ nữ bao giờ cũng mau già hơn đàn ông, đây là dịp may hiếm có, ta phải tranh thủ tắm thêm một chút nữa thì có sao đâu.” Chàng trai trẻ đợi mãi không thấy vợ về nên nóng ruột đi tìm. Khi đến bên bờ suối, chàng nhìn dáo dác nhưng không thấy bóng dáng một người phụ nữ nào mà chỉ thấy một bé gái trạc chừng 3 tuổi đang đứng đó. Ai cũng muốn trẻ mãi không già mà không cần tìm hiểu nguyên nhân, nên lúc nào cũng sống trong mơ mộng hão huyền, tiếc nuối về quá khứ; đến khi tuổi già sức yếu mà không biết tu thân tích đức thì đau khổ vô cùng. Già thì mắt mờ, tai điếc, đi đứng khó khăn, lưng còng, gối mỏi; nếu không có con cháu nuôi dưỡng thì phải vất vả trăm bề.

Câu chuyện trên đã cho ta một bài học thiết thực trong cuộc đời, ta cứ mộng mơ trẻ mãi không già là điều không thể có được. Phật dạy, “tất cả mọi hiện tượng sự vật, trên thế gian này đều biến đổi theo thời gian, con người thì phải sinh-già-bệnh-chết”. Thế mà ta cứ muốn trẻ mãi không già nên sinh ra lo sợ, buồn khổ.

BẤT MÃN NHƯNG PHẢI TÙY DUYÊN

Xưa và nay, xã hội là một trường đời hỗn hợp luôn dung chứa những gì có được trong cuộc sống, cái ác lúc nào cũng nhiều hơn cái thiện nên dẫn đến nhiều bất công vô lý. Người tin theo thần quyền thì oán trách đấng tối cao sao quá thiên vị với một thiểu số con người. Người tin theo truyền thống cõi này là tạm bợ và có cõi khác là vĩnh hằng nên trước khi chết phải giết hết người thân và chôn theo tài sản để hưởng phúc lạc ở cõi đó. Người tà kiến không tin nhân quả công bằng nên mặc tình gây tạo tội lỗi, để rồi khi mất thân người phải đọa vào ác thú. Người chấp có linh hồn bất tử, nên khi có địa vị, quyền thế thì mặc tình bóc lột kẻ dưới để phục vụ cho riêng mình. Những kiến chấp như kẻ mạnh hiếp kẻ yếu, lớn hiếp nhỏ chỉ vì mục đích phục vụ cho “cái tôi” này. Nên xưa nay, người sống vì lợi ích chung rất hiếm, nhưng không phải là không có. Một người lãnh đạo đất nước nếu biết dùng tài năng đúng chỗ, biết sắp xếp mọi việc hợp lý theo khả năng của từng ban ngành, đoàn thể thì mọi người sẽ sống an vui, hạnh phúc. Cuộc sống này mỗi người đều có vị trí và chức năng khác nhau, phải nương vào nhau để bảo tồn cho nhau nên chúng ta phải có bổn phận và trách nhiệm thương yêu đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau.

Cuộc sống với biết bao thăng trầm được mất, nên hư, thành bại, người ý thức được nguyên lý nhân-duyên-quả là điều hiếm có. Cho nên, biết bao người phải chết trong cuồng si, mê muội vì không thấu rõ sự thật cuộc đời. Trong lịch sử nhân loại của Trung Quốc, có một vị tướng tài ba, lỗi lạc tên là Khuất Nguyên, ngài có nhiều dự án tiến bộ để cải cách nền văn hóa, giáo dục, pháp luật và các vấn đề chính trị. Ngài có tâm huyết muốn làm cho nước nhà được mở mang và phát triển một cách tốt đẹp, nhưng không được nhà vua chấp nhận bởi một số người dua dối, nịnh bợ ngăn cản. Khuất Nguyên vì nghĩ rằng việc làm của mình là chân chánh nhưng không được chấp nhận nên đâm ra phiền muộn, khổ đau, dẫn đến bực tức, bất mãn với triều đình; cuối cùng chịu không nổi, ngài từ bỏ quan quyền, không làm việc. Cuộc sống xã hội luôn tồn tại và phát triển theo lý nhân duyên-nhân quả, con người không thể muốn mọi vấn đề, sự việc diễn ra theo sự sắp xếp của mình. Ai suy nghĩ rằng mình là người tốt và có thể thay đổi được mọi sự việc theo sự hiểu biết của mình thì đó là một lầm lẫn rất lớn. Khuất Nguyên vì suy nghĩ rằng những kế sách của mình là đúng, là tốt, có thể giúp ích cho nhiều người, tại sao nhà vua không chấp nhận. Việc trái ý, nghịch lòng và thường xuyên xảy ra những điều bất như ý là chuyện thường xảy ra trong đời sống con người, ai khéo biết thì cuộc sống có phần an nhàn, tự tại. Khuất Nguyên là một kẻ sĩ nhưng không biết kiên nhẫn chờ đợi thời cơ, lại chấp trước quá nặng nề nên không làm chủ bản thân, dẫn đến ngông cuồng, thất tha, thất thiểu trong sự uất ức tột cùng. Ông ta rày đây mai đó như kẻ mất hồn trong trạng thái buồn chán, khổ đau. Trong lúc vật vờ, nửa tỉnh nửa say, ông gặp một lão chăn bò cũng là một triết gia ẩn dật lâu năm. Lão chăn bò hỏi ông, “có phải là ngài Tam Phu đại nhân không?” Ông ta gật đầu. “Vì cớ sao ngài tiều tụy thế này, vóc dáng y như người bệnh lâu, có phải ngài bất mãn một điều gì đó?” “Phải! Đời đục cả, chỉ một mình ta trong - Đời say cả, chỉ một mình ta tỉnh.” “Đời say sao ông không say với người, đời đục thì ông đục theo, cớ gì phải tỉnh khi người ta say?” Nói xong, lão chăn bò bồi thêm cho một bài triết lý về sự đời:

Sông Tương nước chảy trong veo,

Thì ta lội xuống rửa lèo mũ ta.

Sông Tương nước chảy đục ngầu,

Thì ta lội xuống rửa chân của mình.

Cuộc đời là vậy đó! Nước đục thì ta rửa chân, nước trong thì nấu cơm, giặt mũ. Sự vật ở mức độ nào thì ta tiếp ứng theo mức độ đó sẽ luôn thấy hài hòa, vui vẻ. Hoàn cảnh xã hội có nhiều người ý thức được trách nhiệm chung thì ta sẵn sàng dấn thân phục vụ để cùng nhau tiến bộ. Ngược lại, sự sống nếu không thuận buồm xuôi gió thì ta an nhẫn chờ thời, chớ một mình chống chọi dễ mang họa vào thân. Sau khi khuyên nhủ Khuất Nguyên xong, lão chăn bò bỏ đi nơi khác. Người có chí lớn khi được ai đó khuyên lơn liền thức tỉnh, thay đổi cách sống, nhưng Khuất Nguyên vì không còn thấy ai là người tốt cả, có sống cũng vô tích sự, nên ông đã trầm mình xuống sông mà chết. Hoàn cảnh môi trường nơi ta đang sống thường đem đến cho ta những điều không được hài lòng, như ý. Ta nên can đảm nhìn vào sự thật và chấp nhận nó như một thực tại. Ta chấp nhận nó không phải để đầu hàng, chịu thua mà bởi vì cuộc sống này ta phải khéo tùy duyên, tùy thời để có điều kiện đóng góp lợi ích thiết thực cho bản thân, gia đình và xã hội. Cuộc sống thế gian này là một chuỗi dài nhân duyên tốt và xấu, nếu ta không biết lạc quan nhìn đời với cặp mắt sáng suốt thì ta sẽ bị chôn vùi theo năm tháng. Nếu chúng ta biết nhận thức đúng đắn, suy xét mọi việc tường tận, sâu sắc và kiên nhẫn chờ đợi thì mọi việc tốt đẹp sẽ đến với ta trong nay mai.

Những điều trái ý, nghịch lòng, bất như ý luôn xảy ra trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Nó dễ làm cho con người buồn chán, bất mãn, tuyệt vọng. Nếu ta không khéo tu để chuyển hóa chúng thì ta sẽ rơi vào vòng si mê, điên dại. Bất mãn là thái độ không hài lòng, vừa ý trong hoàn cảnh hiện tại, do các tư tưởng và hành động xấu ác chiếm nhiều hơn. Người không có chiều sâu về tu tập hoặc quá cố chấp cái thấy, cái hiểu của mình nên muốn đưa ra ứng dụng mà không được mọi người chấp nhận sẽ dễ dẫn đến cuồng điên, dại dột. Khuất nguyên vì quá vội vã muốn đưa sáng kiến của mình để phục vụ nhân loại nhưng không được vua chấp nhận; thay vì an nhẫn chờ thời và cố gắng làm tròn trách nhiệm của mình, ông bất mãn không đúng chỗ nên thất vọng, khổ đau đến cùng cực. Quá vội vã sẽ đưa ta tới sai lầm nghiêm trọng. Sai lầm thì không an ổn, thất vọng thì không còn niềm tin để sống và khổ đau làm cho ta tiều tụy, héo mòn, bệnh hoạn và kết cục ta bị hủy diệt nhanh chóng. Chúng ta nên có tư duy sáng suốt, không vội vã, bất mãn mà cố gắng tìm cách thuyết phục bằng hành động thực tế. Buồn khổ, phiền muộn, bực tức hay ghét ai trong vội vã thì ta dễ bức xúc vì thấy ai cũng là người xấu, nên ôm hận thiên thu mà chịu chết một cách oan uổng và đáng tiếc.

Tại sao ta hay vội vã trong mọi công việc? Đi cũng vội vã, ngồi cũng lăng xăng, nằm cũng lật đật, ăn uống cũng vội vã cho qua mau để tranh thủ việc khác. Mạng sống của chúng ta dài hay ngắn, an hay không an đều tùy thuộc vào sự định tĩnh của ta. Mỗi ngày ta có 24 giờ, 8 giờ cho ngủ nghỉ, 8 giờ cho làm việc, 8 giờ còn lại cho ăn uống và hưởng thụ. Ta chỉ dành một giờ cho quán chiếu, chiêm nghiệm cuộc sống, hết lòng tận tụy trong mọi công việc thì ta sẽ biết được cái gì nên làm và cái gì không nên. Nhờ có quán chiếu hằng ngày như thế nên tâm ta có định tĩnh, có tĩnh lặng sâu, nên các dấy niệm bất mãn, hận thù không có cơ hội phát sinh và ta không bị áp lực của sân hận, do đó biết sống tùy duyên, tùy thời mà thân tâm ta không bệnh hoạn nên mạng sống lâu dài. Ngài Khuất Nguyên vì không biết sống tùy duyên, tùy thời mà cố chấp quá mức, nên thân tâm bị bốc lửa sân hận rồi đâm đầu xuống sông mà chết. Chết như vậy chẳng giúp ích gì được cho ai mà lại còn hại mình vì tâm niệm sân hận quá lớn, nên chắc chắn kiếp tái sinh tới sẽ bị đọa vào địa ngục, chịu nhiều đau khổ, cùng cực vì cái thấy sai lầm.

Chúng ta có quyền bất mãn nhưng không bi quan, yếm thế mà cần phải bền chí, kiên trì làm một việc gì đó thật sự có lợi lạc cho nhiều người. Thế gian là một trường đời ngang trái, thuận theo cũng chết, đi ngược lại cũng chết, chỉ có biết mới có thể tồn tại lâu dài. Do đó, ta phải biết chuyển hóa tâm niệm xấu bằng cách buông xả chúng, không nên để chúng âm ỉ sôi sục bên trong mà tạo ra nội kết chán chường, thất vọng. Cuộc đời không hoàn toàn buồn chán, khổ đau như nhiều người thường lầm tưởng. Chúng ta có thể nghe tiếng gió thổi, thông reo, tiếng chim kêu ríu rít như một bản nhạc lòng hòa cùng niềm vui của nhân loại, không nên quy kết cuộc đời là hoàn toàn đau khổ, vô tình dẫn ta đến chán nản, phiền muộn, khổ đau mà nguyền rủa cuộc đời sao quá bất công. Cuộc đời vẫn đẹp và trong sáng như những vì sao, chỉ có tâm ta vẩn đục làm lu mờ lý trí. Ai còn đang vướng mắc trong cái vòng lẩn quẩn ấy hãy nên sáng suốt vượt qua. Cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao dù đạn bom vẫn gầm thét trong trời đất bao la này. Có hiểu biết chân chánh, có niềm tin vững chắc, ta vẫn vui với dòng đời ngang trái mà không làm tổn hại cho ai.

NÓI XẤU NGƯỜI KHÁC

Con người là một loài vật cao cấp hơn hẳn các loài khác nhờ biết suy nghĩ, nói năng, rồi mới hành động. Nói là một khả năng đặc biệt của con người. Mọi việc vui buồn, sướng khổ đều phát xuất từ lời nói. Con người ta thương nhau, yêu nhau cũng từ lời nói và ghét nhau, hận thù nhau cũng từ lời nói. Cho nên có câu:

Lời nói không mất tiền mua,

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Tôi có khiếm khuyết là hay nói xấu người khác, hễ không vừa lòng chuyện gì là nói mạnh bạo chẳng biết nể sợ một ai dù đó là người ơn. Chính vì vậy, cuộc đời của tôi cũng trải qua nhiều biến cố thăng trầm, ba chìm bảy nổi chín cái lênh đênh. Ai cũng sĩ diện bản ngã của mình nên nói lỗi người khác dễ dẫn đến bất hòa, chia rẽ; nhưng không nói thì trở thành tín đồ cuồng si chỉ biết vâng theo mệnh lệnh của người có quyền lực; như thế vô tình đưa đẩy các sếp của mình trở thành những con người phong kiến cấp tiến. Ngày xưa, trong các thể chế phong kiến vua là con trời, mà trời là đấng tối cao có quyền ban phước, giáng họa, bề trên là tôn quý, bề dưới là phục tùng. Ngày nay, các tập tục đó đã từ từ được thay thế bởi chế độ chuyên chính dân chủ, chính con người làm chủ vận mệnh và cùng nhau kết hợp với nhiều người. Chế độ quân chủ phong kiến trên nền tảng cá nhân quyết định mọi quyền lực bằng sự độc đoán, độc tài khi con người còn mờ mịt trong hiểu biết. Người sau này khôn ngoan hơn, cũng chính sách phong kiến độc tôn nhưng được triển khai thành phong kiến cấp tiến để củng cố, duy trì địa vị của mình và được xây dựng trên nền tảng bản ngã nhiều người có quyền lực.

Ta hãy nói lỗi lầm của người khác trên tinh thần góp ý, xây dựng để cùng nhau dấn thân và phục vụ đời sống xã hội ngày càng tốt đẹp; không nên nói lỗi lầm ai đó để triệt buộc hoặc hạ bệ người nhằm trả thù cá nhân. Thông thường thì chúng ta hay ngồi lại với nhau để nói lỗi lầm của người khác, vì chúng ta nghĩ mình là người tốt còn người kia là người xấu. Có khi chúng ta nói xấu người khác vì ganh ghét họ, thấy họ hơn mình về địa vị và quyền lực. Khi chúng ta không làm chủ bản thân trong cơn tức giận, ta có thể nói xấu người khác. Đôi khi, chúng ta nói xấu người khác để lôi kéo mọi người về phe của mình.

Nói xấu người khác sẽ dẫn đến tai hại như thế nào? Chính khi đang nói, ta cảm thấy bực bội, tức tối và dường như chúng ta cũng bất an khi phanh phui lỗi của người. Khi chúng ta thấy lỗi lầm của người khác là chúng ta có thể bỏ mất cơ hội hiểu biết và thương yêu hơn. Một lời nói tốt đẹp có thể đem lại hòa bình cho nhân loại. Một lời nói thách thức có thể gây ra chiến tranh. Nói xấu kẻ khác có được lợi ích gì? Thường thì không được lợi ích gì cả mà chỉ khiến ta phải mang khẩu nghiệp. Khi nói xấu người thì bị người nói xấu lại, cũng có khi dẫn đến gây gổ, xích mích, hiềm thù nhau. Cho nên, chúng ta nguyện không nói lỗi lầm của người khác để khẩu nghiệp của ta được thanh tịnh, do đó ta có thời gian quán chiếu, soi sáng sự vật một cách tốt đẹp. Khi chúng ta tức giận ai, chúng ta dễ dàng nói xấu người đó để thuyết phục mọi người đứng về phía mình. Có khi, chúng ta nói xấu người vì ganh ghét, nói xấu người vì họ hơn mình, nói xấu người để hả cơn giận. Vậy ta nói xấu người khác để được lợi ích gì? Chắc chắn chúng ta sẽ mang lấy khổ đau; cũng giống như người đốt đuốc đi ngược chiều gió, người thì chưa nghe chưa biết nhưng ta đã bốc lửa sân si. Khi nói xấu người khác chính bản thân ta đã phải chịu bất an, vì khi nói xấu ai tức có sự nóng giận nên ta cảm thấy mình là kẻ khổ trước tiên.

Để đối trị bệnh nói xấu người khác, ta hãy nhìn thấy cái hay của họ. Nếu ta để ý điều tốt của họ thì ta sẽ không thấy lỗi lầm, vì ta thấy việc tốt nên sinh tâm hoan hỷ. Có nhiều người chỉ thích nói sự thật chứ không thích nói để được lòng thiên hạ, họ tôn trọng cái thực nên lúc nào cũng thẳng ruột nói đúng mục đích; do đó bị nhiều người tỵ hiềm, ganh ghét, chờ thời cơ trả thù. Ai cũng biết rằng, nói sự thật là quý giá nhất trên đời, nhưng “thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”. Khó có ai đủ can đảm nhìn nhận sự thật, vì sự thật lúc nào cũng phũ phàng. Nhất là nói sự thật với những người có quyền thế thì dễ bị mang họa vào thân, vì người có quyền thì sĩ diện bản ngã lớn hơn ông trời con. Nói sự thật là một điều tốt nhưng vẫn còn tùy thuận vào môi trường sống của chúng ta. Nếu chúng ta cứ một bề chấp chặt vào sự thật, e có ngày ta sẽ gặp hiểm nguy vì kẻ tiểu nhân sẵn sàng chống trả quyết liệt bằng mọi cách. Như thế, dù nói sự thật cũng chưa hẳn là giải pháp tốt để giúp mọi người thăng hoa trong cuộc sống; nhưng nếu nói sự thật để bảo vệ chân lý vì sự sống còn của nhân loại, vì lợi ích cho nhiều người thì dù có chết ta vẫn phải nói. Nói để làm gì? Nói để đem lại công bằng cho nhân loại; nhưng nếu nói sự thật làm cho đối phương không còn cơ hội để được sống yêu thương và tác hại lớn đến cộng đồng, xã hội thì ta phải khéo léo che giấu bớt.

Tóm lại, nói xấu người khác là căn bệnh trầm kha của đa số con người, là thói quen thâm căn cố đế do chấp ngã gây ra. Trong lúc nóng giận dễ phát sinh những lời nói xấu người khác, hoặc thấy ta đúng người sai nên hay nói xấu người khác, hoặc ta muốn hạ bệ người để tranh giành quyền lực nên nói xấu kẻ khác để kéo họ về phe ta. Trong sự tương quan giao tiếp hằng ngày, mọi sự xích mích, bất hòa đều bắt nguồn từ việc nghĩ xấu và nói xấu người khác. Khi nói xấu người khác, tức tâm ta có sân hận, bực tức, khó chịu. Ta đang làm tổn thương mình và người. Vì sao? Vì mình đang đưa khối u ung nhọt vào trong lòng mình nên lúc nào nghĩ tới người đó là ta khổ não. Ta tự giết chết chính mình trong lần mòn đau khổ, bởi khi nghĩ xấu và nói xấu người khác tâm ta bị vẩn đục và gây thêm nghiệp ân oán, thù hằn. Muốn không nói xấu người khác ta phải tập đừng nhìn thấy lỗi người, vì khi thấy lỗi người ta dễ dàng bị kích thích tác động bởi thói quen nhiều đời tranh hơn, tranh thua; nếu hơn thì sinh ngã mạn, còn thua thì sinh oán hờn, tìm cách nói lỗi của nhau. Không nghĩ xấu và nói xấu người là một hạnh tu rất khó làm, không phải một sớm một chiều mà chúng ta có thể thành tựu.

Nói là một khả năng đặc biệt của con người, là phương tiện truyền thông hữu hiệu nhất để chúng ta tiếp nhận những giá trị sống bằng sự yêu thương hay ghét bỏ. Lời nói rất lợi hại trong khi giao tiếp với mọi người, một lời nói tốt có thể đem lại thiện cảm cho nhau và ngược lại sinh ra hận thù. Nghĩ xấu người khác chỉ làm cho tâm ta tổn thương, còn nói xấu người khác làm cho hai người đều tổn thương. Nhưng ngược đời thay, có những kẻ phải nói mạnh như thế họ mới chịu sửa sai, còn dùng lời nói ái ngữ đối với họ chẳng hiệu quả gì. Quả thật, tâm tính chúng sinh do tạo nghiệp bất đồng nên chẳng ai giống ai, cũng lời nói đó đem áp dụng với người này thì có hiệu quả tốt, nhưng đem áp dụng với người kia thì đổ vỡ. Chúng ta có tật hay nói, thích nói, hễ ngồi lại cùng nhau là nói chuyện phải quấy, tốt xấu, hơn thua, chê bai người này, chỉ trích người kia. Để chuyển hóa nghiệp nói xấu người khác, đầu tiên chúng ta tập ý không nghĩ xấu người khác, ý đã không nghĩ xấu thì miệng không bao giờ nói xấu. Muốn vậy, ta phải học hạnh lắng nghe của Bồ tát Quán Thế Âm, luôn lắng nghe tiếng nói của tha nhân, lắng nghe tâm tư của mọi người để trải lòng bao dung đến thiên hạ; hoặc ta học hạnh lễ xá của Bồ tát Thường Bất Khinh, luôn thấp mình khiêm cung lễ xá mọi người và thấy ai cũng là Phật hết. Ngoài việc thực tập các công hạnh của Bồ tát, chúng ta còn học hạnh tùy hỷ khen tặng người khác. Đa số chúng sinh thích chê hơn thích khen. Khi thấy ai làm một điều xấu gì đó thì ta phải quán tha thứ, vì họ bị vô minh che lấp, họ đáng thương hơn đang ghét, nên ta không nói xấu họ. Khi thấy ai làm một điều tốt, ta nên khen ngợi để khích lệ họ, ta và người cùng vui vẻ với nhau để được sống có hiểu biết và yêu thương.

 

GIÁ TRỊ CỦA THÀNH THẬT

Thuở xưa, có một vị vua sống rất nhân từ và đức độ, giúp dân chúng an cư, lạc nghiệp trên tinh thần đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau bằng tình người trong cuộc sống; nhưng ông không có con trai mà chỉ có đứa con gái duy nhất. Vua và hoàng hậu cùng bàn nhau để kén chọn hoàng tử kế thừa ngôi vị mai sau. Để kén chọn được một vị hoàng tử tài đức vẹn toàn, nhà vua cho truyền lệnh khắp tất cả đất nước ai là con trai hãy đến cung điện để chuẩn bị cuộc thi có một không hai từ trước tới nay. Cuộc thi này rất khác lạ và có vẻ đòi hỏi một nhân cách siêu việt của con người tâm linh. Mỗi chàng trai đều được nhận một gói hạt giống hoa như nhau đem về ươm mầm, người trồng cây hoa đẹp nhất sẽ được chọn làm hoàng tử và được kết hôn cùng công chúa với thời hạn ba tháng. Các chàng trai ai nấy đều vui vẻ, phấn khởi vì việc kén chọn hoàng tử quá đơn giản, chỉ chịu khó chăm sóc một chậu hoa thật đẹp sẽ được cưới nàng công chúa xinh đẹp, kiều diễm và sở hữu cả giang sơn gấm vóc.

Đến kỳ hạn, mỗi chàng trai đều đem đến những chậu hoa thật xinh đẹp, không thể chê vào đâu được. Người đến xem ai cũng trầm trồ khen ngợi những chậu hoa đẹp tuyệt vời ít thấy xưa nay. Vậy mà nhà vua và hoàng hậu vẫn không hài lòng và như còn đang chờ đợi một điều gì khác. Các chàng trai đều rất hồi hộp và nao nức chờ đợi kết quả, ai cũng có vẻ mặt hết sức hân hoan. Bỗng có một chú bé vừa khóc, vừa mếu rất thảm thương ôm chậu đất không chạy vào. Vua mới hỏi, “vì sao con lại khóc?” Chú bé thật thà thưa, “tháng trước con nhận được gói hạt giống hoa, con đem về và mua chậu đẹp, đất tốt, bón phân đầy đủ, chăm sóc hết sức kỹ lưỡng và chu đáo, vậy mà không có một cây hoa nào mọc lên. Hu! Hu!” Vua và hoàng hậu bấy giờ mới cảm thấy hài lòng vì đã tìm ra vị hoàng tử tương lai. Vua dẫn chú bé ra trước mặt mọi người tuyên bố “đây mới chính là hoàng tử của ta”, làm cho tất cả mọi người cảm thấy khó chịu, bức xúc trước lời tuyên bố đó. Trước những lời xôn xao bàn tán, nhà vua từ tốn nói, “chú bé này xứng đáng là hoàng tử của ta. Vì sao? Vì chú bé này rất thành thật, ta đang cần một con người như thế. Hạt giống mà ta trao cho các ngươi đã bị luộc chín nên không thể nào lên được”. Các chàng trai nghe nhà vua nói như thế thì tự nhìn lại nhau và đồng nói lên, “quả thật, tất cả chúng con đều gian dối; vì sợ không có chậu hoa đẹp nên chúng con đã mua cây hoa khác thế vào”. Cuộc thi đã chấm dứt, chú bé được chọn làm hoàng tử.

Thành thật có nghĩa là không dối gian. Thành thật là một đóa hoa thơm của đạo đức, là bản chất tốt của bậc hiền Thánh. Người thiếu thành thật là người hay dối gạt kẻ khác. Tại sao mọi người hay gian dối? Khi gian dối như thế chúng ta sẽ được gì! Tuy có thể ta được lợi trước mắt, nhưng lại gây hại lâu dài cho mình và người mai sau. Câu chuyện trên đã cho ta một bài học đạo lý hết sức đơn giản nhưng giá trị của nó không thể nghĩ bàn. Ở đời, ít ai can đảm dám nhận chịu sự thật và nói lên sự thật. Do đó, ta chỉ sống với nhau toàn bằng những hình thức giả dối bên ngoài để được lòng nhau. Sự tiến bộ của tiện nghi, văn minh vật chất làm cho con người càng ngày càng nghiêng về hưởng thụ nhiều hơn. Vì muốn mọi người chung quanh cung kính và ngưỡng mộ mình, ít ai ý thức giữ được lòng thành thật. Đó là một sự thật quá đau buồn của thế nhân trong cuộc sống hiện tại, mặc dù ai cũng biết  thành thật là một đức tính tốt. Từ người thân trong gia đình cho đến mọi người trong xã hội, ai cũng muốn người khác thành thật với mình, nhưng thực tế đã cho chúng ta thấy, hầu như mọi người đều sống giả dối với nhau nhiều hơn. Do đó, dân gian có câu châm biếm, mỉa mai:

Lèo lách, lừa lọc lẹ lên lương,

Thật thà, thành thật thường thua thiệt.

Người sống thành thật rất bị nhiều người ghét bỏ và kẻ xấu có thể lợi dụng để hãm hại. Tuy nhiên, người có tấm lòng từ bi rộng lớn và vị tha thì lúc nào cũng thành thật. Chúng ta không vì thế mà trở nên điêu ngoa, xảo trá vì sợ những tổn thất nho nhỏ vì quyền lợi mà bỏ đi tấm lòng thành thật của mình. Tiền bạc, lợi dưỡng mất đi chúng ta có thể làm kiếm lại, một khi lòng thành thật mất đi chúng ta sẽ trở thành một con người không có nhân cách đạo đức tốt. Người có nhân cách đạo đức thì luôn được hưởng những đặc ân tốt đẹp dù kẻ xấu có muốn hãm hại cũng không làm gì được. Chúng ta có thể qua mắt được pháp luật, dối gạt mọi người, nhưng không thể dối gạt chính mình; và luật nhân quả rất công bằng, sòng phẳng khi hội đủ nhân duyên. Ngày nay, trong xu hướng thời đại phát triển, con người mỗi lúc mỗi đông nên nhu cầu sự sống càng nhiều. Các nhà kinh doanh dựa theo lòng tham của con người để quảng cáo sai sự thật về sản phẩm của mình nhằm lừa bịp khách hàng. Cho nên, dân gian có câu “mua lầm chớ không bán lầm”.

Một số người tu vì muốn người khác cung kính mình để được nhiều lợi dưỡng, tiếng tăm nên chưa chứng đạo lại dối xưng mình đắc đạo. Vì lợi dưỡng cho chính mình mà chúng ta lạm dụng nói dối, trong nhà Phật gọi là đại vọng ngữ. Ai phạm vào tội này quả báo về sau rất nặng nề vì đã lạm dụng sự cung kính, lợi dưỡng của nhiều người. Chúng ta có thể lừa dối một người hoặc nhiều người trong một thời gian nào đó chứ không thể lừa dối mọi người mãi mãi. Sự thật vẫn là sự thật, một lúc nào đó sức mạnh của chân lý sẽ được phơi bày.

Vậy vì sao con người ta hay gian dối; nói dối như vậy có mục đích gì? Phần lớn con người ta nói dối có hai mục đích: nói dối để đem lại lợi ích cho mình, nói dối để vu khống hại người. Thông thường, người tu nói dối để được sự cung kính và lợi dưỡng, hoặc nói dối để che đậy lỗi lầm của mình. Có năm vị Tỳ kheo vì muốn mọi người cúng dường nhiều nên đã nói dối mình đắc đạo, do đó sau khi chết bị đọa vào ác đạo vô số kiếp để trả quả. Đến khi được làm người thì làm người hèn hạ, thấp kém. Hoàng hậu Mạc Lợi sau khi đảnh lễ đức Thế tôn và cung kính cúng dường xong mới ngồi sang một bên hỏi rằng, “thưa Thế tôn, con nhiều đời do gieo nhân gì mà hiện tại được làm hoàng hậu?” Phật mới nói, “ở nhiều kiếp lâu xa, do hoàng hậu là một Phật tử thuần thành đã cung kính cúng dường năm vị Tỳ kheo, năm người này đã nói dối mình đắc đạo nhưng lại không tu hành gì hết, chỉ thọ hưởng cúng dường cho qua ngày tháng; đến khi chết vô số kiếp bị đọa vào ba đường ác để chịu quả khổ đau. Trong đời hiện tại được sinh trở lại làm người nô lệ hạ tiện và trở lại phục dịch cho hoàng hậu”. Nghe đến đây, hoàng hậu hoảng hốt mới hỏi đức Phật, “vậy năm thầy đó đang làm gì cho con thưa Thế tôn?” Đức Phật mới từ tốn trả lời, “bốn người khiêng kiệu và một người dọn dẹp, chà rửa nhà vệ sinh”. Hoàng hậu sau khi biết được nguyên nhân đã tuyên bố phóng thích năm người đó, nhưng năm người này vì duyên nợ năm xưa chưa hết nên xin bà tiếp tục làm công việc đó vô điều kiện. Câu chuyện này là một bằng chứng thiết thực để cảnh tỉnh những người tu hành như chúng ta hiện nay. Chúng ta là người đang hướng dẫn sự thật của chân lý cuộc đời, kêu gọi và khuyên nhủ mọi người hay nên sống thành thật, tức không dối gạt người khác. Một sự bất tín, vạn sự bất tin. Một lần nói dối đã làm cho mình mất uy tín thì một vạn lần sau dù chúng ta có nói đúng, làm đúng nhưng khó có ai tin.

Tuy nhiên, có những chuyện ta cần phải nói dối để cứu người tai qua nạn khỏi, vì nói sự thật có thể làm hại cho kẻ khác. Ngày nay, vì nhu cầu sự sống, các dịch dụ quảng cáo thường nói sai sự thật để kích thích lòng tham của nhân loại. Con người ta vì tham tốt, tham rẻ nên bị sụp bẫy các nhà kinh doanh. Tán tận lương tâm hơn, vì lợi dưỡng mà một số người đã dùng hóa chất độc hại để đưa vào thức ăn, thực phẩm cho con người bất chấp hậu quả bệnh hoạn, chết chóc về sau. Nhan nhãn mỗi ngày, báo chí thường đăng tin ngộ độc thức ăn tập thể do lòng tham con người quá đáng, chỉ biết lợi nhuận trước mắt mà không biết hậu quả về sau. Vậy mỗi người chúng ta hãy nên thành thật như chú bé ôm chậu đất không mà được làm hoàng tử. Sau đây là bốn trường hợp nói thật và nói dối, chúng ta phải xem xét từng nguyên nhân để không làm tổn hại cho tha nhân.

Nói sự thật đem lại lợi ích cho người nghe: Trường hợp này ta nói sự thật để đem lại lợi ích cho người nghe, như chúng ta nói về sự công bằng của luật nhân quả và lý duyên sinh, nói cho đủ là nhân-duyên-quả; ai gieo nhân gì sẽ gặt quả đó, dù trăm kiếp ngàn đời vẫn không mất, khi hội đủ nhân duyên quả báo hoàn tự hiện. Chỉ có người làm việc đại thiện hoặc đại ác thì quả báo mới có thể thay đổi theo chiều hướng khác. Người hay giết hại thì chịu quả báo bị giết hại trở lại, bị chết yểu hoặc bị bệnh tật triền miên. Người hay bố thí thì được quả báo giàu sang, có nhiều của cải. Người hay khiêm hạ thì sẽ được địa vị cao, quyền chức lớn. Người hay siêng năng học hỏi sẽ được thông minh, sáng suốt. Người sống vô ngã, vị tha, sống vì mọi người thì sẽ được đạo đức chói sáng như hương thơm bay ngược chiều gió vậy.

Nói sự thật đem đến tác hại cho người nghe: Trường hợp này là ta nói sự thật có thể đem đến tác hại cho người nghe, nhiều khi còn gây ra hậu quả không thể lường. Trong nhà Phật có một câu chuyện về vị Tỳ kheo nguyện chịu đánh đập tàn nhẫn để giữ tính mạng cho con ngỗng đã lỡ nuốt mất viên kim cương của vị gia chủ nơi ông đến khất thực mỗi ngày. Vì bị nghi ngờ là kẻ cắp chiếc nhẫn kim cương, ông bị chủ nhà đánh đập rất tàn nhẫn. Trên đời này có rất nhiều người khi đã ý thức được lợi ích của lời nói chân thật sẽ dứt khoát không bao giờ nói dối và cũng không bao giờ nói lên sự thật để hại người, hại vật. Đó là hạnh chân thật của những vị Bồ tát phát tâm đi vào đời vì lợi ích chúng sinh. Vị tỳ kheo vì thương chúng sinh nên không dám nói sự thật, chấp nhận bị gia chủ đánh đập thê thảm, thân đầy thương tích. Đến khi con ngỗng vô tình bị con trâu điên đạp lên mình chết liền tại chỗ, vị tỳ kheo mới nói ra sự thật. Gia đình liền cho người mổ con ngỗng và lấy lại được viên kim cương. Sau đó, cả gia đình đều quỳ xuống lễ lạy để tạ lỗi sám hối, mong vị tỳ kheo tha thứ. Câu chuyện này nếu nói về lý rốt ráo thì vị tỳ kheo đã tu theo hạnh nhẫn nhục Ba la mật, nên chấp nhận chịu đau thương về phần mình, thà mình chịu hy sinh thiệt thòi chớ không để kẻ khác đau khổ; nếu nói về tình người, vị tỳ kheo khi thấy con ngỗng nuốt chiếc nhẫn và báo với chủ nhà biết thì mọi việc sẽ êm đẹp, vì phước của loài vật kém hơn con người. Viên kim cương lại là của nhà vua gửi để làm nhẫn, nếu thật sự bị kẻ gian lấy đi thì gia đình nọ sẽ chịu họa thê thảm biết chừng nào. Trong cơn khủng hoảng, lo sợ, thử hỏi làm sao họ không tàn nhẫn với vị tỳ kheo vì trong nhà lúc đó chỉ có vị tỳ kheo nên ngài không lấy thì ai lấy. May mà sự việc đã được sáng tỏ, con ngỗng bị trâu dẫm chết, nếu không thì hậu quả sẽ ra sao?

Chúng ta giả sử, nếu con ngỗng không bị chết đột ngột như vậy thì chuyện gì sẽ xảy ra. Vị tỳ kheo sẽ bị bắt đưa lên vua xét xử, nếu đặt ta vào trường hợp đó thì mình sẽ chỉ ngay con ngỗng là thủ phạm, coi như mọi việc sẽ êm xuôi. Đằng này, vị tỳ kheo biết con ngỗng như vậy nhưng tại sao ngài vẫn lặng thinh để bị đánh đập không một lời than oán. Đây là công hạnh cuối cùng của Bồ tát. Các vị an nhẫn, chấp nhận mọi thống khổ thế cho chúng sinh; nếu nói sự thật con ngỗng sẽ bị giết và ngài sẽ không thành tựu hạnh nhẫn nhục Ba la mật. Câu chuyện trên dường như thấy hoang đường khiến người đọc khó chấp nhận vì nó ngoài sự hiểu biết của mình; chỉ có các bậc đại Bồ tát với Bồ tát mới thông hiểu được chỗ này. Đa số người thế gian cho đó là phi lý. Con ngỗng nuốt chiếc nhẫn thì cứ nói nó nuốt chiếc nhẫn, có làm sao đâu? Thôi thì chỗ này mỗi người tự quán chiếu, suy tư thì sẽ thấy được giá trị thiết thực của nó.

Nói dối đem lại lợi ích cho người nghe - Nói dối đem đến tai hại cho người nghe (hoặc hại mình): Hai trường hợp nói dối để đem lại lợi ích cho người nghe và ngược lại nói dối sẽ đem lại tai hại cho người nghe cũng như việc chúng ta thấy một người cầm dao đang tìm người để giết. Nếu ta nói sự thật thì việc gì sẽ xảy ra? Tất nhiên, án mạng sẽ xảy ra, nhẹ lắm cũng có kẻ tù, người tội. Cho nên, nói đúng sự thật cũng chưa hẳn là tốt. Chúng ta phải biết tùy thời, tùy duyên, nói làm sao để đem lại lợi ích cho nhiều người.

KHIÊM TỐN ĐỂ TRƯỞNG THÀNH

Người khiêm tốn là người có lễ nghĩa, biết kính trên nhường dưới, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, luôn thấp mình đối với mọi người. Tại sao trăm sông đều chảy về biển cả? Vì biển thấp, sông cao, nên nước các sông phải đổ về biển. Tâm khiêm tốn cũng giống như biển cả bao la thấp mình chờ đợi, khiến trăm sông cao vót đem nước về biển cả mênh mông.

Có một loài hoa không tên lại hay mọc những nơi râm mát, thường ẩn mình trong chỗ không có gió, thân cây ngoằn ngoèo, đầu hơi chúi xuống vì hình như không muốn mọi người biết đến. Tuy nhiên, đó lại một loài hoa rất đẹp với hương thơm ngào ngạt, hấp dẫn lạ thường. Đây là một loại hoa hiếm thấy ở đời, có nét đẹp khiêm tốn, giản dị nhưng hoa nở rất rộ. Các loài hoa khác thường tranh nhau vươn mình ra ánh sáng để khoe sắc đẹp, hương thơm của mình; ngược lại, loài hoa này lại thường ẩn mình nơi râm mát, lặng lẽ ban tặng cho đời những cánh hoa thơm ngào ngạt. Chúng ta muốn thưởng thức hương thơm của nó thì phải vào tận nơi thâm sơn cùng cốc. Con người cũng vậy, muốn làm món quà vô giá để ban tặng cho đời thì hãy nên khiêm tốn để trưởng thành trong cuộc sống. Ngược lại với khiêm tốn là kiêu mạn. Vậy kiêu mạn là sự tự cao, hay khinh khi người khác. Do có chút danh vọng, quyền lực và thành công trên trường đời nên ta tự cao, tự phụ, khinh khi người khác là hiện tượng khá phổ biến trong xã hội hiện nay.

Ngày xưa, trong pháp hội của Lục Tổ có vị Tăng tên Pháp Đạt xuất gia lúc bảy tuổi, thường tụng kinh Pháp Hoa. Một hôm, ngài đến lễ tổ mà đầu không sát đất. Tổ mới quở, “lễ mà đầu không sát đất chi bằng đừng lễ, chắc ông có cái gì cao siêu, mầu nhiệm nên mới kiêu mạng như vậy”. Pháp Đạt thưa, “tôi tụng kinh Pháp Hoa đã hơn 3000 bộ”. Vị Tăng Pháp Đạt nghe đồn rằng, Lục Tổ được truyền trao y bát, Tăng ni các nơi đến tham vấn và lễ bái Tổ rất đông. Pháp Đạt tuy lễ lạy nhưng không phục Tổ vì nghĩ rằng Tổ chưa chắc hơn mình nên tuy có lễ mà trong lòng không tôn kính, do đó đầu lạy không sát đất. Tổ mới bảo rằng, “dù ông tụng đến muôn vạn bộ kinh, hiểu ý kinh mà chẳng cho là hơn người, ắt cùng ta sánh vai; nay ông chấp trước vì sự nghiệp tụng kinh nhiều mà trọn không biết lỗi, ông hãy lắng tâm để nghe ta nói bài kệ đây:

Lễ để cốt chặt cờ ngã mạn,

Tại sao đầu ông không sát đất?

Có ngã thì tội liền sanh,

Quên công thì phước bao la không cùng.

Lễ lạy để tỏ lòng tôn kính và khiêm tốn thấp mình trước người đức hạnh để chúng ta được học hỏi thêm những điều hay, lẽ phải trong cuộc sống nhằm dẹp bỏ tâm cống cao, ngã mạn của mình. Pháp Đạt vì còn thấy mình hơn Tổ nên lạy đầu không sát đất và bị tổ quở “nếu thấy mình hơn người vậy lạy làm chi cho mắc công vô ích”. Như chúng ta đã biết, người ngồi nhận lễ là tạo nhân duyên tốt cho người học đạo dẹp trừ bớt tâm ngã mạn. Người tu mà không khiêm tốn học hỏi, không biết lễ kính người đạo cao đức trọng thì thử hỏi làm sao giải trừ được phiền não và bệnh tự cao ngã mạn.

TUYỆT VỌNG KHI KHÔNG CÒN LỐI THOÁT

Khi con người rơi vào trạng thái khổ đau cùng cực, không còn phương hướng, không còn lối thoát trong cuộc sống, người đó tự giết mình để chạy trốn cuộc đời. Nhiều người nhìn đời với con mắt bi quan, cho đời là bể khổ, dù cuộc đời vốn vẫn đẹp như những vì sao lấp lánh. Bản chất cuộc đời không có tốt hay xấu, tùy theo suy nghĩ và nhận thức của mỗi người mà cuộc đời trở nên là thiên đường hạnh phúc hay địa ngục trần gian. Tại sao ta cô đơn? Tại sao ta tuyệt vọng? Ai đưa đẩy ta vào chỗ đó? Thượng đế ư? Thần linh ư? Vua quan ư? Gia đình ư? Bạn bè ư? Xã hội ư? Chỉ có ta làm cho ta tuyệt vọng, không ai ngoài chính bản thân mình.

Người tuyệt vọng là người không còn hy vọng trong hiện tại và trong cả tương lai. Trước mắt họ chỉ thấy một bầu trời đen tối, họ không có đủ niềm tin và nghị lực để khai mở con người tâm linh của mình, nên họ cảm thấy lạc lỏng, bơ vơ giữa dòng đời vô tận. Mặc dù đang sống chung với người thân, với gia đình, với bè bạn, với xã hội, nhưng họ vẫn cảm thấy cô đơn, hụt hẫng trước một sự thật quá phũ phàng, trước một sự thật quá đau thương, buồn tủi; bởi họ không còn chỗ bám víu, không còn nơi nương tựa. Họ cảm thấy lạc loài, cô đơn như người đã từng giàu có bây giờ trắng tay, mất tất cả. Mọi cái, mọi thứ trên đời giờ đã hết, một sự thật không thể chối cãi được. Trong khi mọi cái đều thay đổi quá nhanh như vậy, ta cảm thấy chới với, bơ vơ như không còn chỗ đứng, nên cam đành chịu khổ đau trong tuyệt vọng.

Thời Phật còn tại thế, có một thiếu nữ con của một gia đình giàu sang bậc nhất với tài sản trị giá hơn 400 triệu đồng tiền vàng. Năm 16 tuổi cô đã có nét đẹp của dáng ngọc mày ngà, có thân hình gợi cảm làm tâm hồn các chàng công tử con nhà quý phái đều chết mê, chết mệt. Thế rồi cha mẹ cũng hứa gã cô cho một chàng công tử môn đăng hộ đối. Chỉ còn hơn một tuần nữa thì ngày cưới được tổ chức long trọng; nhưng trớ trêu thay, cô đã phải lòng chàng trai ở đợ trong nhà và đã trót trao thân cho người ấy. Chàng và nàng âm thầm trong lặng lẽ, sắp xếp mọi kế hoạch để chuẩn bị chuyến đi không hẹn ngày về nơi phương trời xa xôi theo tiếng gọi của con tim.

Nơi đất lạ quê người, chàng khai phá rừng hoang, trồng trọt, bán củi nuôi thân. Nàng ở nhà chăm lo công việc nội trợ. Từ xưa nay, nàng chưa từng động đến móng tay, mọi việc đều có người ở phục dịch, lo lắng hết cả; giờ thì phải sống một đời bần hàn cơ cực trong rừng sâu núi thẳm, trong thương tiếc ngậm ngùi; bụng làm thì dạ chịu, nàng biết trách móc vào đâu được, âu cũng là duyên nghiệp năm xưa. Khi nàng có thai sắp đến ngày sinh nở, nàng thưa với chồng muốn về nhà cha mẹ ruột để có người chăm sóc, giúp đỡ. Anh chồng quá sợ vì nghĩ mình chỉ là tên nô lệ phục dịch chắc chắn sẽ bị trừng trị theo luật pháp nên không cho vợ về. Một hôm, người chồng đi đốn củi trong rừng và người vợ quyết định trốn đi. Người chồng đi làm về biết được mọi chuyện nên đã đuổi theo kịp và người vợ đã cho ra đời một bé trai kháu khỉnh ngay trên đường đi. Đứa con đầu lòng chào đời trong niềm vui vô hạn của hai người, họ cảm thấy hạnh phúc tràn trề.

Thời gian qua mau, đứa con đầu nay được ba tuổi thì nàng lại có thai. Cũng như lần trước, nàng cũng tìm đường về nhà cha mẹ và người chồng cũng đuổi theo bắt kịp. Như có linh tính chuyện không may xảy đến, nàng đang mệt mỏi vì cơn đau sắp sinh con thì mây đen ùn ùn kéo đến làm tối sẵm cả bầu trời. Cơn mưa như giận dữ trút đổ xuống ào ạt, tiếng sấm sét không ngừng gào thét. Anh chồng cuống quýt lên vội vàng chặt vài nhánh cây để che đỡ cho nàng có chỗ khai hoa nở nhị. Nhưng bất hạnh thay, chàng bị một con rắn độc cắn chết liền tại chỗ. Ngay lúc chồng vừa chết thì đứa con thứ hai cũng kịp chào đời trong cơn mưa tầm tã. Một đứa vừa lên ba, một đứa mới chào đời, chúng không chịu nỗi cảnh mưa gió bão bùng nên đã khóc thét lên trong màn đêm đen tối. Người mẹ ấy giờ không còn cách nào khác, chỉ biết nằm úp xuống ôm hai con vào lòng để hứng chịu cơn mưa oan nghiệt. Trời vẫn còn thương cho kẻ bất hạnh, dứt cơn bão giông tố cũng qua đi. Tuy hiện tại đã mất đi người chồng yêu quý, nàng vẫn gắng gượng trong bước đi nghiêng ngã, một tay bồng con, một tay dắt con đi về hướng nhà cha mẹ ruột. Nàng phải lê từng bước khổ sở, nhọc nhằn, thất tha, thất thểu, rồi họ đến được bờ sông. Cơn mưa đêm qua đã làm cho nước sông tràn ngập không thể đi qua bình thường được. Vả lại, lúc này nàng quá yếu, nàng không thể ôm hai đứa con lội cùng một lúc nên đành để lại đứa con lớn bên bờ này và ôm đứa nhỏ lội qua. Sau khi ráng sức qua tới bờ kia, nàng cẩn thận lấy nhánh cây đặt đứa bé nằm lên trên, rồi chuẩn bị bơi trở lại rước đứa con lớn. Nhưng chẳng may cho nàng, trông khi đang bơi qua hơn giữa dòng thì nghe tiếng tru của một con chó sói đang nhào tới để gặm đứa bé đi. Trong cơn hốt hoảng, nàng giơ tay la lên để cản ngăn con sói nhưng không còn kịp nữa. Bên này đứa con lớn tưởng mẹ kêu mình nên nhảy ùm xuống sông bị dòng nước cuốn trôi đi mất. Chồng chết, hai đứa con cũng đi theo. Giờ thì bao nhiêu hy vọng, ước mơ về một gia đình hạnh phúc đã tan tành theo mây khói, nàng chỉ còn hướng về cha mẹ, gia đình, người thân để mong được chút yêu thương và tha thứ. Nhưng sự thật càng phũ phàng hơn, khổ đau này chưa dứt, khổ đau khác đã chồng lên ngay nơi số phận của nàng. Nơi nàng sinh ra và lớn lên, khói bụi vẫn còn mờ mịt, nghi ngút tỏa. Nàng hỏi ra mới biết cha mẹ và người thân đều bị nhà sập đè chết hết vì cơn bão đêm qua. Nàng bây giờ không còn bình tĩnh nữa, trông phút chốc đã hóa ra điên loạn. Trên người không còn mảnh vải che thân, nàng vừa đi, vừa khóc, vừa cười, vừa hát nghêu ngao:

Chồng ta đã chết giữa đường

Hai con cũng vậy đi chầu theo sau.

Cha mẹ, gia đình, người thân

Cũng đã ra đi không ngày trở lại.

Hồi tưởng về quá khứ, đáng lẽ ra nàng đã hưởng trọn cuộc đời cao sang, quyền quý, được sống hạnh phúc bên mái ấm gia đình với dòng tộc cao quý do cha mẹ sắp đặt. Chỉ một phút lỡ làng đi theo tiếng gọi của con tim mà cuộc đời nàng phải trả một giá quá đắt, chẳng lẽ thượng đế đã trừng phạt nàng chăng. Xã hội ngày xưa theo truyền thống tập cấp chủ tớ nên phân biệt rành rẽ và có luật pháp hẳn hòi. Ai ở giai cấp nô lệ phục dịch thì suốt đời làm tôi tớ, không được quyền đụng chạm đến giai cấp tôn quý, huống hồ là lấy người giai cấp trên. Chính điều này đã tạo ra sự bất công oan trái trong hôn nhân, tình yêu lứa đôi. Con người ta không còn yêu nhau bằng tình thương chân thật nữa mà có sự lựa chọn, áp đặt của người trên nhờ sự mai mối theo cách thức môn đăng hộ đối đã để lại biết bao chuyện đau thương trong tình yêu nam nữ; không lẽ đấng tối cao nỡ nhẫn tâm, tàn nhẫn đến thế ư?

Trong cơn tuyệt vọng não nề, nàng đã mất hết tính người nên khoe thân thể cho mọi người nhìn thấy mà không còn biết mình là ai. Trời đất như quay cuồng, mọi thứ đều điên loạn, trong cơn tuyệt vọng của con người xác thịt thì khó ai có thể vượt qua nỗi bế tắc của cuộc đời. Vậy mà… dường như có một sự mầu nhiệm nào đó khi chúng ta biết khai thác con người tâm linh thì mọi gút mắc sẽ được tháo gỡ. Khi con người bị bế tắc trong cơn khủng hoảng của tuyệt vọng, làm tâm tư trong sáng bị lưu mờ nên nhìn mọi thứ bằng con mắt chán chường, bi quan, cảm thấy cuộc sống này không còn giá trị và ý nghĩa nữa nên ta cứ nhắm mắt buông xuôi, mặc cho số phận đã an bài. Nếu không có chút định tĩnh ta có thể hóa ra điên loạn, hoặc tệ hơn ta có thể tự kết liễu đời mình một cách oan uổng. Nhưng nếu nhìn thật kỹ, ta sẽ thấy đất trời đang rộng mở, đang bảo bọc và che chở cho ta. Chung quanh ta còn biết bao người thân thương đang dang rộng vòng tay để ôm ấp, thương yêu trìu mến bằng sự hiểu biết và tha thứ, cảm thông. Chỉ vì tâm ta bị vướng kẹt trong phạm vi nhỏ hẹp mà ta đành lòng hủy hoại trong cô đơn, tuyệt vọng.

Người con gái ấy trong thoáng chốc mất hết tất cả, chồng con, cha mẹ, người thân, nên hóa ra điên cuồng, lang thang, thất thểu trong tâm trạng mê mờ. Thông thường, mọi sự thất bại về danh vọng, tiền bạc hay một lý tưởng nào đó chỉ là một phần trong đời sống của ta. Đằng này, người phụ nữ đó đã mất đi tình yêu, gia đình, người thân trong cùng một lúc, nên chỉ có thể trở nên điên loạn, thẫn thờ. Nếu giả sử ta đặt mình trong hoàn cảnh ấy, liệu ta có còn đủ sức chịu đựng hay đành chấp nhận chọn lấy cái chết trong cơn tuyệt vọng. Cũng may cho người con gái ấy, trong cơn điên loạn tuyệt vọng vô vàn đó, nàng đã được gặp đức Phật với tâm từ tỏa sáng đang trải rộng lòng thương xót, làm cho nàng từ từ tỉnh lại. Bất giác, nàng nhìn lại toàn thân mình không một mảnh vải che thân, nàng ngượng ngùng, xấu hổ, mới nằm úp trên mặt đất. Phật nhờ người đưa cho nàng chiếc y, mặc xong, nàng đến quỳ dưới chân Phật với tâm thành kính cao độ. “Kính bạch Phật đà, xin hãy cho con làm đệ tử của Ngài, xin cho con được quy y Ngài và nương tựa Ngài. Con bây giờ không còn gì nữa, tất cả những người thân thương nhất của đời con đều đã ra đi hết”. Phật biết được tâm trạng của nàng, nên dùng những lời từ ái khuyên nàng chớ có nên đau buồn, phiền muộn. Một khi ai đã gặp Như lai thì có chỗ an trú, có chỗ nương tựa, có chỗ che chở vững chắc.

Chúng sinh sống trên thế gian này trải qua biết bao thăng trầm trong dòng luân hồi vô tận. Người khóc vì mất con, kẻ khóc vì mất người thân yêu…, nước mắt tiếc thương rơi nhiều hơn nước bốn biển trong hiện tại. Như lai đã nói về sự khổ đau, mất mát của con người không thể tính đếm hết được. Những người mình yêu thương, gần gũi giờ đã vĩnh biệt ra đi thì hỏi ai không luyến tiếc, nhớ nhung, nuốt lệ thương đau trong cô đơn, buồn tủi. Những điều mong muốn, những ước mơ luôn không được hài hòa như ý, cuôc sống cứ như đi ngược lại những gì ta mong mỏi, hỏi sao ai chẳng tuôn dòng lệ rơi. Rồi đến khi sắp từ giã cõi đời, cha mẹ, người thân, con cái, bạn bè, không ai có thể che chở, bao bọc cho ta suốt cả cuộc đời. Người trí cần phải có nhận thức sáng suốt để chuẩn bị hành trang làm tư lương cho con đường mình sẽ đi tới, nơi đó không có mặt của khổ đau và bất hạnh.

Sau khi được Phật khai thị, tâm trí nàng bắt đầu khai mở và từ đó nàng xin Phật được xuất gia tu học. Nhờ mỗi ngày quán chiếu sự vô thường thay đổi của kiếp người, không phải ai cũng có diễm phúc sống đến tuổi già để cùng gia đình chung vui hạnh phúc. Do siêng năng phục vụ đại chúng và tinh cần tu tập, lúc nào nàng cũng niềm nở, vui tươi với mọi người nên nàng được các bạn đồng tu gọi là “Ni vui vẻ”. Cho đến một hôm, nhân dịp múc nước rửa chân, nước chảy ra đất rồi từ từ thấm xuống hết và cứ như thế dù nhiều hay ít nước vẫn thấm xuống hết. Nàng nhận ra cái chết không từ bỏ một ai, từ khi mới sinh cho đến lúc tuổi già. Kẻ chết khi còn nhỏ, hoặc lúc trưởng thành, cho đến trung niên rồi già rồi chết. Thần chết luôn sẵn sàng rước ta đi trong bất cứ lúc nào. Ngay trong giờ khắc đó, nàng đã chứng quả Alahán. Phật biết được nên nói bài kệ khen ngợi nàng:

Dù sống lâu ở đời

Không biết đạo giải thoát

Tốt hơn sống một ngày

Không si mê lầm lạc.

Chúng ta sống cứ mãi mê chạy theo, bám víu công danh sự nghiệp, tiền bạc, vật chất tiện nghi mà quên đi phần tinh thần, tức con người tâm linh, nên dễ dẫn đến quẫn trí và tuyệt vọng. Không có gì đau khổ, cùng cực bằng tâm mờ mịt đi trong đêm tối ba mươi. Còn có sự sống là còn có hy vọng, nhưng hy vọng của chúng ta không phải là mộng mơ, không phải vu vơ, huyền hoặc. Nếu chúng ta hy vọng mà không có đích đến rõ ràng thì thật nguy hiểm; như trường hợp của kẻ xấu chỉ muốn làm sao tìm cách chiếm đoạt của người khác mà nhẫn tâm cướp của giết người, hy vọng kiểu đó chỉ gây thêm tội lỗi và khổ đau cho nhân loại.

Người con gái ấy nếu không có duyên gặp Phật để Ngài rưới nước cam lồ từ bi thì liệu nàng có đủ khả năng để làm lại cuộc đời hay không. Sau khi quán chiếu thực tại đời sống con người, nàng nhận ra mọi thứ, mọi cái trên đời này dù có thương yêu, bảo bọc, che chở đến đâu cũng không thể nào giữ lại được khi duyên phần đã hết. Vợ chồng, con cái, mẹ cha, người thân, bè bạn lúc nào cũng dang tay chào đón ta trong từng hơi thở, nếu ta không chịu tiếp nhận hơi thở của người thân hay con người tâm linh thì ta tự mình rơi vào hố sâu tuyệt vọng nên buông xuôi tất cả. Thật ra, đâu có ai làm cho ta đến nỗi phải chịu đau thương như thế! Chính ta làm cho ta đau khổ mà thôi. Chẳng có ai thao túng cuộc đời của ta được. Nhiều người nghĩ rằng chết là hết nên tự kết liễu đời mình vì cho đó là giải pháp an toàn nhất. Họ không đủ sức chịu đựng để gánh lấy nỗi đau đang đè nặng trên vai. Nếu ta biết trở về con người tâm linh để gầy dựng nội lực mạnh mẽ và nhìn thấu tận tim gan của vấn đề thì sự thất bại trong hiện tại sẽ là hành trang cho sự thành công ở mai sau. Khi ta đã tiếp nhận được con người tâm linh thì mọi thứ đối với ta chỉ là mộng ảo phù du, do đó ta nhìn đời với một màu sáng trong, thuần khiết.

Thật ra, khi ta đối đầu với thất bại, ta nên bình tĩnh, sáng suốt tìm ra lối đi, chớ nên trốn chạy cuộc đời vì trong đó trách nhiệm của ta là chính. Ta không thể đổ lỗi cho ai, ta không thể buộc mọi người phải quan tâm đến ta mà chính ta phải có trách nhiệm lớn lao trong ấy. Ta có thể chấp nhận chịu khổ một mình chứ không nên bắt kẻ khác phải khổ cùng ta, vì ta không có quyền làm cho người khác khổ. Ta có quyền giận dỗi mình nhưng không có quyền trách giận kẻ khác. Có những người quan niệm hết sức sai lầm, họ cho rằng cõi này là cõi tạm. Các ông vua thời xưa sau khi chết đều bắt giết người thân và tất cả vàng bạc, tài sản đều phải được chôn theo để cùng về sống bên kia thế giới vĩnh hằng. Điều này quá ác độc! Họ chưa về được thế giới bên kia mà hiện tại không biết bao người phải khổ lụy theo thì liệu họ có thể yên vui nơi thế giới xa lạ đó, hay trong lòng phải mang theo nhiều oán hận, thù hằn. Ai làm người chắc ít nhiều gì cũng từng nếm trải chút đắng cay trong cuộc đời. Chúng ta không nên bi quan, chán nản mà phải tự mình vươn lên nhìn thấy được sự thật của nó để dũng cảm vượt qua. Tuy rằng có té đau đôi chút nhưng không đến nỗi làm ta gục ngã. Ta có thể vấp ngã từ đất và ta cũng từ đất đứng lên phải không các bạn?

BÍ QUYẾT LÀM NGƯỜI TỐT

Người sống có đạo đức là người thường đem lại niềm an vui và chan hòa tình yêu thương với tất cả mọi người không phân biệt người thân hay kẻ thù. Đạo đức là hoa thơm trái ngọt, là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống con người. Vì vậy, người Phật tử phải là người có nhân cách tốt; muốn thế, chúng ta cần phải rèn luyện và gìn giữ năm điều đạo đức. Người hay giết hại có đạo đức không? Thưa không! Người hay trộm cướp lường gạt có đạo đức không? Thưa không! Người hay tà dâm lấy vợ người có đạo đức không? Thưa không! Người hay nói dối hại người có đạo đức không? Thưa không! Người hay uống rượu say sưa hoặc dùng các chất độc hại như xì ke, ma túy có đạo đức không? Thưa không! Vậy người con Phật …

Hãy nói không với các điều xấu ác.

Hãy nói có với các điều tốt lành.

Hãy giữ tâm không khởi niệm phiền não.

Hãy vì lợi ích tất cả chúng sinh.

Nghe lời Phật dạy tu trì,

Hạnh lành gieo mãi đến khi quả thành.

Vì sao chúng ta cần phải làm người tốt? Làm người tốt để chúng ta có cơ hội giúp đỡ gia đình sống an vui, hạnh phúc và dấn thân phục vụ xã hội, đem tình thương đến với mọi người, sẵn sàng chia vui sớt khổ để làm vơi bớt nỗi đau bất hạnh. Đó là chất liệu sống cần thiết giàu lòng nhân ái, để ta hình thành một nhân cách phẩm chất đạo đức nơi mỗi con người. Một người sống có đạo đức là người không bao giờ dám làm các việc xấu ác, vì họ biết rõ nhân xấu ác sẽ đem đến quả khổ đau cho nhiều người.

Vậy đạo đức là gì? Đạo đức là những gì tốt đẹp trong mỗi con người, từ những ý nghĩ, lời nói, hành động đều làm cho người chung quanh cảm mến, ưa thích và có thể đem an vui, lợi lạc ngay trong hiện tại. Một con người có nhân cách đạo đức tốt phải phát xuất tự nội tâm trong sáng, thanh tịnh; như vậy, đạo đức là cái tốt ở bên trong, được thể hiện hài hòa bởi hành vi giao tiếp, đối xử bình đẳng với mọi người không phân biệt thân hay thù. Người hay vị tha để giúp đỡ mọi người tùy theo khả năng, có khi giúp một lời nói để họ vượt qua cơn sợ hãi, một ly nước để giúp người qua cơn khát, hoặc nhiều hơn nữa là giúp một số tiền lớn để cứu người qua cơn hoạn nạn. Đạo đức là hoa thơm trái ngọt luôn bay ngược chiều gió, là món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống cả nhân loại. Con người muốn có nhân cách đạo đức tốt cần phải rèn luyện từ tuổi ấu thơ và hãy nên nói không với các điều xấu ác, hãy nên nói có với các điều tốt lành. Vậy người sống có nhân cách đạo đức tốt là người thường xuyên biết chia vui, sớt khổ, sống chân thật, rộng lượng, biết kính trên nhường dưới, biết bao dung và tha thứ, biết thương yêu và giúp đỡ, biết hy sinh và chịu nhận phần thiệt về mình.  

Bạch Cư Dị là một ông quan và là nhà thơ nổi tiếng thời Đường ở Trung Hoa. Đến tuổi trung niên, ông phát tâm tu học Phật pháp. Nghe đồn có một Thiền sư chuyên ngồi trên chảng ba của một gốc cây cổ thụ đã ngộ đạo nên mọi người thường gọi là Thiền sư Ô Sào (ổ quạ). Tiếng lành vang xa, Bạch Cư Dị muốn tìm đến ngài để cầu thưa hỏi Phật pháp, mong nhận ra lẽ thật để tu hành. Vừa đến nơi ông đã thấy Thiền sư ngồi trên cây, Bạch Cư Dị liền nói chỗ ở của Thiền sư rất nguy hiểm. Thiền sư bình tĩnh nói rằng, “chỗ ở của ông mới thật là nguy hiểm”. Bạch cư Dị nói, “chỗ ở của con làm sao nguy hiểm bằng chỗ của thầy được?” Thiền sư nói, “ta tuy ngồi trên cao thấy như nguy hiểm nhưng là chỗ an toàn để tu tập chuyển hóa các phiền não tham-sân-si có tính cách hại người hại vật, nên không nguy hiểm mà còn có thể lợi ích cho nhiều người trong hiện tại và mai sau. Chính chỗ ông đang làm việc mới thật là nguy hiểm, bởi ông làm quan có quyền hành thế lực trong tay, nếu không phải là người liêm chính, chí công vô tư thì sẽ làm tổn hại cho nhiều người bởi lòng tham con người như giếng sâu không đáy, không cùng tận, không biết bao nhiêu mới gọi là đủ”. Sau khi nghe lời giải thích của Thiền sư, ông mới hỏi thế nào là đại ý Phật pháp? Thiền sư trả lời:

Không làm các việc ác

Hay làm các việc lành

Giữ tâm không phiền não

Đó là lời Phật dạy.

Bạch Cư Dị đã từng tham cứu nhiều ngữ lục nên nghĩ Thiền sư phải dùng Thiền ngữ trả lời mới đúng. Ông tự hào mình đã thông đạt bí quyết nhà Thiền nên khinh khỉnh nói rằng, “câu này con nít tám tuổi trả lời cũng được. Hòa thượng dạy con nghe tầm thường quá!” Thiền sư liền bồi tiếp một câu, “nhưng ông già 80 tuổi làm cũng chưa xong”. Ngay nơi câu nói này, Bạch cư Dị nhận ra yếu chỉ Phật pháp, sau đó phát tâm dựng một nhà trúc ở dưới gốc cây để Thiền sư có chỗ nghỉ ngơi thuận tiện trong việc tu tập và giáo hóa chúng sinh.

Lời Phật dạy ngàn kinh muôn luận nhưng cuối cùng chỉ tóm gọn trong 4 câu kệ trên, chẳng qua nhân loại có nhiều phiền não trần lao nên Phật phải đưa ra nhiều vị thuốc. Mục đích của việc giáo dục nhân cách đạo đức không gì khác hơn là giúp cho con người nhận ra thân phận của mình để làm sao dựng lập đời sống gia đình phù hợp với sự vận hành của vũ trụ. Nghĩa là mọi người hãy luôn có ý thức trong việc chuyển hóa các tâm niệm xấu ác đang lỡ phát sinh vì sự mê lầm của chính mình, và chúng ta có thể tìm cách ngăn chặn những tư tưởng xấu có thể phát sinh bằng sự quán chiếu thường xuyên của tuệ giác từ bi. Không có con đường nào tốt đẹp hơn là con đường trở về nội tâm của chính mình, tâm chính là cội nguồn của hạnh phúc và khổ đau. Ta không cần phải tìm kiếm những gì ở nơi xa xôi mà ngay nơi con người chúng ta đã có đủ năng lực để mình nương tựa. Trong ta có đầy đủ tất cả những bình yên và hạnh phúc lâu dài nếu ta quyết tâm nương tựa chính mình. Ít ai nhận ra điều đó, nên con người cứ mãi lang thang làm khách phong trần mãi. Chính vì vậy, khi làm việc gì ta cũng mang theo “cái tôi” ích kỷ và như thế sẽ làm cho nhân loại khổ đau.

Con người ngày nay tiếp cận nền văn minh vật chất, hưởng thụ đầy đủ mọi nhu cầu cần thiết nhưng cũng là kẻ chịu khổ đau nhiều nhất vì sự ích kỷ của chính mình. Làm quan tức có phước báo nhiều đời, nhưng nếu sống không vì lợi ích tha nhân thì sẽ làm tổn hại cho nhiều người; nên khi có quyền cao chức trọng, nếu người đó không có đức hạnh thì vô tình hại nước, hại dân, bởi thói quen chấp ngã và chiếm hữu. Vì vậy, Thiền sư nói, “chỗ của ông mới thật sự nguy hiểm, nếu ông sống không có đức hạnh”. Không làm các việc ác mà hay làm các việc lành tuy nghe đơn giản nhưng chỉ có người đức hạnh hay các vị Bồ tát mới kham nỗi, còn chúng ta là hạng phàm phu tục tử nên hành cả đời chưa chắc xong. Nội một cái các tâm niệm xấu ác mà chúng ta chưa chắc đã chuyển hóa hết được, huống hồ là hay làm các điều tốt đẹp, nên Thiền sư nói “ông già 80 tuổi làm cũng chưa xong”. Đó là một sự thật. Khi có quyền cao chức trọng, chúng ta dễ dính mắc vào công danh sự nghiệp, nhất là đàn ông càng lớn tuổi lại càng bám vào quyền lực nhiều hơn nên rất hiếm người sống vì lợi ích tha nhân. Do đó, muốn làm người tốt và có nhân cách đạo đức phải là người Phật tử thuần thành giữ vững năm giới và tu Thập thiện thì khả dĩ mới giúp nhân loại sống bình an và hạnh phúc thật sự.

THAY LỜI KẾT

Sau một thời gian tu học tại Thiền Viện Thường Chiếu, có người hỏi tôi “việc làm hằng ngày của thầy thế nào? Tôi chỉ mĩm cười nói,

Sáng nấu cơm vui cùng đại chúng.

Trưa đến vườn lan nhìn cá bơi.

Chiều về viết sách vui đây đó.

Tối lại quay về việc chính mình.

Đêm đến duỗi thẳng hai chân ngủ.

Đó là việc làm hằng ngày của tôi, chỉ đơn giản như thế! Cuộc sống của tôi bây giờ là vậy đó, mỗi ngày đều hân hoan, vui vẻ nấu cơm để cúng dường đại chúng. Ngày nào không được nấu cơm phục vụ, cúng dường đại chúng trọn vẹn là ngày đó tôi cảm thấy như đang thiếu thốn một điều gì. Con người là một chúng sinh cao cấp hơn hẳn các loài khác nhờ biết suy tư, quán chiếu, tìm tòi. Thật ra, có sống để làm việc và tu học theo lời Phật dạy thì chúng ta mới thấy Ngài là một con người có tấm lòng từ bi bao la, rộng lớn và vô ngã, vị tha. Ngài sống vì mọi người, vì lợi ích số đông, vì lợi ích tất cả chúng sinh mà không vì lợi ích cho riêng mình. Phật dạy cho chúng ta thấy một chân lý sáng ngời ngay nơi thân mỗi người mà chẳng phải tìm cầu đâu xa, không phải trông chờ sự ban ơn cứu rỗi của một đấng nào mà chính mình là thượng đế tối cao của chính mình. Mình làm lành, làm tốt thì hưởng được nhiều phước báu. Mình làm ác, làm xấu thì chịu nhiều hệ lụy, khổ đau.

Một điều kỳ diệu không thể ngờ là từ con người cho đến muôn loài, muôn vật trong bầu vũ trụ bao la này đều phải sống nương nhờ lẫn nhau mới bảo tồn tính mạng. Chúng ta không làm ruộng mà vẫn có cơm ăn, chúng ta không nuôi tằm dệt vải mà vẫn có quần áo để mặc; và cứ như thế mọi cái, mọi thứ đều đan xen, nương tựa chằng chịt lẫn nhau, cùng nhau phát triển và tồn tại theo lý duyên sinh. Nếu nhân loại số đông hướng theo chiều hướng tốt đẹp thì mọi người sẽ được an vui, hạnh phúc, và ngược lại sẽ chịu nhiều đau khổ. Không có cái gì do một nhân mà hình thành nên con người sống với nhau cần phải có tình thương yêu chân thật bằng sự hiểu biết chân chánh vì tình người, tình nhân loại mà cùng nhau chia vui sớt khổ. Chúng ta không thể an nhiên vui vẻ để an hưởng hạnh phúc một mình trong khi có nhiều người đang gặp phải bất hạnh, khổ đau. Sự sai biệt của thế gian là do nghiệp báo của mọi người đã gieo tạo không đồng nên có sự chênh lệch về mọi phương diện, nhưng tất cả đều nương vào nhau mà duy trì sự sống. Người có địa vị, quyền lực cao trong xã hội là nhờ nhiều đời biết giúp ích cho nhân loại nên mới có phước báo lãnh đạo một đất nước, không phải bỗng dưng và vô cớ mà có được, hoặc do một đấng tối cao nào có quyền định đoạt và sắp đặt. Cho đến kẻ bần cùng trong xã hội cũng có sự đóng góp tích cực để kết thành một nhân duyên tốt đẹp nương tựa vào nhau. Chính vì nguyên lý duyên khởi trùng trùng điệp điệp mà chúng ta cần phải có trách nhiệm và bổn phận trên tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tùy theo khả năng và điều kiện mỗi người.

Ngày xưa, có một vị Tăng đã chứng quả Alahán nhưng vẫn phát tâm chụm lò nấu cơm phục vụ đại chúng. Có người thắc mắc hỏi thầy, “vì sao ngài phải làm việc nặng nhọc ấy?” Thầy nói, “ta đã 500 kiếp vì thấy biết sai lầm mà tạo nghiệp xấu ác nên đã bị đọa vào các loài súc sinh, chỉ có hai kiếp là được no đủ. Chúng ta bây giờ thọ dụng của đàn na tín thí quá nhiều, nợ này biết chừng nào trả xong”. Nhìn gương hạnh của cổ nhân, mỗi người hãy tự kiểm lại chính mình mà tự hổ thẹn để cố gắng làm sao xứng đáng là người Phật tử chân chánh. Tôi bây giờ đủ nhân duyên được xuất gia làm Tăng nên cũng cố gắng bắt chước làm theo công việc của ngài. Cho nên, tôi sáng nấu cơm vui cùng đại chúng, trưa đến vườn lan nhìn cá bơi, lúc cần làm việc thì cứ làm việc tận tụy hết sức để vuông tròn trách nhiệm, đến khi việc hết thì “được việc thảnh thơi cứ thảnh thơi”. Chim bay trên trời, cá lội dưới nước, mọi việc đều như thế có gì sai khác đâu.

Tổ đình Thường Chiếu là thiên đường của hạnh phúc, nơi đây đã dung nạp trên 1000 Tăng ni, nếu ai có dịp đến tham quan và chiêm ngưỡng thì tạm thời bao nhiêu phiền muộn, khổ đau đều bị cuốn trôi theo chiều gió. Chúng ta có đôi mắt sáng để thấy rõ muôn sự, muôn vật luôn tạo cho nhau sự sống để trở thành con người tâm linh, mà con người tâm linh là con người biết đóng góp, dấn thân và phục vụ, đem an vui, hạnh phúc đến cho nhiều người và sẵn sàng sẻ chia nỗi khổ, niềm đau để làm vơi bớt nỗi đau bất hạnh. Tôi cùng mọi người ta hãy cố gắng học hỏi và bắt chước gương hạnh của Bồ tát Quán Thế Âm, hãy cùng nhau lắng nghe tiếng kêu cứu khổ của con người, hãy cùng nhau kết nối tình yêu thương. Việc làm của Bồ tát là việc làm cao thượng khó thấy và hiếm có trên đời, chúng ta có nhân duyên tốt mới diễm phúc được gặp Ngài và cùng đi theo con đường có hiểu biết và yêu thương, dấn thân và phục vụ của Bồ tát Quán Thế Âm.

Tôi có nhân duyên lớn với Ngài từ khi mới mở mắt chào đời. Cơn bệnh ngặt nghèo tưởng chừng đã cướp đi sinh mạng của tôi trong lúc cận kề cái chết. Mẹ tôi nằm chiêm bao thấy Bồ tát Quán Thế Âm hiện về bảo rằng, “muốn giúp đứa bé này sống còn để sau này có thể làm lợi ích cho chúng sinh thì hãy mau đến núi Bà đen sẽ có vị thầy cứu chữa”. Nhờ vậy, tôi được sống còn và lớn lên mới tồn tại đến bây giờ. Và một lần nữa, tôi được Bồ tát Quan Âm cứu giúp để thay đổi cuộc đời xấu ác của mình, đó chính là người mẹ của tôi. Nhờ phúc duyên lớn nên tôi được xuất gia ở Thường Chiếu, và từ đó tôi được thay da đổi thịt nhờ sự hết lòng chỉ dạy của thầy lành bạn tốt. Đối với tôi, ơn mẹ chưa đền đáp, lại thêm ơn sâu của thầy Tổ. Mẹ đã cho tôi sự sống, thầy Tổ cho tôi sự hiểu biết và yêu thương. Tôi bây giờ càng phải cố gắng thêm nữa để được sống yêu thương và hiểu biết. Việc chung đã làm xong, giờ tôi tiếp tục phát huy thêm vai trò cùng chia vui, sớt khổ bằng sự trải nghiệm của chính mình nên chiều đến viết sách vui đây đó để có dịp chia sẻ cùng tất cả mọi người. Muốn làm vậy tôi phải tham khảo, tìm hiểu lời Phật dạy qua sự quán xét suy tư, soi sáng lại chính mình, rồi từ đó tùy theo nhân duyên mà kết tình bạn lữ gần xa để được đồng hành cùng mọi người trên tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau.

Niềm tin và lý tưởng sống rất quan trọng đối với con người. Nếu ta không biết mà định hướng sai lầm thì sẽ làm cho mình và người đau khổ. Thế gian này với biết bao chủ thuyết, học thuyết tôn giáo, ai cũng cho mình là đúng và tốt đẹp. Chính vì muốn bảo vệ chủ thuyết của mình mà con người đành lòng giết hại lẫn nhau. Một hôm, Phật đến một làng nọ thì người dân ở đây mới thưa hỏi Ngài, “kính bạch đức Thế tôn, có nhiều Sa môn đến đây tuyên truyền, vận động, kêu gọi chúng con theo đạo của họ. Ai cũng bảo chỉ có đạo của họ là tốt. Vậy làm thế nào chúng con biết đạo đó là đúng, là tốt?” Đức Phật không trả lời mà còn hỏi lại những người dân như sau, “này các thiện nam tín nữ, tham lam, sát sinh hại người, hại vật có tốt không? Si mê, nóng giận làm khổ đau thiên hạ có tốt không?” Tất cả mọi người đều trả lời không. “Này các thiện nam tín nữ, khi nghe một điều gì các vị phải biết quán sát, suy tư và thể nghiệm, chớ nên vội tin một điều gì cho đến khi quí vị thấy lời dạy này tốt lành, đạo đức hay giúp mọi người hướng thiện và được các bậc hiền trí khen ngợi. Nếu sống và thực hành các lời dạy ấy sẽ đưa đến an vui, hạnh phúc về lâu về dài thì quí vị hãy đặt hết niềm tin vào giáo pháp đó và cố gắng bắt chước thực hành theo”. Đức Phật chia sẻ tiếp, “này các thiện nam tín nữ, nếu ai khuyên nhủ chúng ta không giết hại chúng sinh, không trộm cướp, lường gạt của người khác, không quan hệ tình cảm bất chánh ngoài vợ chồng chính thức, không nói láo hại người, không uống rượu say sưa. Như Lai tuyên bố và xác quyết rằng, nếu ai giữ được những điều vừa kể trên thì người ấy sẽ sống hạnh phúc và an lạc lâu dài”.

Quả thật, chúng ta quá diễm phúc nên mới gặp được Như Lai Thế tôn, Ngài không bắt buộc mọi người tuân theo một cách giáo điều như các nhà truyền đạo khác. Đó là điểm đặc biệt của người tu theo đạo Phật. Ngài chỉ hướng dẫn chúng ta thấy rõ đây là con đường dẫn đến an vui, hạnh phúc; đây là con đường dẫn đến sa đọa, khổ đau; và Ngài đã khuyên nhủ chúng ta trước khi tin theo điều gì hãy nên quán chiếu sâu sắc, thể nghiệm được sự lợi ích thật sự cho mình và có thể giúp đỡ cho tha nhân được an lạc ngay trong giờ phút hiện tại; đó mới là niềm tin chân chánh mà chúng ta nên học hỏi và bắt chước noi theo. Tin như vậy mới là niềm tin không thối chuyển, bởi chúng ta đã biết rõ được cội nguồn của hạnh phúc và khổ đau.

Cho nên, cứ tối đến thích làm Tăng vô sự, công việc trong ngày đã làm xong, mọi cái đều được sắp xếp đi theo dòng thời gian vô tận, không còn gì đáng phải bận tâm nữa. Ai có duyên lành sẽ nhìn thấy chỗ này rất ư là vi tế. Chúng ta cứ tưởng mọi cái, mọi thứ đều dừng lắng hết, nhưng không phải vậy. Dòng nước cứ trôi mãi, chỉ chậm hay mau mà thôi. Cho đến lúc chúng ta cảm thấy hình như dòng nước đang dừng hẳn, không có dấu hiệu trôi đi, nhưng cũng không hẳn là như vậy. Từ đằng xa của một thác nước đang tuôn chảy, chúng ta chỉ nhìn thấy một vệt trắng không lay động. Chúng ta có thể lầm tưởng như vậy, nhưng không đâu các bạn, vì vô tâm còn cách một lớp rào. Nếu ai tới đây đã tự mãn coi như xong thì suốt đời sống trong hang quỷ, chẳng lợi ích gì cho ai. Tôi cũng muốn làm Tăng vô sự lắm, nhưng tập khí nhiều đời cứ che chướng mãi. Thôi thì làm Tăng vô sự không được thì đành cam chịu làm Tăng nhiều việc cũng tạm có chút cơm cháo sống qua ngày tháng.

Một chút duyên lành có được ngày hôm nay xin nguyện hồi hướng đến tất cả muôn loài, mong cùng nhau kết nối tình yêu thương để chúng ta được sống có tình người, tình nhân loại trong cuộc sống.

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập