Trang tiếng Anh

Đạo Phật Ngày Nay 

Trang tiếng Việt   

   

...... ... ..  . ..  .  .
Tu nhà

 

LỜI TỰA

Tổ Quy Sơn dạy: "Nếu mình chưa là bậc thượng lưu, vượt thẳng lên thềm vô thượng giác thì hãy để tâm vào giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương tiếp dẫn hậu lai, trả ơn đức Phật". Lời vàng ngọc ấy như tiếng chuông đánh thức tâm hồn tôi phải luôn nghĩ nhớ ơn đức Tam Bảo và đàn na thí chủ.

Với tài hèn đức mọn, nghĩ rằng mình chưa thể đóng góp cho sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh một cách xứng đáng, lớn lao như các bậc Tổ Sư tiền bối. Tuy thế "thà thắp lên một ngọn đèn leo lét còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối".

Với nhiệt tình ấy cùng với sự khuyến khích nung đúc ý chí của các bậc Tổ Thầy, các vị giáo sư tại Phật học viện Thiện Hòa chùa Giác Ngộ khiến tôi mạo muội soạn ra tập sách này. Vả lại đây cũng là sự kết tập của các buổi thuyết giảng tại chùa, đồng thời làm tài liệu tham khảo thêm cho các Phật tử tại gia tu học.

Mặc dù về nhân thừa Phật giáo, đã có rất nhiều sách của các cao Tăng, thức giả trình bày, chỉ dẫn rất rõ ràng cặn kẽ. Nhưng thiết nghĩ, mỗi cuốn sẽ có một nét hay riêng của nó. Mong rằng tập sách này sẽ không thừa đối với những người thích nghiên cứu, tìm hiểu giáo lý đạo Phật.

                                                                                                                  12-1982

"NẾU CÕI ĐỜI KHÔNG ĐAU KHỔ TỐI TĂM
TA KHÔNG XUẤT HIỆN Ở TRẦN GIAN "
                                                                  SAKYA MUNI

Cuộc sống nhân loại càng ngày càng trở nên phức tạp và hổn hợp. Vì mãi đấu tranh cho cuộc sống, cho dục vọng tham, sân, si đã dẫn dắt con người đi sâu vào con đường của đau khổ, sa đọa. Do bởi không nhận chân được thực tướng vô thường của thế gian, rõ biết sự giả hợp nơi bản thân, sự sinh diệt của vũ trụ nên mãi mê tham đắm khổ cầu chạy theo thị dục, thị hiếu của xã hội để rồi phải sa lầy vào đám bùn nhơ tham vọng. Càng đấu tranh khuấy động bao nhiêu thì bùn lầy tội lỗi sẽ nhận chìm con người lún xuống bấy nhiêu. Như vậy đã sa vào vũng bùn tham dục, còn khuấy động thêm nữa thì hậu quả càng trầm trọng khó có thể trở lên nơi khô ráo một cách dễ dàng được.

Từ chỗ sạch sẽ đi vào con đường bùn lầy. Ví như bệnh đã bộc phát nơi thân thì phải có phương pháp, thuốc men chữa trị... Vậy muốn lìa khổ được vui chúng ta phải theo sự chỉ dẫn của những vị hướng đạo. Đại biểu là đức Phật. Vì ngài là người đã chứng nghiệm bằng chính bản thân và đạt đến kết quả giải thoát, xứng đáng làm mô phạm cho cả trời người noi theo học tập. Chính các đệ tử của Phật đã hành trì theo lời dạy và thâu hoạch được rất nhiều lợi ích trong cuộc sống. Lịch sử ra đời của đạo Phật đã chứng minh điều đó, không phải chuyện hảo huyền vô căn cứ. Mỗi người trong chúng ta ai có thực hành mới thấy được giá trị đích thực cao siêu tuyệt vời của nó. Ví như người uống nước nóng lạnh tự mình biết được. Như người thưởng thức những món cao lương mỹ vị mới có thể cảm nhận cái ngon lành thơm quý của các món ấy mà thôi. Nếu chỉ nghe và biết, chưa hoặc không trực tiếp hưởng thụ thì chẳng bao giờ được lợi ích thiết thực.

Giáo pháp đức Phật có muôn ngàn phương tiện. Thế nên tùy theo căn cơ trình độ chúng sinh thích hợp mà thực hành. Điều này đòi hỏi con người phải có một trí tuệ sáng suốt để nhận định, chọn đúng hướng đi cho mình, khỏi nhọc lòng mà kết quả lại khả quan. Nhưng cho dù pháp môn nào đi nữa cũng không ngoài mục đích hướng dẫn chúng sinh lìa khổ đạt vui, giũ sạch phiền não tham sân, si đạt đến chỗ thanh tịnh giải thoát. Đức Phật dạy: "Cũng như nước trong tất cả biển duy chỉ có một hương vị, hương vị của mặn. Trong tất cả giáo pháp của Như Lai chỉ có một hương vị, hương vị của giải thoát". Đường đến thành La Mã có rất nhiều, hoặc gần hay xa, mau hay chậm, nhưng mục đích của kẻ lữ hành chỉ có một. Tuy nhiên, nếu biết nhầm đường mà không trở lại, có bệnh mà không chịu kiêng cử, uống thuốc, lỗi ấy không phải tại người hướng đạo không chỉ dẫn cặn kẽ, thầy thuốc không căn dặn rõ ràng, mà chính do ta không chịu hồi đầu đi theo con đường bằng phẳng, chẳng chịu uống thuốc, chắc chắn không bao giờ ta đến nơi đất sạch hoặc hết bệnh cho được. Chẳng phải đường khó mà do lòng ta ngại khó, chẳng phải tại thuốc không công hiệu mà tại ta sợ đắng. Phải đi, dù cho đi chậm vẫn còn hơn không. Phải uống, dù cho chưa hết bệnh ngay, nhưng thuốc sẽ thấm dần vào cơ thể. Kiên trì nhẫn nại tiến bước thì dù xa đến đâu, khó khăn cách mấy cũng sẽ vượt qua và tới đích. Trái lại, nếu một bước tới hai bước lùi thì dù cho lâu đài hạnh phúc có hiển hiện trước mắt vẫn xa ta muôn trùng chẳng làm sao tới được. Thanh Sĩ có câu:

Cố đi mãi đường dài hóa ngắn
Còn nghỉ luôn lộ cận hóa xa.

Trong Kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy: "Nhân thị tối thắng, năng sinh nhất thiết chư pháp thiện cố". Nghĩa là: con người là hơn cả, vì con người có khả năng thể hiện hết thảy mọi sự cao đẹp. Thật vậy, nhìn hạn hẹp vào một thế giới ta đang sống, con người là một động vật như bao loài động vật khác. Cũng tham sống sợ chết, cũng đau khổ buồn vui, cũng thỏa mãn dục tính... Nhưng do lý trí và khả năng sáng tạo, con người đã vượt lên trên mọi động vật khác, thay đổi và biến chuyển cuộc đời từ lạc hậu thô sơ đến tiến bộ thẩm mỹ. Xét về mặt rộng, theo kinh Phật dạy, con người là một thú trong lục đạo luân hồi. Tuy cõi Ta bà mà ta hiện sống là tạp sinh và khổ vui lẫn lộn, không như các cõi khác có sự phân định rõ rệt. Nhưng nhờ ở điểm này mà con người có ưu thắng và dễ ý thức về tính cách vô thường của thế gian để cầu tiến.

Dưới tuêï nhãn của Phật: "Trong tất cả các loài con người có đủ điều kiện hơn, như về trí khôn ngoan chẳng hạn. Nhất là hoàn cảnh con người không quá khổ như địa ngục, không quá vui như thiên đàng và không ngu si như thú vật". (Kinh Ưu Bà Tắc). Xét về lục đạo luân hồi, ta có thể phân chia cõi Trời biểu tượng của vui và địa ngục biểu tượng của đau khổ đọa đày. Đối với cảnh giới cao đẹp, chúng sinh ở cõi Trời toàn hưởng những phước báo, thân hình tốt xinh, tướng hảo uy nghi, khí hậu thanh khiết, cảnh trí trang nghiêm tuyệt mỹ cuộc sống đầy đủ tiện nghi sung sướng, những thứ khổ não lo sầu không thể xâm nhập len lõi vào thế giới ấy được. Từ nguyên nhân hoàn hão này khiến họ trở nên giải đải, chỉ biết hưởng thụ mà không tiến tu hầu tăng trưởng thiện pháp. Khi đã hết phước báo đã gieo trồng trong quá khứ, rồi tùy theo nghiệp lực có thể sa đoạ trở xuống cảnh giới thấp hơn thậm chí còn rơi vào khổ cảnh. Đó là luật tiến hóa và đào thải của vũ trụ nhân quả. Ví như chiếc thuyền trên dòng nước ngược nếu không tiến ắt phải bị lùi. Tương phản với cõi Trời là địa ngục. Những chúng sinh đọa đày nơi khổ cảnh này hoàn toàn không có một chút vui sướng, luôn luôn sống trong những lo âu sợ sệt, chịu bao cực hình đau khổ, chung quanh họ toàn là cảnh tượng hãi hùng diễn biến. Do quả nghiệp này, họ khó có thể phát khởi thiện tâm, gieo nhân giải thoát cho được. Duy chỉ có con người là trọng tâm giữa các sự khổ và vui, là nấc thang thăng hoa từ phàm phu đến quả vị thánh hiền, là chủ thể của vạn hữu. Do vậy con người được tôn xưng là tối linh hơn cả: "Nhân linh ư vạn vật". Con người có khả năng tự định đoạt vận mạng tương lai của mình. Con người dễ đạt đến quả vị Chánh đẳng chánh giác.

Trong Kinh Pháp Cú, Phật dạy: "Làm dữ bởi ta mà ô nhiễm cũng bởi ta. Làm lành bởi ta mà thanh tịnh cũng bởi ta. Tịnh hay bất tịnh cũng bởi ta, chứ không ai có thể làm cho ta thanh tịnh được". Vậy chính ta làm cho ta trong sạch và cũng chính ta làm cho ta ô nhiễm. Hạnh phúc hay đau khổ do chính con người tạo ra, không ai có quyền ban phước giáng họa hoặc thưởng phạt ai cả. Chỉ có nhân quả nghiệp báo là quan tòa công lý vận hành quyết định số phận của mỗi chúng sinh mà thôi. Ví như một người được gọi là bác sĩ. Có phải do tự nhiên mà được không? Hoặc Thượng đế hay vị thần nào đó "cảm tình riêng" vì lỡ nhận chút ít quà cáp biếu xén nên đã tặng cho ông danh hiệu ấy chăng? Không, chính thực tế nhân quả đã tạo thành danh phận ấy. Với một quá trình lâu dài tu học chuyên cần, tốn bao công sức tài của, trong đó ý chí là sức mạnh vô biên thúc đẩy để người ta trở nên những tài năng hữu ích. Do lẽ đó mỗi con người chúng ta phải tự tạo cho mình một lý tưởng để từ đó mà thăng tiến, xây dựng một tương lai huy hoàng sáng lạn.

Muốn qua sông phải nhờ thuyền, nhưng có thuyền cũng chưa đủ cần phải chèo chống nó đi. Muốn trở thành con người hoàn thiện hưởng sự an vui giải thoát, chúng ta không chỉ có phương pháp hướng dẫn sẵn sàng, mục đích rõ rệt mà điều quan trọng nhất là phải thực hành cho đúng và cho được. Cái khó là ở chỗ này. Thế nên sau khi tiếp thu và hiểu thấu lời Phật dạy, chúng ta nên từng bước từng bước chậm rãi mà đi. Như người leo núi cao chẳng nên hấp tấp vội vã. Nếu không cẩn thận vô tình trợt chân té ngã sẽ khó lòng đi tiếp được. Chẳng may "bất đắc kỳ tử" thì coi như bao nhiêu công trình đều dở dang hết. Hãy nhớ câu "Dục tốc bất đạt". Hoặc cây chóng lên thì dễ bị gió thổi gẫy non. Thế nên, TU NHÀ là bước đầu căn bản cho người Phật tử tại gia làm bàn đạp tiến lên con đường giải thoát sau này. Vậy thế nào là TU NHÀ?

Nói đến chữ TU có lẽ - hầu như đa số - đều nghĩ ngay đến ông sư bà vãi nào đó ở chùa, giam mình trong cảnh hiu quạnh cô độc, quanh năm suốt tháng chỉ tương dưa, rau quả khổ hạnh, suốt đời áo vải nâu sồng chẳng biết gì đến thế sự nhân tình... Nói chung họ gần như là người chôn vùi cuộc sống nơi cửa Thiền, "còn sống mà coi như đã chết". Do vậy nhiều người rất sợ tiếng TU. Khi xưa hễ ai nói với tôi về vấn đề tu hành là tôi gạt ngang phản đối lại liền. Bởi vì tôi rất "cữ" tiếng ấy. Điều này cũng dễ hiểu tại sao tôi lại cữ. Thú thật tôi rất sợ gò bó, không được tự do nhất là - xin độc giả chớ cười - không được đi xem xi nê! Lại thêm một tội mê coi đá banh, vì ít ra tôi đã có một thời là "cầu thủ tí hon". Nếu xét cho cùng thì chữ tu không phải tuyệt đối như thế, mà còn tùy theo mỗi trình độ tu hành của con người. Vậy TU là gì?

Chữ tu nói chung là sửa đổi. Nếu đi cùng với một từ nào đó nó sẽ cho ta được nhiều nghĩa. Chẳng hạn:

- Tu tâm: là sửa đổi tâm tánh từ tà vạy thành ngay thẳng, xấu ra tốt, dữ hóa hiền, ích kỷ thành độ lượng...

-  Tu thân: là sửa mình cho đứng đắn, nghiêm trang, tề chỉnh. Hành động phải cẩn thận không nên vụt chạc...

- Tu bổ: sửa đổi cho được tốt đẹp, thêm thắt cho đầy đủ. Như tu bổ nhà cửa, kiều lộ, tịnh xá...

- Tu dưỡng: sửa các điều xấu và vun bồi nuôi dưỡng tăng trưởng các điều thiện.

- Tu hành: sửa đổi và thực hành theo một phương pháp nào đó để đưa con người đạt đến lý tưởng mà họ theo đuổi.

Nói tóm lại, chữ tu có nghĩa là sửa đổi và bồi bổ. Sửa những điều sai trái, sai lầm, xấu ác, bồi bổ đức tính từ bi hỷ xả, tăng trưởng các thiện pháp tới chỗ chân thiện mỹ. Người tu ví như kẻ sửa đường, chỗ nào cao thì san xuống cho bằng, chỗ nào thấp trũng bồi đắp lên cho đầy. Thế nên ý nghĩa chữ tu này tùy theo trình độ mà có cao thấp khác nhau. Từ người xấu thành tốt, từ phàm phu đến thánh hiền, từ chúng sanh lên quả vị Phật.

Còn nhà là nơi tụ họp của một gia đình nhỏ hẹp trong đó có cha mẹ, con cái cùng nương náu để che mưa đở nắng, xây dựng cuộc sống gia đình ấm no hạnh phúc. Nhà là một phần tử hết sức quan trọng trong cộng đồng xã hội, là môi trường đạo đức rất tốt sản sinh ra những nhân tài sau này nối tiếp cha ông xây dựng đất nước, cường thịnh quốc gia. Một xã hội có thể ví như tòa nhà đồ sộ, mỗi gia đình là một viên ngói đan khít với nhau để che chở bảo vệ đồ vật trong nhà khỏi bị mưa nắng làm hư hoại. Nếu một tấm ngói - một gia đình - bị hư bể thì toàn bộ căn nhà cũng ảnh hưởng không ít. Do vậy, nói chung thì một gia đình hay gần hơn nữa là từng con người sẽ đóng một vai trò khá quan trọng trong việc xây dựng và cải hóa thế giới Ta bà thành cõi Tịnh độ hiện tiền.

Tóm lại ,TU NHÀ là nói về những điều cơ bản mà người Phật tử tu tập tại gia, trong phạm vi gia đình chưa vượt khỏi hạn chế bổn phận và trách nhiệm đối với cha mẹ, vợ chồng, con cái. Thế nên, hiểu rõ chữ Tu người Phật tử phải biết phận sự của mình ở địa vị nào hầu làm tròn. Đồng thời để tránh tình trạng có người vừa quy y Tam Bảo, hiểu chút ít giáo lý Phật về nhà lại tỏ ra lãnh đạm thờ ơ với công việc gia đình, chẳng thiết quan hệ với ai, nhắm mắt làm ngơ không thèm thấy nghe tin tức thế sự. Thậm chí đến việc giáo dục con cái cũng "phớt tỉnh Ăng lê" luôn. Sống chết tốt xấu mặc bay, ta cứ thản nhiên lim dim ngồi niệm Phật cầu sinh Tây phương Cực lạc. Hành động ấy ta lại vô tình gây thêm sự xáo trộn, bất hòa giữa cha mẹ và con cái, sai tinh thần giáo lý Phật dạy.

Tu đâu phải tách biệt mọi quan hệ với mọi người chung quanh. Chúng ta nên nhớ câu: "Bà con xa không bằng láng giềng gần". Đời sống con người đâu phải lúc nào cũng bình thản lặng yên, đôi khi cũng có những biến cố tai họa xảy đến. Nếu thật sư hằng ngày ta chẳng thèm đếm xỉa đến ai, thì gia đình ta hữu sự lại có lẽ nào ta lại thản nhiên ngồi đón nhận những ân huệ kẻ khác ban cho, quả là tủi hổ và kỳ lắm đấy! Tu đâu phải nhắm mắt bịt tai. Nếu có chăng là đừng nhìn bậy, đừng nghe lời xàm quấy. Còn tất cả sinh hoạt tin tức xã hội rất cần thiết cho việc mỡ mang kiến thức và là bài học quý giá để chúng ta học tập và ngăn ngừa. Trong Kinh Bát Đại Nhân Giác có dạy: "Quảng học đa văn, tăng trưởng trí tuệ". Nếu chúng ta không học rộng nghe nhiều làm sao được tăng trưởng trí huệ?

Ý nghĩa của chữ học ở đây không chỉ có cắp sách đến trường mới gọi là học. Thực ra qua kinh nghiệm bản thân, qua thực tế hiện sinh, qua những cái mắt thấy tai nghe, qua sách vở ta chọn lọc tiếp thu được những điều hay lẽ phải. Tất cả hình thức đó đều là học cả. Thế nên theo dõi tin tức thế gian là nâng cao kiến giải cho sự tu hành của mình phù hợp với quy luật phát triển của xã hội. Riêng vấn đề giáo dục gia đình người Phật tử phải có trách nhiệm cao hơn nữa. Khi chưa hiểu đạo thì ta hướng dẫn con cái theo chiều hướng thế gian. Nay hiểu đạo phải có bổn phận hướng dẫn con trẻ sống theo tinh thần Phật dạy Thế nên, tu không phải mặc nhiên ai làm gì thì làm, tốt xấu mặc kệ, mình chỉ biết lo phận mình là đủ. Chính ra người hiểu đạo phải tích cực cải thiện bản thân và khuyến hóa người khác tránh ác hành thiện.

I.- SỰ TU THÂN CỦA CHA MẸ
A.- ĐỐI VỚI BẢN THÂN

Cha mẹ là người thầy giáo đầu tiên, là bài học vỡ lòng, là tấm gương sáng để con trẻ soi bóng, noi theo và học tập. Đức hạnh của cha mẹ ảnh hưởng lớn tới đời sống tương lai của con trẻ. Vai trò cha mẹ trong gia đình ví như vị đứng đầu quốc gia. Gia đình hạnh phúc hay chia rẽ, anh em có trên kính dưới nhường hòa thuận hay không, quốc gia hưng thịnh hay suy vi, nhân dân an cư lạc nghiệp hay đói khổ loạn lạc đều do cha mẹ hay vị lãnh đạo trực tiếp hoặc gián tiếp có trách nhiệm về sự tốt hay xấu ấy.

Khổng Tử nói: "Thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Theo quan điểm của ông cũng lấy tu thân làm gốc trong việc tề gia trị quốc bình thiên hạ. Đối với cha mẹ việc tu thân rất cần thiết. Vì qua đó mà con trẻ mới cảm thụ, thấm nhuần những cái hay cái đẹp toát ra từ hành động thân thiết hằng ngày. Ví như một bông hoa thơm, một nén hương trầm để trong nhà sẽ tỏa ngát hương thơm đến tất cả mọi người. Trái lại, nếu là hũ mắm mở nắp thì thật là cơ khổ cho con cháu và mọi người khác khi bước vào nhà ấy! Thế nên, muốn xây dựng tô bồi hạnh phúc gia đình, muốn làm mô phạm giáo dục con cháu, muốn trở thành người hữu ích cho xã hội, muốn làm việc quốc gia đại sự... trước hết con người phải biết tu sửa bản thân, biết cải ác tùng thiện, làm tròn bổn phận trách nhiệm vị trí của mình nhiên hậu mới có thể thực hiện được các lợi ích trên.

Là Phật tử tại gia vấn đề tu thân càng phải thể hiện một cách tiêu biểu, tích cực hơn nữa. Vì sao thế? Vì chúng ta đã tự hào hãnh diện, sung sướng mang danh Phật tử tức là con Phật. Mà Phật đại biểu cho trí tuệ siêu tuyệt, tình thương vô lượng. Ít ra chúng ta "con nhà tông không giống lông cũng giống cánh" chứ! Suốt 49 năm ròng rã, Phật luôn vì lợi ích cho chúng sanh không ngừng gian khổ hành đạo, gieo rắc ánh đạo vàng khắp cõi Ta bà, hướng dẫn nhân loại lên đường giải thoát, nêu bao gương hạnh cao quý, uy đức trang nghiêm để thu phục lòng người, cảm hóa kẻ ác, nhiếp phục ma quân. Ngày nay chúng ta hữu phước đa duyên gặp được Tam Bảo thấm nhuần đôi chút giáo lý Phật đà, thừa hưởng gia tài pháp bảo, ta phải cố gắng tu tập để khỏi phụ lòng những vị đã khai đạo, noi theo dấu chân xưa hầu tô điểm đức hạnh, làm đẹp cuộc đời. Được vậy, mới xứng danh đệ tử của đấng: "Thiên nhân chi đạo sư, tứ sanh chi Từ phụ".

Sự tu thân của cha mẹ sẽ là nhịp cầu bắc ngang giữa lời dạy của đức Phật. Vì qua lời nói, cử chỉ, hành động hàng ngày mà con trẻ sẽ hiểu phần nào giá trị giáo lý Phật và ít nhiều nó cũng nhận ra rằng Phật pháp đã tạo nên những đức hạnh mẫu mực ấy nơi cha mẹ mình. Từ những hành vi cao đẹp, những việc làm từ thiện hữu ích đó sẽ dần dần ăn sâu, ảnh hưởng trực tiếp vào tiềm thức con trẻ và là bài học thực tế nhất giáo dục chúng trở thành những đứa con hiếu hạnh, có đạo đức và là công dân tốt của xã hội tương lai. Sự tu thân của cha mẹ cần nên thực hiện các điều sau:

    1.- Tránh sát sanh

      Trong Kinh Pháp Cú, Phật dạy:

Ai ai cũng sợ gươm đao
Ai ai cũng sợ sự chết
Lấy lòng mình suy lòng người
Chớ giết chớ bảo người giết.

Tất cả chúng sanh đều có tính tham sanh úy tử. Vì mạng sống là điều rất quý. Tiền bạc mất đi có thể kiếm lại được bằng sức lao động và sự cần kiệm; sức khỏe hao mòn suy yếu có thể phục hồi bằng thuốc men, ăn uống bồi dưỡng. Thế nhưng thân người nếu mất đi muôn kiếp khó được. Chúng ta nên biết mọi nhân lành quả tốt đều từ sự sống mà nảy sanh. Do vậy, với bản tánh tự nhiên ai ai cũng ngán sợ trước những thảm cảnh giết hại dã man, những tai nạn khủng khiếp xảy đến với mình. Cứ suy lòng mình ra lòng người, những gì mình sợ, mình không muốn thì đừng nên tạo cái khổ cho kẻ khác. Như câu Khổng Tử đã nói: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân" là thế. Hiểu được mạng sống là quý, giết hại làm mất sự sống kẻ khác là độc ác người Phật tử phải luôn luôn tôn trọng sự sống, không vì tham vọng hay ích lợi riêng tư mà hủy hoại sự sống.

Tránh sát sanh sẽ tạo cho chính bản thân cha mẹ được các điều như:

          a.- Nuôi dưỡng lòng từ và dạy con đức tính từ ái.

          Tình thương là chất nhựa gắn liền con người với con người, con người với muôn loại động vật khác. Nó làm cho nhân loại chúng sinh gần gũi, thông cảm và thương yêu nhau hơn. Để hiểu rõ điều này qua lịch sử cuộc đời đức Phật ta thấy: khi ngài từ bỏ cung điện nguy nga, vợ đẹp con xinh, một mình dấn thân vào rừng sâu cảnh vắng tầm đạo, sống đơn độc không vũ khí nơi mình, trong khi chung quanh ngài toàn những thú dữ, nhỏ như muỗi mòng, rắn rít, lớn như cọp, beo, sư tử, gấu... Thế nhưng tại sao ngài vẫn ung dung trải qua bao tháng năm nơi rừng thiêng nước độc mà không hề tổn thương đến tính mạng? Đây là điều mà ít ai để ý nhưng rất quan trọng. Hay là đức Phật có phép lạ chăng? Hay ngài có võ thuật cao cường? Hoặc phương thuốc bí truyền nào đó? Không, chẳng có một sức mạnh nào khác hơn tâm bình đẳng và lòng từ bi vô lượng của Ngài. Chính những đức hạnh này là mạng lưới vô hình bao bọc che chở, đồng thời cảm hóa tất cả những thú dữ quy phục dưới chân Ngài.

Để thực tế chứng minh rõ lòng từ và tâm bình đẳng có tác dụng thế nào, hằng ngày trong cuộc sống ta cố gắng thể hiện tình thương và hòa hợp với bà con lối xóm, tận tụy giúp đở họ lúc khó khăn hoạn nạn, chúng ta sẽ cảm thấy mọi người yêu thương, quý mến ta thế nào. Đối với loài vật cũng vậy, nếu ta thương mến chúng chúng sẽ gần gũi và không sợ hãi ta.

Do đó tránh sát sanh cũng có nghĩa là nuôi dưỡng lòng từ, thể hiện tâm bình đẳng với muôn loài, không nở thấy những chúng sinh bị đâm giết, quằn quại đau khổ. Từ tâm niệm ấy sẽ giúp cho ta thông cảm nỗi khổ đau của kẻ yếu và phát khởi tình thương chan chứa đến muôn loài. Do tôn trọng sự sống và lấy từ bi làm phương châm hành động sẽ cảm hóa được con trẻ xa lìa tâm sát hại, nẩy nở đức tính thương người mến vật và biết quý trọng sự sống mở lòng bao dung rộng rãi đến tất cả muôn loài.

          b.- Tránh nhân quả báo ứng và thù hận.

          Có lẽ làm người ai cũng muốn sống trong sự an vui hạnh phúc, không thích kẻ nào quấy rầy hoặc dùng bạo lực để gây thương tổn đến bản thân. Đó là mong ước của mọi loài động vật. Đúng, chỉ có thế thôi: an vui hạnh phúc và không bị ai quấy rầy sát hại. Tuy nhiên với sức mạnh và sự bất công của con người nói chung, lại tìm sự an vui hạnh phúc trên những đau khổ đọa đày của kẻ khác, thỏa lòng thích khẩu trước những cái chết thê thảm của các loài khác. Nếu đứng về phương diện bình đẳng giữa sự sống với nhau, thì hành động ấy quả thật là "cá lớn nuốt cá bé" hoặc "mạnh được yếu thua". Chúng ta cứ tưởng tượng một con gà đang vùng vẫy trước sức mạnh của con người. Họ đè cánh chúng, trói chân lại, nhổ lông, rồi kề dao vào cổ cứa... í ẹ ghê quá! Máu chảy ra. Thử hỏi con gà ấy có đau khổ, oán thù kẻ cắt cổ nó không? Rồi ta hãy xét qua trường hợp này. Một gia đình nọ đang sống êm ấm hạnh phúc. Bỗng một hôm có toán cướp với vũ khí trong tay xông vào nhà cướp của và bắt con gái hiếp dâm. Người cha thấy vậy quá đau lòng nhào vô can ngăn và bị chúng dùng dao đâm chết. Trước thảm cảnh này vợ và con sẽ nghĩ gì? Có căm tức oán thù bọn cướp ấy không? Nếu có thì làm gì được họ đây hay cũng đành cắn răng nhẫn chịu trước lưỡi dao họng súng kia? Qua hai trường hợp ấy chúng ta thấy chỉ vì sức yếu nên con vật chịu cắt cổ trước sức mạnh của loài người, con người bất lực trước sức mạnh của tập thể uy hiếp, họng súng dọa nạt. Thế nhưng hai trường hợp ấy đâu phải kẻ cô yếu không oán hờn mong ngày báo thù? Nếu xét về nhân quả, không sớm thì muộn kẻ gây ác sẽ gặt ác quả. Kinh Pháp cú dạy: "Người nào cầu hạnh phúc cho mình mà dùng dao gậy phá hoại hạnh phúc kẻ khác, thì sẽ không bao giờ được hạnh phúc".

Một vấn đề nan giải là người mẹ phải đảm đương về việc ăn uống hằng ngày của gia đình, làm sao tránh khỏi sát sanh? Có lẽ nhiều Phật tử băn khoăn lo nghĩ như thế. Ở đây chúng tôi mong rằng quý vị nên cố gắng bằng mọi cách giảm tối đa việc sát sanh. Nếu vì gia đình đòi hỏi hoặc cần ăn thì ta có thể mua những thứ bán sẵn ở chợ đem về nấu nướng. Thế mình không giết, đi mua ở chợ người ta giết sẵn mình ăn cũng là tội vậy? Đúng, nhưng vì không còn giải pháp nào hơn, chúng tôi đành phải đề nghị như thế. Nếu chúng ta không ăn thì đâu có ai giết bán làm gì! Đã ăn thì không trực tiếp cũng gián tiếp khuyến khích kẻ khác sát sanh. Ngoài ra, cha mẹ nên ngăn ngừa và nhắc nhở con trẻ không nên lấy việc giết hại để làm trò giải trí. Chẳng hạn như trường hợp sau mà tôi đã chứng kiến:

Vào buổi tối nọ, sau khi công phu chiều vừa xong, tôi nghe tiếng reo hò ầm ĩ của trẻ con xen lẫn giọng cười thích thú của một số người lớn bên cạnh chùa. Từ trên lầu nhìn xuống, tôi thấy một con chuột đang bị thui sống. Bọn trẻ dùng phương pháp là cột chú chuột bằng sợi kẽm ngang lưng, treo tòn ten thòng đầu xuống, ở phía dưới đốt lửa. Con chuột vì nóng quá phải dãy dụa, kêu la chí chóe. Nhìn chuột vùng vẫy trong cái chết thê thảm, mọi người chung quanh vỗ tay cười reo với trò chơi quái ác này. Sau khi xem, tôi cảm thấy đau xót và thương hại cho lũ trẻ mới lớn đã tập tính sát sanh, vui cười trước sự đau khổ của kẻ khác. Riêng bậc phụ huynh, lẽ nào ta lại đứng xem con trẻ hành động thiếu lương tâm như thế. Đã không ngăn cản lại còn vui cười với chúng, vô tình - hay nói đúng hơn cố ý - ta cũng đồng lõa với việc làm dã man của chúng. Thử hỏi, ở địa vị cha mẹ như vậy có xứng đáng làm mô phạm hoặc đủ tư cách dạy bảo con trẻ không? Vả lại, thử đặt ta vào trường hợp con chuột đang bị thui ấy, ta sẽ cảm thấy thế nào? Hẳn chúng ta vẫn tự hào con người là loài động vật cấp cao, có đầy đủ trí khôn, giàu lòng nhân ái và nhờ những đức tính này mà con người khác hơn loài vật. Nhưng nếu chúng ta hành động theo bản năng, thiếu suy nghĩ, trái lương tâm, thô bạo, dã man thì có khác chi loài thú đâu?

Nên nhớ, ăn để mà sống không phải sống để mà "xực" cho đẫy đà thỏa mãn khẩu vị của mình. Cũng vì cái miệng tham ăn đã đày đọa tấm thân, gây bao nghiệp chướng và chiến tranh ngày nay có ra cũng do từ sự xung đột tranh dành miếng ăn, chỗ ở. Tại sao ta muốn sống, muốn giữ gìn bảo vệ sức khỏe lại đi cướp đoạt sự sống của loài khác tô đắp cho sự sống của mình chứ? Ôi! Quả là bất công và tàn nhẫn vô cùng. Vì phục vụ cho dục vọng, con người đã bày ra đủ mọi cách ăn uống, chế biến đủ các loại cho hợp khẩu vị khiến bao loài vật phải chết thê thảm, đau khổ, rên siết. Thế nhưng "máy xay của Trời tuy chậm, nhưng xay thật kỷ" (The mills of the gods grind slowly, but they grind exceedingly fine - English Proverb). Không sớm thì muộn quả báo sẽ đến cho những ai làm ác. Câu chuyện sau đây sẽ chứng minh điều ấy:

Ở Thượng Hải, có nhà triệu phú họ Bành, một doanh thương cự phú ở đô thị. Ông nghiên cứu được món ăn rất hấp dẫn, mệnh danh là món "quán miết giáp" (rót nước vào chiếc mai ba ba). Ông chế ra một chiếc nồi đất, trên vung có đục một cái lỗ nhỏ vừa bằng đầu con ba ba chui lọt. Rồi cho ba ba vào một nồi nước đem đăït lên trên bếp đun. Dĩ nhiên, một lúc sau nước nóng ba ba chịu không nổi phải tìm lối thoát và nó chỉ còn một cách duy nhất là cho cổ chui ra khỏi lỗ vung nồi, nhưng thân hình thì đâu dễ gì thoát khỏi. Nước càng nóng ba ba chỉ còn biết hả miệng ra chờ chết, thế là nhà cự phú họ Bành đàng hoàng ngồi đổ gia vị vào miệng ba ba (dầu, húng lìu, mỡ, thịt băm nhỏ) rồi bịt kín nồi hầm nhừ thành một món ăn mà họ Bành cho là "dzách lầu" ở trên thế gian này... Họ Bành thường ăn như vậy và thường làm cả trăm con một lúc để đải khách. Thế nhưng "ác giả thì ác báo". Một hôm nhà họ Bành xảy ra hỏa hoạn, lúc ấy họ Bành đang say sưa trong giấc mộng sau một đại tiệc toàn là món miết giáp. Khi phát hiện ra hỏa hoạn, họ Bành tỉnh giấc thì đã muộn, lửa cháy chung quanh, luống cuống họ Bành tìm không ra chìa khóa cửa. Vì là cự phú nên ông rất sợ bị bắt cóc và trộm cướp cho nên lúc nào cũng ở trên phòng kiên cố trên lầu, cửa sắt bao bọc vững chắc. Lửa cháy tứ tung kéo đến gần kề. Cùng đường họ Bành thấy còn một lối thoát duy nhất là chiếc của sổ, ông liền chui đầu qua song sắt, nhưng khốn nỗi thân hình to béo với cái bụng nước lèo không thể lọt qua. Lúc ấy xe cứu hỏa tới, vì đầy khói nên không thấy họ Bành, cứ phun nước vào mặt mũi làm ông chết ngạt, đồng thời trong phòng lửa cháy dần dần thui sống ông trông thật thê thảm. Nhìn cảnh ấy ai cũng liên tưởng tới món miết giáp của ông. Trước kia ông hành hạ những con ba ba vô tội hết sức tàn ác, thì bây giờ ông cũng bị chết trong trường hợp y hệt như những con ba ba nạn nhân của ông. Thật là luật nhân quả có vay có trả, lúc nào cũng cân xứng.

Qua câu chuyện trên ta thấy, lúc thọ hưởng và thỏa mãn khẩu vị trên những đau khổ, quằn quại, rên siết của động vật khác, ta tưởng là thú lắm, sung sướng lắm, bổ béo lắm. Nhưng khi chính ta lâm vào hoàn cảnh ấy ta mới thông cảm được thế nào là nước sôi lửa đốt. Chừng đó ta có oán hận ngọn lửa tàn ác kia saolại dã man "thui" mình không một chút thương tiếc như thế. Dù đã kêu gào than khóc, nguyền rủa nó vẫn cứ mặc nhiên cháy, như họ Bành "rung đùi" lạnh lùng thản nhiên ngồi nhìn con ba ba thò đầu trong nồi nước sôi kia vậy. Quả là trước công lý mọi chúng sanh đều bình đẳng."Khi ác nghiệp chưa thành thục người ngu tưởng như đường mâït, nhưng khi ác nghiệp đã thành thục họ nhất định chịu khổ đắng cay" (Kinh Pháp Cú).

Sát sinh có rất nhiều hình thức nói chung thì hình thức nào cũng dẫn đến quả báo. Tùy theo hành động thô bạo hay tế nhị, cố sát hay ngộ sát mà có sự nặng nhẹ khác nhau. Tổ Quy Sơn dạy:

"Giả sử bá thiên kiếp
 Sở tác nghiệp bất vong
Nhân duyên hội ngộ thời
Quả báo hườn tự thọ".

Nghĩa là dù trải trăm nghìn kiếp, chỗ làm nghiệp chẳng mất, khi nhân duyên đầy đủ, quả báo trở lại mình. Thế nên, tất cả mọi hành động nơi thân khẩu ý phải e dè thận trọng, tránh gây nhân bất thiện. Bởi vì một khi hột giống đã gieo xuống đất không sớm thì muộn, lúc nhân duyên đầy đủ nó liền nẩy mầm đâm chồi. Tích truyện Mục Kiền Liên sau đây sẽ chứng tỏ cho thấy việc sát sanh tạo sự oan trái, thù hận rất lâu dài:

Mục Kiền Liên là một vị đệ tử đứng vào hàng thứ hai trong Thập đại đệ tử của đức Phật, nổi tiếng về phương diện thần thông đệ nhất.

Một lần nọ đang trên đường hóa đạo, đi ngang qua núi Y Tư Xa Lê, Mục Kiền Liên bị bọn Lõa hình ngoại đạo sát hại bằng cách xô đá từ trên núi xuống. Đá rơi loạn xạ như mưa khiến nhục thân của tôn giả dập nhừ tan nát.

Được tin này, các vị Tỳ kheo vô cùng thắc mắc, bèn tập họp lại để cầu thỉnh đức Phật chỉ rõ nguyên do.

- Bạch đức Thế Tôn! Mục Kiền Liên là người có thần thông oanh liệt, tại sao không dùng sức thần để đối kháng với ngoại đạo?

Đức Phật giải thích:

- Các Tỳ kheo! Khi Mục Kiền Liên lâm nạn chẳng phải ông ấy không biết dự phòng để bảo vệ cho mình khỏi tai nạn nhưng thần thông không vượt qua nghiệp lực, vì thần thông không phải là biện pháp cứu cánh, người tu hành chẳng thể đi ngược lại lý nhân quả. Mục Kiền Liên (trong quá khứ làm nghề chài lưới) vì gieo nhân sát sanh nên quả nghiệp sát cần phải kết thúc đời này để được giải thoát vĩnh viễn.

Là một bậc thần thông biến hóa như Mục Kiền Liên còn không tránh khỏi nghiệp quả do mình gây tạo trong quá khứ, huống hồ chúng ta là kẻ phàm phu đầy nghiệp chướng lại không e dè sợ sệt tránh nghiệp sát ư! Thử nghĩ lại coi, mỗi ngày chúng ta sát hại bao nhiêu sinh mạng loài vật? Ở đây chỉ cần đơn cử một ngày giết một con cá thôi và một năm sẽ có 365 con chết, mười năm là 3.650 con; rồi hai mươi, ba mươi, bốn mươi năm cho đến trọn đời, chúng ta sát hại bao nhiêu? Đương nhiên mỗi loài sẽ căm thù một ít, hờn oán chất chồng khiến cho oan oan tương báo, xoay chuyển trong vòng luân hồi lục đạo trả vay vay trả mãi mãi. Đừng tưởng lỗ nhỏ không làm đắm thuyền, tội nhỏ không phải trả báo. Là Phật tử khá nên suy xét cẩn thận điều này.

Chẳng phải bay lên không trung
Chẳng phải lặn xuống đáy biển
Dù tìm khắp thế gian này
Chẳng nơi nào khỏi ác nghiệp.
(Kinh Pháp Cú).

Những dẫn tích vừa qua đã cho ta hiểu sự báo ứng và oán thù về nghiệp sát. Thế thì theo thiển ý của tôi có lẽ ai ai cũng sợ sự khổ, sợ đau đớn, sợ tai nạn, sợ cực hình, nhất là luân hồi sanh tử. Vậy không lý do gì ta cứ gieo thêm nhân sát sanh nữa. Muốn không có quả ớt thì đừng trồng cây ớt, muốn hết khổ báo đọa đày đền mạng thì đừng nên sát sanh. Vả lại, khi nêu lên mục này, chúng tôi đã dùng hình thức tránh sát sanh để trình bày. Còn sau khi đọc xong đọan trên, quý Phật tử đã hiểu rõ quả báo của sự sát sanh ghê tởm như thế nào. Có lẽ vì tình thương và tránh báo ứng, chúng ta sẽ không ác tâm đang tay giết hại loài vật cho đành.

Miệng người là huyệt mộ, bao tử là mồ chôn, thân là bãi tha ma đã dung chứa biết bao sinh mạng loài vạât phải chết oan uổng đau đớn vì cái xác ô uế giả tạm này. Xét cho kỷ thân thể con người được đúc kết bằng huyết nhục, bằng oan hồn, bằng đau khổ của loài thú. Nghiệp ác chất chồng, oán thù đầy dẫy. Vả lại thân người chỉ tồn tại một thời gian rồi cũng hư hoại, tan rã trả về với cát bụi. Một khi hơi thở ra không trở lại, hỏi có đem theo được cái xác thúi này không, hay cũng chỉ làm cho người đời ghê tởm, vùi sâu dưới ba tấc đất hoặc đốt thành nắm tro tàn vô dụng! Lúc ấy, bao nhiêu máu thịt của súc sinh tô bồi lên thân thể ta còn  lại được gì? Rồi ai chịu trách nhiệm về những tội lỗi ấy? Mong rằng Phật tử nói riêng và nhân loại nói chung, ai cũng muốn an vui hạnh phúc thì đừng nên phá hoại sự sống kẻ khác.

"Ta lấy con mắt trí tuệ mà nhìn, thì thấy hết thảy chúng sanh đều là cha mẹï của nhau. Tại sao ta lại bắt giết mà ăn thịt!"                                                                                                                                            (Kinh Niết Bàn)

      2.- Không gian tham trộm cắp

      Mạng sống con người đã là quý, mà những tài vật nuôi sống con người cũng không kém phần quan trọng trong đời sống nhân loại.

Người nông dân chân lấm tay bùn vất vả với công việc đồng áng; anh đạp xích lô còng lưng dốc sức chở khách; công nhân quần quật suốt 8 tiếng đồng hồ nơi nhà máy; cô bán hàng thức khuya dậy sớm với đôi gánh trên vai; người giáoviên canh thâu vẫn còn ngồi bóp đầu nặn óc soạn bài... Tất cả những việc làm cực nhọc ấy không ngoài mục đích vì sự sống, vì miếng cơm manh áo. Hơn thế nữa với sự tiến bộ khoa học ngày nay, nhu cầu vật chất cao, con người làm việc không chỉ để có miếng ăn mà còn mong sao có thêm những phương tiện cần thiết giúp cho sự sống thoải mái và mở mang kiến thức như: nhà cửa, xe cộ,ti vi, máy hát...Thế nên, trèo non lặn suối, đi ngược về xuôi, thức khuya dậy sớm, buôn tảo bán tần, lao thân khổ trí, cực khổ vô cùng cũng bởi đồng tiền bát gạo, bởi cuộc sống đầy đủ ấm no. Được nó ai cũng vui mừng sung sướng, gia đình vui vẻ ấm no. Mất nó người ta sẽ đau khổ xót xa, lo rầu thương tiếc. Từ đó có thể dẫn đến tình trạng gia đình sa sút, đời sống khó khăn khiến anh em chia lìa, vợ chồng ly cách, hạnh phúc tan vỡ.

Muốn sống con người phải có thực phẩm để ăn; muốn ấm thân cần có quần áo để mặc; muốn có cuộc sống thoải mái, đở vất vả người ta cần có những dụng cụ để xử dụng hàng ngày, nhất là tiền bạc, một phương tiện cần thiết trong mọi sinh hoạt đời sống nhân loại. Ắt hẳn ai ai cũng muốn giữ gìn bảo vệ nó, không thích kẻ khác xâm phạm hoặc cướp đoạt. Vì dù sao nó cũng là thành quả của biết bao công sức và mồ hôi nước mắt của họ đổ ra. Nếu chẳng may ai đó bị lường gạt, hoặc bị trộm cướp, không hiểu họ có buồn rầu đau khổ, xót xa, tiếc rẻ không nhỉ? Cứ suy lòng mình sẽ biết lòng người, của mình mình biết quý trọng giữ gìn, không lý nào lại tham lam trộm cắp của người để làm của riêng mình được Điều này rất trái nguyên tắc, coi chừng có ngày "vào khám ngồi xé lịch" thì khốn đấy.

Là Phật tử tại gia lại thêm bổn phận, danh nghĩa cha mẹ trong gia đình cần phải lập hạnh chân thật ngay thẳng để con trẻ noi gương. Trong sinh hoạt hàng ngày từ cây kim, cọng rau, quả ớt... nếu ta muốn xài phải mua, trường hợp không có thì hỏi xin người, chớ nên tự lấy ngang và cho vật đó là không đáng. Tục ngữ ta có câu: "Ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt". Nếu từ việc nhỏ nhặt ta không cẩn thận giữ gìn cho đúng đắn, lâu ngày thành quen đâm ra "ngứa nghề" thấy đồ vật quý của người là sáng mắt muốn "chôm chỉa" liền. Cứ nhìn những người nghiện trầu, thuốc, rượu sẽ rõ. Lúc đầu họ chỉ dùng chơi cho đở buồn hoặc xả giao thôi. Nhưng dần dần tập nhiễm lâu ngày thành quen (ghiền). Bấy giờ không có thuốc hút sẽ ngáp lia ngáp lịa buồn ngủ vô cùng, cái miệng thiếu trầu nhai nhóp nhép thì lạt lẽo chả ra làm sao cả, bữa cơm không có ba xị đế thì mất ngon... Thế nên, muốn tránh hại lớn, ta phải cẫn thận từng hành động nhỏ ban đầu. Hơn nữa, chúng ta hay có quan niệm những vật nhỏ bé không đáng bao nhiêu có chi gọi là gian tham trộm cắp? Nếu lỡ thiếu hụt chút đỉnh lấy của người xài đở, cũng nên vì tình đồng bào mà hoan hỷ xí xóa cho, hơi đâu chấp nhất mần chi cho mệt người. Dạ thưa, người ta không chấp nhất những thứ cỏn con ấy đâu, nhưng khốn nỗi nhân quả có chịu tha ta đâu. Câu chuyện sau đây sẽ cho ta rõ thế nào là vay trả, dù là vật rất nhỏ nếu không xin cũng phải trả:

Ngày xưa, có một ông phú gia nọ rất nhiều của. Mọi người trong xóm đều biết danh nhà cự phú này. Ông có nuôi một con ngựa rất khôn, đặc biệt là nó biết nói tiếng người và có linh tính biết trước các việc sắp xảy ra (?). Một hôm nọ nó bảo với ông chủ rằng: "Tối nay sẽ có một toán cướp gồm mười tám tên đến đây, vậy ông hãy tránh đi nơi khác". Ông chủ không chịu đi và nói rằng:

- Nếu quả thật bọn cướp có đến đây thì tôi sẽ đem vàng bạc cho chúng là xong cần gì phải đi đâu cho cực.

Con ngựa bèn đáp rằng:

- Nếu ông không đi nơi khác, e rằng chúng đến đây cướp của còn giết ông nữa thì sao? Tốt hơn ông hãy lấy vàng chia ra mười tám phần để đó rồi trốn đi nơi khác, một mình tôi ở nhà định liệu.

Ông chủ nhà nghe xong cho là phải, lấy vàng chia ra mười tám phần để sẵn và gia đình kéo nhau đi trốn nơi khác. Tối hôm đó, mười tám tên cướp gõ cửa, con ngựa bèn trả lời:

- Ai đó. Cứ việc đẩy cửa vào.

Sau khi nghe xong, bọn cướp xông vào nhà chia nhau lục soát khắp nơi mà không thấy một ai, chúng mới cất tiếng hỏi thì con ngựa trả lời:

- Chính tôi là ngựa đây, tôi biết các ông tối nay đến đây nên tôi đã dặn chủ nhà chia sẵn mười tám phần vàng cho các ông rồi còn chủ nhà đã đi khỏi.

Nghe xong tất cả bọn cuớp rất ngạc nhiên và hỏi ngựa tại sao biết nói tiếng người và biết hôm nay chúng đến cướp nhà này. Con ngựa đáp:

- Tôi là người tu hành trong nhiều kiếp trước, trai giới rất nghiêm minh. Chỉ vì một hôm đi hành đạo phương xa, trong lúc băng qua một cánh đồng, vì bụng đói thấy nơi đám lúa có một cây trổ bông duy nhất, tôi bèn xuống ngắt lấy ăn. Vì không xin chủ nên kiếp này phải bị làm thân ngựa để đền trả lại cho chủ nhân đây. Sau khi nghe con ngựa kể xong, cả bọn cướp kinh hãi, suy nghĩ về việc làm bất chính của mình từ trước tới nay. Nhà sư chỉ vì không xin một bông lúa mà phải bị đọa làm thân ngựa để đền trả như thế, huống chi cả đời cướp hại của người tránh sao khỏi quả báo. Từ đó họ sám hối ăn năn quay trở về con đường lương thiện, bỏ nghề gian tham tinh tấn tu hành về sau trở thành mưới tám vị La hán.

Cổ nhân nói: "Nhân phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ",  nghĩa là người không có lễ nghĩa thì chẳng nên thân, đồ vật phi nghĩa chẳng nên lấy giữ. Vì vật phi nghĩa là của cờ bạc, của rơi rớt ngoài đường, của hối lộ móc ngoặc, của lường gạt dối trá người... những thứ này không phải mồ hôi công sức mình tạo ra nên khó thể vững bền lâu dài với mình được. Tục ngữ ta có câu: "Của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ". Chúng ta cứ suy xét cho kỹ những kẻ tham lam trộm cắp lừa gạt của người đem về xây đắp gia đình, thử hỏi họ có bao giờ hạnh phúc dư thừa đâu? Hay lúc nào cũng phải phập phồng lo sợ ngày đêm không yên. Khi lấy của người thì muốn vơ vét cho thật đầy, thật nhiều, đến lúc bị tội lại mong thật ít, thật nhẹ. Giả sử nếu công việc trôi chảy êm xuôi, chưa chắc gì những của phi nghĩa ấy tồn tại với kẻ gian lâu đâu. Rồi nó cũng theo ông bà mà tiêu ma hết hoặc xui khiến gia đình không tai kia thì tật nọ, không vợ đau thì con ốm, họa hoạn dồn dập, rốt cuộc bao nhiêu tiền phi nghĩa ấy đổ vào thuốc thang, tai nạn cũng chẳng đủ. Thế là nghèo vẫn hoàn nghèo, khổ vẫn hoàn khổ, chỉ thêm được một số lời: đó là tội lỗi và tính gian tham. Trong bài kệ Khất sĩ có đoạn:

Thân này chưa biết ra chi
Của kia lại có chắc gì mà ham
Bao nhiêu cho thỏa lòng tham
Càng thâu càng đắm càng làm càng say
Tiếc cho tháng rộng năm dài
Chung quy hoang phí về tai thần tiền
Được thua, thua được liền liền
Hả hê mới đó ưu phiền đâu đây.

Gian tham có rất nhiều hình thức, là Phật tử chúng ta nên cẩn thận và xử lý kịp thời khi phát hiện. Không nên làm ngơ bỏ qua và cho rằng việc nhỏ không đáng. Chẳng hạn như: người khác trả dư tiền mình cũng làm ngơ, mượn đồ của người biết họ quên giữ luôn xài, đi xe, qua đò không trả tiền v.v... Chính tôi khi xưa lúc còn lên bậc Trung học, đường đi từ nhà đến trường khoảng 8 cây số phải đi bằng xe buýt. Hôm nào gần tới bến lơ xe quên lấy tiền vé, tôi cảm thấy "mở cờ" trong bụng, ngồi êm re thầm khấn cho họ chẳng nhớ đòi. Khi xuống xe thấy êm xuôi rồi, tôi hý hửng chạy ngay đến hàng cà rem làm một cây ăn mừng cái đã. Tôi rất thích màn này diễn ra đều đều. Quả thật là trẻ con!

Muốn tránh gian tham, không có phương pháp nào hơn là giữ hạnh ngay thẳng và tâm chân thật. Nói chung từ tâm niệm cho đến hành động phải thống nhất, không nên bề ngoài ra vẻ chánh trực, trong tâm lại tính toán quá chừng. Ví dụ khi ta đi đường gặp người làm rớt bóp tiền, ngó trước nhìn sau thấy có người, ta làm bộ ra vẻ chân thật, lượm lên gọi người ấy trao trả cho họ. Nhưng khi đi thì trong lòng tiếc rẻ, than thầm: Nếu đừng có ai trông thấy thì mình "trúng mánh" rồi, thật xui ghê! Hành động như vậy là mâu thuẩn với tâm ý. Trái lại khi làm việc ấy ta cảm thấy vui vẻ sung sướng vì mình vừa thực hiện việc phải, giúp người khỏi bị đau khổ vì mất số tiền, tâm hồn khoan khoái nhẹ nhàng. Có thế mới xứng đáng là người Phật tử chân chánh. "Ta thà giữ đạo nghèo mà chết chứ không chịu vô đạo mà sống" (Kinh Lục Độ Tập).

      3.- Không nên tà hạnh

      Vợ chồng là bạn tình trăm năm, là nghĩa vụ thiêng liêng, là mối quan hệ chặt chẽ trong việc xây dựng tổ ấm hạnh phúc gia đình, gây tạo con cháu nối dõi tông đường. Thế nên, người bạn tình mà ta thề non hẹn biển suốt đời chung sống đến lúc răng long đầu bạc, quả là hệ trọng vô cùng. Do vậy chúng ta không thể một sớm một chiều mà định đoạt hoặc hấp tấp se duyên kết nghĩa - đừng sợ mất người yêu - thiếu sự cân nhắc, tìm hiểu kỹ càng cẫn thận. Hậu quả của nó thường đi đến chỗ ân hận suốt đời. Tình yêu khổ nỗi hay dẫn đến sự mù quáng. Trước mắt họ người yêu là thần tượng tuyệt vời, đáng yêu trăm vạn lần hơn ghét.

"Trí óc có cả nghìn con mắt
Song quả tim chỉ có một mắt thôi
Nhưng khi đã yêu
Thì ánh sáng của cả cuộc đời sẽ tắt..."
                                          (Harley Coleride).

Đã yêu nhau, họ sẵn sàng tha thứ tất cả và hình như không muốn nghe, muốn biết lỗi lầm của nhau. Chỉ có tràn đầy yêu thương và hy vọng. Vì các cô cậu thanh niên vẫn công bố trước cuộc đời là: Ôi! khi yêu nhau thì không nên tính toán, tình yêu chân thật chẳng nên so sánh thiệt hơn tốt xấu. Dạ thưa xin nhất trí với các bạn trẻ mà hoa tình yêu vừa chớm nở trong lòng. Hẳn ta vẫn nghe nhiều đôi bạn khi chưa kết hôn thường ca ngợi, tán thán người tình của mình nào là: có anh như bầu trời mở rộng, thiếu em như trái đất ngừng quay, anh là mạng sống, là trái tim, là linh hồn, là cuộc đời, là là đủ thứ... Quả thật khi nên duyên cầm sắt rồi thì trái đất quay lại mạnh hơn nữa - có lẽ vì lúc này yêu nhiều nên quay nhiều chăng! - quay đến nỗi chén bát vỡ toang, đồ đạc trong nhà bay ra ngoài đường nằm la liệt. Hoặc sau tuần trăng mật "Tuần đầu chồng nói vợ nghe, tuần thứ hai vợ nói chồng nghe và bây giờ vợ chồng cùng nói cho hàng xóm cùng nghe". (During the first week I talked and she listened then during a fortnight she talked and I listened. Now the both talk and the neighbours listen). Như vậy những lời tâm sự của đôi vợ chồng trẻ đã trở thành buổi hòa tấu vô cùng sôi nổi và đầy hào hứng đã hấp dẫn thu hút hàng xóm đến dự phần nghe ké luôn! Đây có lẽ là kết quả của những bạn yêu vội thương nhanh.

Chúng ta nên nhớ tình yêu phát xuất từ tâm hồn chân thật, trong sáng khác với tình dục thấp hèn. Tình yêu vợ chồng nhắm đến sự hòa hợp, hiểu biết và thông cảm lẫn nhau, nương nhau trong cuộc sống, cùng chung xây dựng hạnh phúc tương lai. Còn tình dục là sự thèm muốn về ái dục, chỉ nhằm đến mục đích thỏa mãn khoái lạc thể xác, sau đó mặc kệ chẳng quan tâm đến người đã dâng hiến trọn tình yêu cho mình. Con người sở dĩ khác con vật ở chỗ có lý trí, hành động phải được chỉ đạo của lương tâm. Thế nên tình yêu chân thật phải từ chỗ hiểu biết lẫn nhau dẫn đến hôn nhân và mối quan hệ xác thịt. Không phải hành động theo bản năng thú tính: thích là làm, làm xong thì thôi. Ở đây không tà hạnh có nghĩa là khuyên Phật tử tại gia phải biết tiết dục, không nên ăn nằm trái phép chẳng phải lúc, không nên có những cử chỉ lố lăng trêu chọc kẻ khác phái ngoài đường... Nói chung, khi đã trở thành vợ chồng rồi cần phải có bổn phận trách nhiệm với cương vị của mình, phải giữ tình thủy chung như nhất, chẳng nên mơ tưởng đến kẻ khác, lang chạ bừa bải để gây xáo trộn gia đình, mất nhân phẩm con người, đôi khi còn làm trò cười cho thiên hạ nữa.

Truyện "Cục đá biết la" của Thiên Phúc sẽ cho chúng ta vài phút cười tội nghiệp về hai lão già còn "ham của lạ":

Ngày xưa, có một thôn nữ sắc đẹp mặn mà, duyên dáng và rất đổi khôn ngoan. Sắc đẹp của nàng khiến cho lão quan huyện sói đầu và tên thầy đề háo sắc chết mê chết mệt. Lão quan huyện thường hay ve vãn, lui tới tỏ lời ong bướm, còn tên thầy đề thì hay hẹn hò tán tỉnh. Nàng chẳng ưa và rất bực mình với hai lão già dê này.

Một hôm, quan huyện lại đến nhà tán tỉnh dây dưa, nàng cho lão một cái hẹn:

- Đúng canh ba đêm ba mươi, quan đến trước nhà em, chỗ có cây ớt. Quan ngồi kế bồn ớt, nếu có ai đi qua, quan cứ ngồi im đừng động đậy hay lên tiếng gì hết. Quan cứ ngồi đó chờ lát em sẽ ra tâm sự với quan tới sáng...

Lão quan huyện ra về khấp khởi mừng trong bụng "vậy là nàng đã thương ta".

Lát sau, thầy đề mò đến. Nàng cũng hẹn:

- Tối mai đêm ba mươi, sau trống điểm canh ba chừng một lúc, thầy đến trước cửa nhà em, chỗ cây ớt ngồi đó chờ em. Nếu không thấy em ra, thầy lấy cây dùi em bỏ dưới gốc ớt gõ vào cục đá trắng trắng kế đó cho em nghe, em sẽ ra với thầy.

Thầy đề ra về mở cờ trong bụng "phen này thì cá phải cắn câu".

Đêm ba mươi chưa tới canh ba, lão quan huyện đã mò đến gốc ớt rồi chui xuống sát bồn cây ngồi ló cái đầu hói lên, ló cặp mắt dòm vô nhà, rộn ràng chờ đợi giây phút sung sướng.

Sau hồi trống điểm canh ba, thầy đề mò đến, chui vào gốc ớt, thấy có cái dùi thầy mừng lắm. Chờ một lát, thầy cầm dùi gõ vào cục đá tròn tròn bóng bóng, nghe cái "cốc". Quan huyện thấy ê đầu nhức óc, nhưng không dám la, cứ ngồi cắn răng mà chịu đựng. Không thấy "người yêu" ra, thầy đề tưởng mình gõ nhẹ quá, bèn giơ cái dùi gõ cái "cốc" nữa, mạnh hơn lần trước. Quan huyện bị gõ muốn bể đầu nhưng đành nhăn mặt nhăn mày chịu trận, vì nàng đã căn dặn không được lên tiếng. Đợi thêm một hồi thấy lâu quá, thầy đề giơ cao dùi định tán thật mạnh thì "cục đá" đứng lên nói mếu máo:

- Nảy giờ tao nhịn nhiều rồi nghen, thằng chó nào dám gõ đầu tao?

Thầy đề hết hồn liệng dùi đâm đầu chạy tháo thân. Người nhà của cô gái nghe động tưởng là ăn trộm bèn la lên.

Lão quan huyện mang cái đầu hói vừa mới mọc hai cái sừng, nhảy cái rột dông tuốt.

Vợ chồng là bạn tình trăm năm được kết nghĩa se duyên khi còn trẻ đẹp thường nhờ cậy giúp đở lẫn nhau, trong cuộc sống với bao kỷ niệm vui buồn. Chúng ta phải hết lòng với nhau đến lúc tuổi già, khi đẹp đẽ nhớ lúc xấu. Hoa nở phải có lúc héo tàn, nhan sắc cũng theo thời gian mà thay đổi. Thế nên, đừng vì một chút địa vị, giàu sang mà vội vã phụ tình, chạy theo những cô gái trẻ đẹp hơn, lãng quên người vợ cũ đã suốt đời yêu thương và tàn tạ dung nhan vì mình.

Từ vợ chồng sẽ trở thành cha mẹ đối với con cái trong gia đình, người Phật tử tại gia cần phải nêu gương đứng đắn để giữ gìn nhân phẩm và danh dự. Vì đức hạnh của cha mẹ sẽ ảnh hưởng đến tính tự trọng nơi con trẻ, là bài học gương mẫu để con noi theo học tập. Do vậy một khi ta đã chấp nhận là vợ chồng, ta không muốn ai xâm phạm, cướp đoạt hoặc ô nhục danh dự gia đình thì ta cũng không có quyền dụ dỗ hoặc phá hoại hạnh phúc kẻ khác. Hàng ngày trên quả đất chúng ta có biết bao gia đình rơi vào tình trạng "ông ăn chả, bà ăn nem" hoặc "chồng mèo, vợ chuột" đưa đến mất niềm tin lẫn nhau, sứt mẽ tình cảm vợ chồng, làm hổ thẹn cho con trẻ, hạnh phúc gia đình tan vỡ. Điển hình như câu chuyện sau:

Có một Phật tử hàng ngày đến chùa tụng kinh rất vui vẻ. Thời gian sau thấy vắng và thỉnh thoảng có đi thì vẻ mặt không được vui lắm. Biết có chuyện buồn, một hôm tôi gợi hỏi nguyên do. Người ấy với sự chân thành đã thuật lại cho tôi nghe như sau:

"Thưa Thầy, đáng lẽ con không nên đem chuyện gia đình ra kể để làm phiền lòng Thầy phải quan tâm lo nghĩ. Nhưng vì tình nghĩa thầy trò thân thiết con không thể dấu được. Mong Thầy hoan hỷ khi nghe qua sự việc. Nguyên ba má con trước đây rất hòa nhã vui vẻ, gia đình trong ấm ngoài êm. Sau đó vì bảo lòng nổi lên khiến hạnh phúc gia đình tan vỡ, cha mẹ phân ly. Lý do ba con hàng ngày đi làm thường ghé quán cà phê để giải khát và điểm tâm. Vì tính tình vui vẻ, vả lại cũng khá bảnh trai và có chút ít tiền, nên đã lọt vào cặp mắt xanh của bà chủ quán .Mặc dù đã có chồng, bà này đã tỏ ra lạnh nhạt với chồng và rất thân mật với cha con. Rồi lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, tình cảm hai người mỗi ngày một đậm đà, hơn nữa bà này bám sát quá mức. Cuối cùng ba con đã ngã lòng và chung sống với bà ấy. Như vậy, từ khi hai người có những tình cảm cá nhân với nhau, ba con rất lơ là với gia đình, hay kiếm chuyện gây sự với má con. Đến khi đổ vỡ má con mới biết là ba con có người tình khác. Má con nhất định làm giấy ly dị. Từ đó chúng con cảm thấy buồn tủi và cuộc sống trở nên vất vả khó khăn".

Qua câu chuyện trên, với địa vị của một người cha, người mẹ trong gia đình còn có khả năng tư cách để dạy bảo con cái không? Người con sẽ nghĩ thế nào và có mặc cảm gì với bạn bè hàng xóm? Thiết nghĩ như thế còn chưa đến nỗi ô nhục cho lắm. Nếu như việc làm tà hạnh gian dâm ấy bị phát hiện trong lúc tư tình, bị nhục mạ tại chỗ thì còn mặt mũi nào mà nhìn ngó bạn bè hàng xóm, vết nhơ tà hạnh này khi nào mới rửa cho sạch, nhân phẩm và danh dự con người chừng nào mới được phục hồi? Hay phải chịu ôm nhục suốt đời?

Đối với những người có tâm tà hạnh thường hay lo sợ, bởi vì đã làm việc bất chính thì luôn sợ bị tiết lộ. Vả lại, chúng ta nên hiểu, con người sở dĩ sống và khỏe mạnh cường tráng là do các chất tinh huyết trong cơ thể. Các chất này là tinh hoa của bao nhiêu thứ bổ dưỡng mà ta ăn uống hàng ngày. Một phần nuôi cơ thể, một phần đưa xuống bộ phận sinh dục. Nếu không biết tiết chế tình dục, tham dâm quá độ vô tình chúng ta đem của báu đổ đi. Hậu quả sẽ vô cùng đau khổ như: thân thể tiều tụy, bệnh tật phát sinh, gối mỏi lưng đau, tuổi thọ giảm sút và tinh thần suy nhược. Chắc hẳn, đọc qua lịch sử thời phong kiến, ai cũng biết ông vua có hàng ngàn cung tần mỹ nữ, những ông quan, những hào môn có hàng trăm tỳ thiếp. Do quyền lực và bất công, các vua quan mặc sức thỏa mãn "con lợn lòng" của mình một các bừa bải, hổn tạp, vô luân. Hậu quả đưa đến cho kẻ đa dâm hiếu sắc ra sao? Những ông vua hôn mê chết yểu, những chàng công tử bột liệt nhược, những quan quyền lầy lụa bệnh hoa liễu, những tiểu thư đài các bơ phờ thất sắc. Hởi ơi! "Tình yêu là nguồn vui ngọt ngào nhất và là sự thống khổ dã man nhất". (Bailey)

Để bảo vêï sức khỏe, tránh xa bệnh tật, giữ gìn nhân phẩm và hạnh phúc gia đình, xứng đáng là tấm gương sáng cho con trẻ soi bóng. Người Phật tử tại gia nên giữ hạnh đoan chánh, không được phá hoại hạnh phúc kẻ khác. "Nếu thế gian này mà hàng phục được những ái dục khó hàng phục thì sầu khổ tự nhiên rụng tàn như giọt nước lá sen" (Kinh Pháp Cú).

      4.- Không nên vọng ngữ

      Miệng là cửa ngõ của suy tư, là nơi xuất phát tất cả những ý nguyện của mình với tha nhân đồng thời nó cũng là nguồn gốc của bao tai họa và bệnh tật. "Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất". Hàng ngày chúng ta ai ai cũng cần nó để sử dụng trong việc giao tế, biện bác, tranh luận... Vậy trong gia đình có được hòa thuận hay chia rẽ, ngoài xã hội mọi người thương yêu hay thù ghét nhau cũng đều do miệng lưỡi mà ra. Do vì lời nói rất quan trọng, một khi thốt ra phải suy nghĩ cân nhắc kỹ càng. "Nói mà không suy nghĩ có khác nào bắn mà không nhắm" (Speaking without thinking is like shooting without aiming - Spanish Proverb). Hoặc câu "Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy", nghĩa là: Một lời nói ra bốn ngựa khó theo.

Từ xưa tới nay, đã biết bao nhiêu những tai họa xảy đến cũng vì lời nói qua lại, hơn thua, đâm thọc khích bác lẫn nhau mà ra cả. Một lời nói có thể cứu sống người trong cơn nguy biến, đem lại sự vững tâm cho người lúc sợ sệt, tạo đức kiên nhẫn cho người trong cơn nóng giận, mang lại hòa bình ổn định cho xã hội quốc gia. Trái lại nó cũng làm cho cảnh máu đổ thịt rơi, nhà tan cửa nát, chia rẽ thù hiềm. "Một lời nói còn sắc bén hơn cả gươm đao" (Burton). Có thể nói nhất ngôn hưng bang, nhất ngôn táng bang.

Nói có rất nhiều hình thức. Nói thêm bớt, thấy nói không thấy, nói lời trau chuốt, chuyện có nói không, trước mặt nói phải sau lưng nói trái, nói dua nịnh, nói đâm thọc, nói chia rẽ, nói giọng hung ác... Tất cả lời nói trên đều có tính cách gây chia rẽ, bất hòa tạo sự thù hiềm ghen ghét lẫn nhau, làm mất niềm tin của người khác đối với mình. Hàn Thi ngoại truyện có câu: "Chim mà mỏ quắp thì loài chim sợ, cá mà mồm ngoáp thì loài cá sợ, người mà cái lưỡi sắc xảo thì loài người sợ".      Tại chùa tôi có một cô nọ không biết vì  lý do gia đình ra sao, đến chùa xin làm công quả nương náu cửa thiền. Thời gian đầu, với lời nói trau chuốt ngon ngọt của cô ai nấy cũng thương và cho là người đàng hoàng tử tế. Nhưng cổ nhân có câu: "Trường đồ tri mã lực, cửu xử thức hiền nhân", có nghĩa là dường dài mới biết ngựa hay, ở lâu mới rõ ai là hiền nhân. Quả thật lâu ngày dần dần bắt đầu "lòi tẩy" cái chân tướng "đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà" của cô ra. Nịnh bợ người trên, nói xấu kẻ dưới, trước mặt người khen ngợi, sau lưng thì chê bai. Đến người này nói xấu người kia, đặt chuyện nói thêm nói bớt cho người khác để gây sự bất hòa. Lại thêm tính hay nghe trộm chuyện người khác để đâm thọc lẫn nhau... Vì bởi "Cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo, cái miệng không vành nó méo tứ tung" nên mọi người trong chùa dần xa lánh hết, không ai dám thân cận và nói chuyện với cô vì sợ "tai mang họa gởi".

Đã mất hết tín nhiệm với mọi người nên cô cảm thấy bị bỏ rơi, bèn tìm cách xin đi nơi khác. Trước khi đi, tại chùa có cuộc hội họp nội bộ, tôi bèn kể lại một câu chuyện rất lý thú với ngụ ý nhắc nhở cô:

Một hôm con cú mèo gặp con chim gáy. Chim gáy hỏi:

- Bác sắp đi đâu đây?

Cú mèo nói:

- Tôi sắp sang ở bên phương Đông.

- Tại làm sao thế?

- Ở đây mỗi lần tôi cất tiếng kêu, ai cũng ghét nên tôi đành phải đi chỗ khác sống.

Chim gáy nói:

- Theo ý tôi bác nên đổi tiếng đi mới được. Nếu không đổi tiếng thì dù có sang phương Đông ở, người ta nghe tiếng kêu ấy cũng lại ghét bác thôi. Vì nhân tình ở đâu mà chả thế!

Quả đúng như câu chuyện chim cú và chim gáy kia. Sau này tôi được biết cô ta đi đến nơi nào ở một thời gian cũng bị cô lập và sa thải, không ai dám chứa nữa. Qua bài học trên ta có thể kết luận: không phải kẻ khác ghét ta mà chính ta tạo ra phiền não nơi người. Thế nên đừng tưởng lời nói khôn xảo sẽ che đậy được hành vi bất chính của mình. Gian dối cuối cùng sẽ bị phơi bày trước ánh sáng sự thật.

Thế nhân thường nói: "Đàn ông miệng rộng thì sang, đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà". Nhưng theo thiển ý tôi thì đàn ông cái miệng nhỏ lại một tí cũng vẫn hay hơn. Vì sang cho lắm có lẽ tai ương cũng nhiều đấy. Vả lại "Chúng ta có hai tai và chỉ có một cái lưỡi để cho chúng ta biết nghe nhiều hơn nói" (We have two ears and only one tongue in order that we may hear more and speak less - Diogenes). Ôi! Nhất là đàn bà mà miệng rộng thì lại còn nguy nhiểm hơn nữa. Người ta thường đặt cho từ "ngồi lê đôi mách" từ đầu xóm tới cuối hẻm, chưa thấy mặt đã thấy tiếng, hết chuyện trong nhà ngoài phố đến chuyện làng nước xóm giềng... Chẳng may gia đình nào có người mắc phải chứng bệnh miệng rộng này có lẽ chồng con phải xa lánh sớm mà hàng xóm rồi cũng sẽ "bái bai" luôn.

Một khi đã nói láo quen rồi đến khi ta có nói sự thật thì cũng có ít người tin theo, "một sự bất tín, vạn sự bất tin". Để bảo đảm sự tín nhiệm với mọi người, chúng ta phải cẩn thận khi nói, suy xét kỹ càng, đừng vì vui miệng mà thốt ra một cách bừa bãi, hoặc lấy chuyện làm quà. Hậu quả sẽ tai hại vô cùng. Như câu chuyện "Kẻ nói láo" trong cuốn Stories for children của Lev Tolstoi. Tôi xin lược dịch lại sau:

Có một cậu bé chăn cừu ở ngoài cánh đồng. Một hôm cậu ta bèn la lên hốt hoảng như có chó sói thật:

- Giúp tôi với! Chó sói! Chó sói!

Dân trong làng tưởng thật kéo nhau đến cứu và nhận ra rằng cậu ta đang đùa giởn với họ. Cậu bé chăn cừu đã tái diễn màn này nhiều lần. Một hôm điều đó đã trở thành sự thật. Con chó sói xuất hiện đang tấn công đàn cừu. Cậu bé hốt hoảng la:

- Bớ người ta! Chó sói!

Mặc dầu kêu la cầu cứu, nhưng dân làng cho là hắn đùa giởn với họ nữa và không có ai chú ý đến sự cầu cứu của cậu bé. Chó sói tấn công và giết cả bầy cừu.

Trong Đại Luật có câu: "Luận kẻ ở đời, búa ở trong miệng, sở dĩ chém mình , do lời nói ác".  Nói không đúng sự thật đã là tai hại cho mình dường nào, huống hồ lời nói hung ác nhục mạ, gây đau khổ cho người. Có khi chỉ vì lời nói ác khiến cho người bực tức đêm ngày, lo buồn mà phát sanh bệnh tật. Bởi vì làm người ai cũng có mặc cảm tự ti và danh dự. Nên trước mặt người ta không nên vì sự khoe khoang hay giỏi hoặc cậy quyền thế chức vị để chê bai, nhục mạ kẻ khác. Tích chuyện sau đây sẽ cho ta thấy quả báo lời nói ác như thế nào:

Thuở xưa có 500 người buôn đem một con chó trắng cùng qua một nước khác, giữa đường nghỉ ngơi. Chó nọ bèn ăn vụng thịt, người buôn tức giận chặt bốn chân chó quăng trong hầm mà đi. Bấy giờ ngài Xá Lợi Phất dùng thiên nhãn xa thấy thân chó rên xiết, đói khát khốn khổ quằn quại sắp chết, ngài bèn bưng bát cơm bay đến chỗ chó dùng lòng từ bi mà bố thí cho ăn. Sau khi ăn xong chó rất mừng. Ngài lại vì nó mà thuyết pháp cho nghe.

Quá bảy ngày cho kia thoát kiếp. Sinh vào nước Xá Vệ nhà người Bà la môn được đặt tên là Quân Đề. Đến bảy tuổi, ngài Xá Lợi Phất độ cho xuất gia. Sau này chứng quả A La Hán, đủ phép thần thông, tự biết mình kiếp trước là chó đói nhờ ngài Xá Lợi Phất hoá độ.

Các đệ tử bèn bạch hỏi đức Phật nguyên do của Quân Đề. Ngài dạy rằng:

- Về đời quá khứ thuở Phật Ca Diếp có một vị Tỳ Kheo trẻ tuổi thấy vị Tỳ Kheo già thường hay tán tụng, tiếng tăm ồ ề, vì ỷ mình có tiếng tốt đã chê vị Tỳ Kheo già:

- Ông này tiếng như chó sủa.

Thầy Tỳ Kheo già nghe được mà nói rằng:

- Ngươi biết ta chăng. Ta nay đã chứng quả A La Hán rồi.

Vị Tỳ Kheo trẻ tuổi nghe nói hốt hoảng tự trách mình dại dột, vội ra trước xin sám hối. Thầy Tỳ Kheo già cũng sẵn sàng hoan hỷ tha thứ. Song vị Tỳ Kheo trẻ tuổi khỏi tội đọa địa ngục, nhưng do lời nói ác nên 500 đời phải chịu thân chó như thế.

Quả thật "Con chim bị vướng vì cái chân của nó và con người thì vì cái lưỡi của họ" (Birds are entangles by their feet and man by their tongues - Thomas Fuller). Là người Phật tu tại gia nên lấy những bài này mà răn dè miệng lưỡi. Phải cẩn thận chân thật lời nói dù hoàn cảnh nào cũng không thay trắng đổi đen. Không vì sự yêu ghét nhau mà lời nói trở thành tốt xấu. Đừng nên lúc yêu nhau hậu bao nhiêu, đến khi giận ghét nhau lại bạc bấy nhiêu: "Yêu nhau cau bảy bổ ba, ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười".

Ngày trước tại nước Vệ, vua nước ấy yêu Di Tử Hà. Đối với phép nước Vệ ai đi trộm xe của vua thì phải tội chặt chân. Mẹ Di Tử Hà đau nặng. Đêm khuya có người đến gọi. Di Tử Hà vội vàng lấy xe vua ra đi lo cho mẹ. Vua nghe chuyện ấy khen rằng:

- Có hiếu thật! Vì hết lòng với mẹ mà quên cả tội chặt chân.

Lại một hôm Di Tử Hà theo vua đi chơi ở ngoài vườn. Đang ăn quả đào thấy ngon ngọt mà còn có một nữa bèn dâng vua ăn. Vua nói:

- Yêu ta thật! Của đang ăn thấy ngon miệng mà biết thương ta.

Về sau vua không còn thương mến Di Tử Hà như trước nữa. Một hôm phạm lỗi vua giận nói rằng: