Trang tiếng Anh

Đạo Phật Ngày Nay 

Trang tiếng Việt   

   

...... ... ..  . ..  .  .
NHỮNG THỰC HÀNH TỐI YẾU
                                                        Lạt ma Zopa Rinpoche
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

Một đệ tử đang ở trong tù viết thư cho Rinpoche khẩn cầu ngài ban những thực hành cho quãng đời còn lại của anh. Rinpoche đã trả lời như sau. Bài do Michelle Bernard biên tập.

 

Bạn Norman thân mến,

Trong thư bạn nói rằng bạn đã quy y và thọ những giới nguyện cư sĩ. Thật không thể tin được là bạn có thể làm được điều này, bạn đã đảm nhận thực hành này và có thể sống trong đó. Vì sao điều đó không thể tin được? Đó là bởi bạn chỉ có thân người quý báu này một lần duy nhất. Được làm người là một điều cực kỳ hy hữu. Chúng sinh ở trong các cõi địa ngục và chúng sinh hiện đang tái sinh trong cõi địa ngục từ trạng thái trung ấm thì nhiều như những hạt bụi hay những vi trần của trái đất này. Số lượng chúng sinh là những ngạ quỷ và chúng sinh đang tái sinh trong cõi ngạ quỷ từ trạng thái trung ấm thì giống như số hạt cát trong đại dương. Số lượng súc sinh và chúng sinh đang tái sinh trong cõi súc sinh từ trạng thái trung ấm thì như số lá cỏ mọc trong những rặng núi và trên mặt đất. Số chúng sinh được tái sinh làm người bình thường từ trạng thái trung ấm thì ít ỏi, chưa nói tới việc tái sinh làm người toàn hảo do hội đủ tám sự tự do và mười điều thuận lợi. Bởi ta đã phải thực hành những nguyên nhân để có được thân người này cho nên đạt được thân người thì thật là hy hữu và khó khăn. Hầu hết chúng sinh không sống theo đạo đức thuần tịnh, chưa nói tới việc thệ nguyện giữ gìn những giới nguyện đạo đức.

Sống theo Giới nguyện

Khi nhìn quanh bạn, bạn có thể thấy rằng có rất ít người sống theo năm giới nguyện cư sĩ. Nếu bạn xem xét những người sống theo giới nguyện và những người không sống như thế thì những người dấn mình vào những ác hạnh thật không thể tính đếm nếu so với số người giữ năm giới nguyện cư sĩ và tạo thiện nghiệp. Ngay cả những người chỉ giữ một giới cũng ít ỏi. Vì thế, bạn có thể nhận ra điều này bằng cách quan sát thế giới. Đó là lý do tại sao được làm một con người bình thường cũng đã cực kỳ hy hữu, chưa nói tới việc có được một tái sinh làm người quý báu.

Rất khó có được một tái sinh tốt lành và bởi hầu hết mọi người không hiểu rõ nghiệp, không tin rằng nhờ sống rộng lượng (bố thí) trong hiện tại, trong những đời sau bạn sẽ giàu có, nhờ thực hành đạo đức trong đời này, trong đời sau bạn sẽ nhận được một tái sinh làm người tốt lành. Không có sự hiểu biết hay niềm tin về những vấn đề này. Bạn chỉ có thể thấu hiểu những điều này nhờ nghiên cứu giáo lý và những lời trích dẫn của Đức Phật đã được những tâm toàn trí của vô số hiện thể giác ngộ giảng dạy. Không có vị Phật nào khác tìm ra lỗi lầm hay nhận thấy bất kỳ điều gì trái nghịch với những điều Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng dạy về nghiệp – những hành động đem lại những kết quả nào đó. Chẳng hạn như, kết quả của sự keo kiệt là nghèo khổ không chỉ được kinh nghiệm trong đời sau. Nếu nghiệp mạnh mẽ, bạn có thể kinh nghiệm những kết quả như thế trong đời này.

Có ba loại nghiệp. Một là tong cho nang tu kyi ley, có nghĩa là bạn tạo ra một nguyên nhân trong đời này và kinh nghiệm kết quả cũng trong đời này. Nghiệp thứ hai là kye ney nang tu kyi ley, bạn tạo ra nguyên nhân trong đời này và kinh nghiệm kết quả trong đời sau của bạn. Loại thứ ba là leng tang zhen la nang tu kyi ley, bạn tạo nguyên nhân trong đời này và nhiều đời sau mới kinh nghiệm kết quả; có thể hàng triệu, hàng tỉ, trăm tỉ, ngàn tỉ cuộc đời trước khi bạn kinh nghiệm kết quả. Những nghiệp này là kết quả hết sức mạnh mẽ trong hạnh phúc hay đau khổ trong cùng cuộc đời đó.

Đức Phật đã giảng trong Kinh Định Vương: “Bất kỳ ai thực hành một giới nguyện trong một ngày và đêm (24 giờ) trong thời đại suy hoại này sẽ tích tập công đức to lớn gấp bội những người cúng dường dù, cờ, phướn, ánh sáng, vòng hoa, và v.v.. cho 10 triệu vị Phật trong một tỉ đời và trong những thời kiếp ngang bằng số hạt cát (những vi trần cực kỳ nhỏ) trong Thái Bình Dương.” Ý nghĩa của điều này là bạn không thể tưởng tượng nổi số lượng công đức được tạo nên nhờ giữ gìn một giới nguyện trong 24 giờ. Cho dù chúng ta đang nói về việc chỉ một hạt cát tầm thường cũng thật bao la, nhưng ở đây ta đang bàn về bảy loại vi trần rất nhỏ. Điều này liên quan tới công đức của việc giữ gìn một giới nguyện trong một ngày, chứ không phải tất cả năm giới cư sĩ, hay tám giới, hay 36 giới của một nhà sư hay ni cô.

Năng lực của Tâm Toàn trí

Có vô số vị Phật và không vị Phật nào tìm ra được điều gì Đức Phật giảng dạy là sai lầm. Những học giả và yogi (hành giả) trong quá khứ đã rà soát lại giáo lý, đã thực hành giáo lý, và đã thành tựu một cách chính xác những chứng ngộ tương tự mà Đức Phật đã thực hiện. Không có tâm toàn trí nào từng nhận ra rằng con đường do Đức Phật giảng dạy là sai lạc. Nếu điều này xảy ra, nó sẽ là một vấn đề, nhưng điều đó không bao giờ xảy ra. Vì thế, đây là một bằng chứng rõ ràng.

Nhiều câu chuyện và giáo lý về nghiệp do Đức Phật giảng dạy nói rằng từ những hành động hay nguyên nhân như thế, những kết quả như thế được tạo ra; từ một nguyên nhân đức hạnh sẽ đem lại những kết quả hạnh phúc, và từ một hành động tiêu cực sẽ mang lại kết quả đau khổ. Ví dụ như nếu bạn thực hành nhẫn nhục trong đời này, trong những đời sau bạn sẽ có một thân thể đẹp đẽ khiến những người nhìn thấy cảm thấy hoan hỉ và bị lôi cuốn. Các thánh nhân có một thân tướng thu hút khiến các ngài dễ dàng làm lợi lạc cho người khác, cho những người lắng nghe giáo lý, tuân theo lời khuyên dạy của các ngài, thực hành những điều các ngài giảng dạy, thể nhập con đường, và thành tựu sự giải thoát và giác ngộ. Các ngài sử dụng thân tướng thu hút của các ngài, là kết quả của sự nhẫn nhục, như một phương pháp để dễ dàng làm lợi lạc chúng sinh.

Nếu tâm toàn trí của một vị Phật khác nhìn thấy điều trái nghịch với những gì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng dạy, thì điều đó có nghĩa là điều Đức Phật giảng dạy là sai lạc. Nhưng như tôi đã giảng trước đây, có vô số vị Phật khác và các Ngài nhìn thấy một cách chính xác những điều tương tự như Đức Phật Thích Ca đã thấy. Có những hiện tượng vi tế mà ngay cả những A La Hán cũng không nhận ra. A La Hán là những bậc đã hoàn tất năm con đường của Tiểu thừa (các con đường tích tập, chuẩn bị, kiến, thiền, và vô học), là những bậc thoát khỏi những đau khổ của luân hồi sinh tử, bao gồm những nguyên nhân của đau khổ - nghiệp và những phiền não – và đã hoàn toàn giải trừ ngay cả những nguyên nhân của các phiền não. Điều này có nghĩa là đối với các ngài những phiền não không thể tái xuất hiện hay các ngài không thể lại kinh nghiệm đau khổ. Các ngài có những phẩm tính và năng lực tâm linh không thể nghĩ bàn khiến các ngài thực hiện được mọi việc, như có thể làm những hình tướng rất nhỏ trở thành to lớn như những ngọn núi và biến những ngọn núi khổng lồ thành những hình tướng nhỏ xíu.

Bồ Tát Thập địa đã hoàn tất mọi chứng ngộ của năm con đường và mười địa (cấp bậc), có nghĩa là các ngài có những phẩm tính và năng lực tâm linh phi thường. Trước khi trở thành một vị Phật, một Bồ Tát có thể hiển lộ hàng tỉ, rất nhiều thân tướng có thể làm việc cho chúng sinh và cúng dường, đi tới những cõi Tịnh độ và nhận các giáo lý, hiển lộ là nước, sông suối, cầu đường, núi non, cây cối – bất kỳ điều gì mang lại hạnh phúc cho chúng sinh - những điều không thể tin nổi. Những gì các ngài có thể làm thì siêu vượt sự hiểu biết của chúng ta.  Ví dụ như, toàn thể thế giới được chứa đựng trong một lỗ chân lông trên thân của các ngài. Thật không thể tưởng tượng nổi; đây là những điều chúng ta không thể thấu hiểu, những điều phi thường mà các Bồ Tát có thể làm khi các ngài đạt tới những con đường và địa (cấp bậc) đó. Các ngài thâm nhập nhiều thế giới và cõi Tịnh độ và các thế giới tỏa khắp những thân linh thánh của các ngài.

Những năng lực phi thường này chỉ hiện hữu nhờ năng lực của một tâm thức đã tịnh hóa những ô nhiễm của nó và điều này đã được Lạt ma Tsong Khapa giảng trong luận giảng về Trung đạo. Ở phương Tây, những điều này thật không thể hiểu nổi, nhưng chúng xuất hiện cho thiền giả đã đạt được những địa (cấp bậc) đó; tâm các ngài không có các giới hạn. Khả năng của thân và tâm chúng ta rất bị giới hạn trong việc làm lợi ích cho những người khác. Chúng ta không thể hiển lộ thêm dù chỉ một thân để làm lợi lạc cho người khác. Bồ Tát nhất địa có thể hiển lộ 100 thân để làm lợi lạc người khác, ban những giáo lý khác nhau cho chúng sinh v.v.. Ở địa kế tiếp các ngài có thể hiển lộ 1.000 thân – những điều các ngài có thể hiển lộ thì gấp đôi đối với mỗi địa. Những điều mỗi Bồ Tát ở mỗi địa có thể thực hiện để làm lợi lạc người khác thì không thể tưởng tượng nổi. Đối với bạn, cách thức tốt nhất để chứng minh tất cả những điều này là đi vào những con đường, và khi bạn kinh qua mỗi một trong những con đường đó bạn sẽ kinh nghiệm tất cả những năng lực và khả năng đó đúng như Lạt ma Tsong Khapa đã giảng trong các giáo lý.

Mặc dù các A La Hán và Bồ Tát thập địa có những phẩm tính bao la như bầu trời, các ngài không thể nhận thức những sự việc như các nghiệp vi tế do bởi các ngài không từ bỏ bốn nguyên nhân của vô minh. Chỉ có tâm toàn trí của một vị Phật mới có thể nhìn thấy những sự việc như thế là những nghiệp vi tế của chúng sinh, những khoảng cách thời gian và không gian không thể tưởng tượng nổi, và v.v.. Ví dụ như các Bồ Tát nhất địa có thể nhìn thấy 100 đời quá khứ và 100 đời tương lai. Bồ Tát đệ nhị địa có thể nhìn thấy 1.000 đời quá khứ và tương lai, và v.v.. Bồ tát thập địa có thể nhận thức hàng nhiều tỉ đời quá khứ và tương lai, nhưng vẫn còn những điều rất vi tế và những khoảng cách và độ dài thời gian và cuộc đời không thể tưởng tượng nổi mà chỉ có tâm toàn trí của một vị Phật mới có thể nhìn thấy. Cho tới khi bạn trở thành một vị Phật, khả năng của bạn có những chướng ngại khiến bạn không thể làm việc một cách toàn mãn cho chúng sinh, đặc biệt là không nhận thức được những nghiệp vi tế.  

Câu chuyện về Ông Lão và Con Ruồi

Jindag Palgyey (Tu Bạt Đà La) 80 tuổi trước khi ông bắt đầu thực hành Pháp, nhưng ông vẫn có thể thể nhập con đường và trở thành một A La Hán trong một đời. Ông đã thành tựu trí tuệ chứng ngộ tánh Không và có thể giải trừ mọi ô nhiễm. Ông đã chán ngấy đời sống gia đình bởi tất cả những đứa trẻ chế nhạo ông mỗi ngày. Ông cho rằng ông sẽ rất an bình nếu trở thành một tu sĩ sống trong tu viện. Vì thế ông tới thăm Tu viện trưởng của tu viện để xin thọ giới. Vị tu viện trưởng là ngài Mục Kiền Liên, một trong những đệ tử tâm yếu và là bậc có thần thông đệ nhất trong tất cả đệ tử của Đức Phật. Ngài Mục Kiền Liên quán sát  và bảo ông lão rằng ngài thấy ông lão không có nghiệp để trở thành một tu sĩ: “Ông đã già, ông không thể đọc, không thể nghiên cứu trong tu viện. Thậm chí ông không thể chấp tác trong tu viện.” Ông lão hết sức thất vọng. Ông gục đầu trên thanh chắn thấp ở cổng tu viện và kêu khóc. Ông đi tới công viên khóc lóc và mặc dù Đức Phật ở một nơi khác tại Ấn Độ, Ngài nhìn thấy ông lão và cảm thấy lòng bi mẫn lớn lao đối với ông. Đức Phật nhìn tất cả chúng sinh bằng tâm toàn trí của Ngài. Bất kỳ ở đâu có một chúng sinh đầy đủ duyên nghiệp để được dẫn dắt, do bởi lòng bi mẫn Đức Phật tới ngay nơi đó không trì hoãn dù chỉ một giây.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện trước ông lão và hỏi có điều gì sai trái. Ông lão trình bày những khó khăn của ông ở nhà và việc ông đã xin thọ giới nhưng không được Tu viện trưởng chấp thuận. Đức Phật nói: “Ta đã thành tựu những công đức của trí tuệ và đức hạnh vì thế ta có thể thấy rằng ông có nghiệp để trở thành một tu sĩ.” Điều này có nghĩa là nhờ đã hoàn tất hai loại công đức và toàn bộ con đường, và khi đã giải trừ những ô nhiễm thô và tế, tâm Đức Phật đã trở nên toàn trí. Ông lão nói với Đức Phật rằng ngài Mục Kiền Liên đã nói là ông không có nghiệp để trở thành tu sĩ, nhưng Đức Phật giải thích rằng thật lâu xa về trước ông lão này là một con ruồi ở gần một bảo tháp (stupa). Có phân bò chung quanh tháp và là một con ruồi, ông lão đã bay theo mùi phân bò, vì thế đã đi nhiễu quanh tháp. Công đức nhỏ bé mà ông đã tạo ra đó đủ để làm ông trở thành một tu sĩ. Sau đó với tâm toàn trí, Đức Phật quán sát để khám phá xem ai là người có thể dẫn dắt ông lão này. Đức Phật thấy rằng đệ tử tâm yếu khác của Ngài là Đức Xá Lợi Phất, người có trí tuệ kiệt xuất trong tất cả các đệ tử và là Tu viện trưởng của tu viện khác, chính là người có thể dẫn dắt ông lão. Vì thế Đức Phật giao ông lão cho ngài Xá Lợi Phất.

Ông lão trở thành một tu sĩ tại tu viện của ngài Xá Lợi Phất nhưng các tu sĩ trẻ trêu chọc ông mỗi ngày. Ông lại rơi vào tâm trạng chán ngán, trốn khỏi tu viện, và nhảy xuống một con sông. Khi ấy ngài Xá Lợi Phất, tu viện trưởng của ông, bằng các năng lực tâm linh đã tìm kiếm vị tu sĩ già. Ngài đã xuất hiện ngay tại nơi đó và túm lấy ông lão kéo lên. Vị tu sĩ già hết sức bàng hoàng và bối rối bởi ông không được phép rời tu viện. Ông giải thích rằng ông chán ngán bởi tất cả những tu sĩ trẻ đã trêu chọc ông, vì thế ông đã trầm mình xuống sông. Ngài Xá Lợi Phất nói với ông: “Ông đang hành động như thế này bởi ông không có sự từ bỏ luân hồi sinh tử.”

Ngài Xá Lợi Phất bảo ông nắm chặt chiếc y của ngài và sau đó bay qua đại dương và đáp xuống một ngọn núi đầy xương. Ngài Xá Lợi Phất giải thích: “Đây là xương của tất cả những đời quá khứ của ông.” Có những khúc xương của một con cá voi, con vật lớn nhất trong đại dương. Giây phút ông lão nghe nói: “Đây là xương của tất cả những đời quá khứ của ông,” mọi lông tóc trên thân ông dựng đứng lên và ông đã từ bỏ sinh tử. Ông đã nhận ra những lỗi lầm của sinh tử: không có gì là chắc thật, những niềm vui của sinh tử thì bất định, bạn không thể tìm được sự toại nguyện, và những lạc thú sinh tử chỉ có bản chất là đau khổ. Ông đã đi vào con đường tích tập và trở thành một bậc thánh (arya) ngay trong đời đó.   

Một khi bạn trở thành một bậc thánh, bạn không bị đọa lạc. Bạn trở thành một A La Hán và cuối cùng đi vào con đường Đại thừa. Sau một thời gian ở Niết Bàn, chư Phật gởi ánh sáng và thôi thúc bạn đi vào con đường Đại thừa. Sau đó bạn giải trừ ngay cả những ô nhiễm vi tế mà trước đây đã không bị tiệt trừ và thành tựu giác ngộ. Khi đó bạn có thể làm việc một cách toàn hảo cho chúng sinh, giải thoát họ khỏi mọi đau khổ của sinh tử và đưa họ tới giác ngộ. Mọi công việc toàn hảo này cho chúng sinh xuất phát từ một người đã đạt được giác ngộ. Trong trường hợp của ông lão, trước đó ông đã đi vào Con đường Đại thừa; trước đó ông đã là một A La Hán; trước đó ông đã đi vào Con Đường Tiểu thừa; trước đó, ông là một tu sĩ; và trước đó, trong vô lượng kiếp không thể tưởng tượng nổi trước đó, ông là một con ruồi bay theo mùi phân bò khiến trở thành một cuộc đi nhiễu, là việc thậm chí không được thực hiện có chủ ý. Không hề có ý tưởng rằng đó là một bảo tháp linh thánh và ông sẽ tịnh hóa nghiệp nhờ đi quanh nó. Hành động nhỏ bé đó trở thành một thiện hạnh, không từ khía cạnh của động lực, mà từ năng lực của đối tượng là bảo tháp linh thánh.

Có hai mục đích khiến tôi kể lại cho các bạn câu chuyện này. Thứ nhất là bạn có thể thấy rằng trong khi các A La Hán có những phẩm tính to lớn, các ngài vẫn không có sự toàn trí. Tâm các ngài không thể nhìn thấy những nghiệp vi tế của chúng sinh, điều đó cản trở khả năng làm việc một cách toàn hảo cho người khác của các ngài, như Đức Mục Kiền Liên trong câu chuyện này. Chỉ có một vị Phật mới có thể nhìn thấy những nghiệp vi tế nhất. Đức Mục Kiền Liên là một A La Hán có nhiều phẩm tính và năng lực, nhưng ngài đã tiên tri sai lầm rằng ông lão này không có nghiệp để trở thành một tu sĩ. Cho tới khi bạn trở thành một vị Phật bạn không thể phán đoán hoàn toàn chính xác hoàn cảnh của bất kỳ ai. Bạn không thể nói một cách đúng đắn “Điều này thì như thế này. Điều này thì không như vậy.” Ngay cả những A La Hán đã thoát khỏi đại dương đau khổ của sinh tử và những phiền não cũng không thể tiên tri mọi sự hoàn toàn đúng đắn và đáng tin cậy. Dĩ nhiên là có nhiều sự việc những bậc chưa hoàn toàn chứng ngộ nói là đúng, đặc biệt là những vị đã hoàn tất con đường dẫn tới giải thoát, nhưng không phải là từng sự việc một. Chỉ có những điều các bậc toàn trí nói ra mới hoàn toàn đúng đắn – những hiện tượng như thế hiện hữu và những hiện tượng như thế không hiện hữu. Một ví dụ trong những điều chư Phật nói thật đúng đắn là bốn nguyên nhân của vô minh.

Năng lực của những Đối tượng Linh thánh

Câu chuyện này mang lại cho các bạn một sự hiểu biết rằng không có gì để nghi ngờ về việc Phật, Pháp, Tăng, các pho tượng, bảo tháp, Kinh điển, và hình ảnh của chư Phật có năng lực phi thường và là suối nguồn của những lợi ích rộng lớn cho chúng sinh. Những đối tượng linh thánh này ban tặng phương cách dễ dàng nhất để tịnh hóa nghiệp tiêu cực và giải thoát chúng sinh khỏi những cõi thấp. Những đối tượng đó khiến bạn tích tập công đức bao la để tâm bạn được chuyển hóa và thể nhập con đường, giải trừ những phiền não thô nặng, và thành tựu giải thoát, sau đó giải trừ những phiền não vi tế và thành tựu giác ngộ. Vì thế, ngay cả một bức hình Phật, một pho tượng, hay một bản Kinh cũng rất cần phải có.

Điều hết sức cần thiết là các đối tượng linh thánh hiện hữu càng nhiều càng tốt và được xây dựng càng nhiều càng tốt ở khắp mọi nơi trên thế giới. Vấn đề quan trọng là nên có càng nhiều càng tốt những đối tượng linh thánh và hình ảnh ngay tại nhà của bạn, cả bên ngoài lẫn bên trong nhà, được thiết trí một cách tôn kính. Bạn không thể đặt những đối tượng linh thánh ở bất kỳ nơi nào, như trên sàn nhà, trong phòng tắm là những nơi có mùi hôi, hay ở bên ngoài trên mặt đất. Điều này tạo nên nghiệp tiêu cực do không tôn kính các đối tượng linh thánh.

Chỉ nhờ chiêm ngưỡng những đối tượng linh thánh đó mà bạn tích tập những khối lượng công đức to lớn – to lớn hơn cả việc cúng dường cho những bậc độc giác (A La Hán). Cúng dường cho bao nhiêu A La Hán? Cho số lượng A La Hán nhiều như số vi trần của tất cả các thế giới và vũ trụ. Các A La Hán hoàn toàn giải thoát khỏi các đại dương đau khổ của sinh tử và những nguyên nhân – nghiệp tiêu cực và những phiền não – cũng như những dấu vết của chúng. Chỉ nhìn ngắm một đối tượng linh thánh, các bạn thâu thập nhiều công đức hơn việc cúng dường hàng trăm thực phẩm thiêng liêng khác nhau được hình dung là chất cam lồ và y phục thiêng liêng – có nghĩa là thực phẩm và quần áo có phẩm chất gấp 100.000 lần so với những y phục và thực phẩm của con người. Và không chỉ cúng dường tất cả những món đó trong một ngày mà cúng dường mỗi ngày, trong nhiều kiếp.

Từ câu chuyện này bạn có thể hiểu được khối lượng công đức của việc chiêm ngắm các đối tượng linh thánh thật đáng kinh ngạc ra sao. Trong quá khứ ở Ấn Độ, một người rất nghèo khổ đã cúng dường rượu thuốc cho bốn tu sĩ. Trong đời sau, người ấy trở thành một vị vua hết sức giàu có với rất nhiều quyền lực. Trong ví dụ đầu tiên chúng ta không nói về các tu sĩ, mà nói về các A La Hán là những vị đã hoàn tất năm con đường và có những phẩm tính phi thường. Vì thế, bạn có thể hình dung nghiệp của việc cúng dường cho thậm chí chỉ một vị A La Hán. Trong ví dụ này, số lượng các A La Hán mà bạn cúng dường thì tương đương số vi trần của toàn thể vũ trụ. Nếu bạn so sánh các công đức của việc cúng dường cho các A La Hán với công đức của việc chỉ chiêm ngắm một pho tượng hay hình ảnh của Đức Phật thì công đức của việc cúng dường chư vị A La Hán rất nhỏ bé.

Đức Phật đã giải thích điều này trong Kinh Ấn Phát triển Năng lực của Lòng Sùng mộ:

Đức Phật nói với ngài Văn Thù:

Bất kỳ con trai hay con gái nào của dòng truyền thừa hay bất kỳ ai cúng dường mỗi ngày thực phẩm linh thánh 100 mùi vị và y phục linh thánh cho chư vị A La Hán tương đương số vi trần của toàn thể vũ trụ hay những kiếp tương đương số hạt cát trong đại dương, Văn Thù, bất kỳ con trai hay con gái nào của dòng truyền thừa và bất kỳ ai chiêm ngắm một bức vẽ của Đức Phật, hay những hình tướng của Đức Phật như các bức vẽ, pho tượng, hình ảnh, và v.v.. sẽ tích tập vô lượng công đức bao la hơn việc cúng dường cho các A La Hán trong số lượng kiếp đó. Vì thế không còn nghi ngờ gì về việc những người chắp tay, hay cúng dường hoa, nước hoa, hương nhang, hay ánh sáng cho những đối tượng linh thánh, các việc đó tích tập vô lượng công đức.

Bạn nên biết rằng càng có nhiều công đức, bạn càng dễ dàng và nhanh chóng thành tựu sự giải thoát và giác ngộ cho bạn để giải thoát vô số chúng sinh đau khổ đang nương tựa vào bạn, có một mối liên hệ với bạn. Có thêm nhiều công đức có nghĩa là những ước muốn đạt được hạnh phúc của bạn được đáp ứng mà không cần dụng công không chỉ trong những đời sau mà ngay cả trong đời này. Nếu bạn nghĩ về điều bạn cần có, ước muốn đó được đáp ứng ngay trong năm đó, hay sau một vài tháng, vài tuần, một ít ngày, trong ngày đó, hoặc thậm chí sau một giờ! Đôi khi bạn phải ngạc nhiên vì năng lực công đức của bạn và cách thức một điều tốt lành xảy ra mà không cần chút nỗ lực nào. Nếu ở phía trên giường bạn và trên những bước tường, bạn có thể treo nhiều hình ảnh của những bậc linh thánh, nếu nhà tù cho phép, và nếu bạn đang chia sẻ với người nào đó không cảm thấy khó chịu về điều ấy thì thật là tuyệt vời. Có lẽ bạn có thể xin phép người bạn cùng phòng bọc viền quanh những tấm hình. Có lẽ bạn có thể kết bạn với những người đó, tặng họ một ly sữa khuấy, và là bạn thân của họ (tôi đang nói đùa).

Cơ hội Hy hữu và Quý báu

Về đạo đức trong sạch, nếu bạn khảo sát thế giới bạn sẽ thấy rằng có rất ít người trì giữ một cách thanh tịnh ngay cả một giới nguyện. Nếu bạn khảo sát bản thân chỉ nội trong một ngày hay 24 giờ, hay thậm chí một giờ, bạn sẽ thấy rằng những phiền não, những tư tưởng bất thiện của sự sân hận, tham muốn và bám luyến vào hạnh phúc của cuộc đời này phát khởi hết sức mạnh mẽ, tư tưởng này sau tư tưởng kia, như một trận bão, giống như thác lũ, không thể kềm chế nổi. Mọi hoạt động bất thiện được thực hiện trong một ngày hay thậm chí trong một giờ sẽ dẫn tới đau khổ. Không chỉ có thế, bạn không thể tìm được sự toại nguyện với những thái độ như thế. Cho dù bạn sở hữu toàn thể thế giới, kể cả mặt trời, mặt trăng, và những hành tinh, bạn vẫn không cảm thấy toại nguyện. Đây là đau khổ trầm trọng nhất, vấn đề to lớn nhất trong đời sống con người.

Ví dụ như, những ca sĩ, kịch sĩ v.v.. nổi tiếng, giàu có, lừng danh, và tràn trề năng lực có tâm thức đầy ắp những nỗi lo lắng do những tư tưởng bất thiện của sự quan tâm thế tục bám níu vào hạnh phúc của cuộc đời này. Bạn càng có nhiều lạc thú và của cải thế gian thì tâm bạn càng cảm thấy bất mãn và khốn khổ. Của cải bên ngoài có thể xuất hiện thật kỳ diệu và đẹp đẽ: giàu có, sở hữu nhiều căn hộ to lớn, những tòa nhà và xe hơi đắt tiền, có một gia đình đông người, nhiều ngàn người bạn v.v.. Tuy nhiên, đời sống nội tâm của những người đó thì vô cùng bất hạnh. Bạn càng sở hữu nhiều thì bạn càng không hạnh phúc. Không có an bình và hạnh phúc nội tâm. Bạn lo lắng và e sợ những người khác trở nên nổi tiếng hơn bạn, lo sợ mất của cải hay gia đình, lo sợ điều gì có thể xảy ra vào một lúc nào đó và tiếng tăm của bạn sẽ mất. Tất cả những điều này đến từ dục vọng, tư tưởng bất thiện. Đó là chưa nói tới hậu quả của những hành vi bất thiện vào lúc chết và trong những đời sau của bạn, những sự sinh ra đầy đau khổ trong các cõi địa ngục, ngạ quỷ, hay súc sinh. Trong nhiều đời bạn liên tục tái sinh vào những cõi thấp bởi một khi đã sinh ra ở những nơi chốn đó, bạn không có cơ hội để thực hành Pháp hay đức hạnh. Nếu bạn nhìn những con gà, cọp, bò v.v.. thái độ của chúng chỉ là tham muốn, tìm kiếm hạnh phúc của cuộc đời này. Vì thế, mọi hành động của chúng là bất thiện.

Khi đã gặp được Pháp, bạn có cơ hội để thực hành, nhưng các thú vật thì không. Chúng không thể gặp được Pháp, hiểu biết và thực hành Pháp. Là một thú vật, tâm thức của chúng bị ngăn trở không thể hiểu biết ngôn từ và ý nghĩa của Pháp. Cho dù bạn giải nghĩa rằng hạnh phúc đến từ đức hạnh – những hành động được thúc đẩy bởi thái độ không-tham, không-sân, không-si - cho dù bạn giải nghĩa điều này cho chúng hàng ngàn năm, hàng tỉ kiếp, chúng cũng chẳng thể nào hiểu được. Chúng không thể học cách thực hành Pháp. Là con người, chúng ta đã gặp được Pháp. Chúng ta có cơ hội này, nhưng chúng thì không. Hãy nhìn chúng và nhìn vào bản chất của cuộc đời chúng, những động lực và hành động của chúng. Bạn có thể thấy rằng chúng chỉ tạo ác nghiệp, có nghĩa là chúng sẽ bị tái sinh liên tục như thế, sẽ chết và bị sinh ra liên tục, chết và bị sinh liên tục trong những cõi thấp.

Do đó, lúc này đây, một phép mầu nhiệm đã xảy ra cho chúng ta: là một con người. Như một giấc mơ! Chúng ta đến từ những cõi thấp. Ngôi nhà hay nơi cư trú thường xuyên của chúng ta là những cõi thấp. Chúng ta đã đến từ những nơi đó. Điều không thể có được đã xảy ra vào lúc này, không chỉ là một con người, mà là đã gặp được Pháp, gặp được Phật Giáo. Như một giấc mơ, một điều bất khả đã xảy ra.

Do bởi trạng thái của tâm và tập quán của những phiền não từ vô thủy, đặc biệt là sự tham muốn, ta rất khó trì giữ ngay cả một giới nguyện trong sạch. Nhưng không gặp được Phật Pháp, chúng ta không chấp nhận sự tái sinh hay nghiệp. Khi ấy, ngay cả khi được nghe Pháp, giáo lý ấy vẫn không dễ dàng được chấp nhận. Ta không hiểu biết hay không có niềm tin. Do những dấu vết của một vài công đức được tạo nên trong quá khứ, chúng ta có thể có niềm tin và chấp nhận các giáo lý nhưng điều này vẫn không có nghĩa là chúng ta có thể thực hành. Vì thế trì giữ thậm chí một giới nguyện và sống một cách trong sạch thì vô cùng khó khăn. Chỉ để trở thành một con người không thôi bạn cũng cần phải có đạo đức trong sạch là nguyên nhân căn bản, nếu không thì điều đó không thể xảy ra. Nhưng là một con người hội đủ 8 tự do và 10 thuận lợi thì bạn cần phải tạo ra 18 nguyên nhân. Để thực hành đạo đức bằng cách trì giữ các giới nguyện Biệt giải thoát (hay tự do cá nhân) và đi theo con đường dẫn tới giải thoát, bạn cần rất nhiều công đức, là những điều hết sức hy hữu mới có được.

Việc thực hành Bồ đề tâm, giữ các giới nguyện Bồ tát, thành tựu con đường Đại thừa, và trở nên giác ngộ thì thậm chí còn quý hiếm hơn nữa. Còn hy hữu hơn nữa khi được thọ nhận một nhập môn Kim cương thừa vĩ đại và đi theo con đường Kim cương thừa trong đó bạn có thể thực hành và thành tựu giác ngộ trong một đời ngắn ngủi, thay vì phải mất ba vô lượng đại kiếp khi đi theo con đường Kinh điển của Đại thừa. Điều hy hữu nhất và phi thường nhất là việc thọ nhận một nhập môn Tantra (Mật điển) du già tối thượng và thực hành con đường đó, là những điều khiến bạn có thể thành tựu giác ngộ trong một đời người ngắn ngủi trong thời đại suy hoại này. Việc sở hữu tái sinh làm người toàn hảo có tất cả những cơ hội phi thường này thì hết sức hy hữu và quý báu.

Tóm lại, việc thực hành và thành tựu giác ngộ trong một đời người ngắn ngủi trong thời đại suy hoại này với những Tantra du già thấp và cao cấp nhất thì tùy thuộc vào việc trì giữ những giới nguyện Kim cương thừa thấp và cao cấp nhất. Điều này tùy thuộc vào việc trì giữ những giới nguyện Bồ Tát, là điều lại phụ thuộc vào việc trì giữ những giới nguyện Biệt giải thoát (giải thoát cá nhân), chẳng hạn như các giới nguyện cư sĩ. Vì thế bạn có thể thấy việc trì giữ các giới nguyện cư sĩ thì quan trọng tới mức độ nào. Nó là một nền tảng quan trọng thật đáng kinh ngạc và như tôi đã giải thích trước đây, chỉ là một con người không thôi thì đạo đức trong sạch đã vô cùng quan trọng. Việc bạn thực hành những cấp độ giới nguyện khác nhau này để phát triển tâm linh trong con đường dẫn tới giải thoát và giác ngộ là nguyên nhân chính yếu để bạn có thể làm một con người trong đời sau. Nó giống như nhiên liệu. Không có nhiên liệu trong máy bay thì máy bay không thể bay; tất cả những máy bay không thể bay và hỏa tiễn không thể đi tới mặt trăng. Xe hơi và xe gắn máy không thể vận hành nếu không có nhiên liệu hay dầu lửa, và không có sự tích điện thì không có ánh sáng. 

Làm Lợi lạc Thế giới

Nếu bạn muốn làm lợi lạc cho những người khác và quan tâm tới nền hòa bình của thế giới thì việc trì giữ những giới nguyện này là điều thiết yếu. Nó có nghĩa là bạn thôi làm nhiều hành vi tiêu cực làm tổn hại cho người khác, dù trực tiếp hay gián tiếp, bởi bạn đã lập một thệ nguyện. Bạn không làm hại bản thân bạn bằng cách thực hiện những hành vi tiêu cực đó, bởi bằng cách làm tổn hại người khác, bạn nhận lãnh tai họa trong tương lai. Nhờ sống trong những giới nguyện này (một, hai, ba, bốn, hay năm giới nguyện cư sĩ), bạn thôi gây nhiều tổn hại cho gia đình bạn, cho những người ở quanh bạn, cho các thú vật, cho con người trong quốc gia của bạn, trong thế giới – cho dù có bao nhiêu tỉ người chăng nữa - bạn thôi không làm hại họ. Sự vắng mặt của tổn hại là an bình, vì thế bạn đang mang lại an bình cho những người khác, kể cả gia đình bạn, những người quanh bạn, và sau đó tất cả những người khác. Càng giữ giới nguyện thì bạn càng ít làm hại người khác, và từ bạn những người ấy càng nhận được nhiều an bình và hạnh phúc.

Càng có nhiều người giữ các giới nguyện cư sĩ sẽ trợ giúp cho môi trường và làm tăng trưởng những nguyên nhân cho sự thịnh vượng trong quốc gia bạn. Việc có nhiều người giữ giới cư sĩ sẽ giúp ngăn ngừa nạn thiếu hụt thực phẩm, khiến cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tăng trưởng, và cũng mang lại nền hòa bình thế giới. Đây là điều bạn có thể tức thì hiến tặng và thực hiện mỗi ngày, cho dù bạn không phải là một trong những vị lãnh đạo rất cao cấp đi đó đi đây dự các hội nghị thảo luận về nền hòa bình của thế giới. Nhiều người có thể bàn cãi, nhưng chỉ nói không thôi thì không thể làm được gì nhiều cho hòa bình. Chúng ta cần phải hành động.

Việc Sân hận với Gia đình bạn, Quan tòa, các Dịch vụ Chăm sóc Trẻ em, v.v..

Có một ít vấn đề tôi muốn bạn suy nghĩ. Đây chính là thiền định. Hãy nghĩ về điều này trong đời sống hàng ngày của bạn. Đối với con cái bạn, đối với những người bạn cho là bị lôi kéo để phản đối bạn, đối với gia đình bạn, quan tòa, các dịch vụ chăm sóc trẻ em v.v.. điều cốt yếu là xem xét những vấn đề ấy một cách tích cực khiến bạn nhìn các sự việc đó theo một cách thế tích cực hơn là tiêu cực.

Bạn nên sử dụng mọi hoàn cảnh và cách thức những hoàn cảnh ấy đối xử với bạn và nhận ra rằng chúng làm thương tổn tư tưởng yêu quý bản thân (ái-ngã) và sự tham luyến của bạn vào đời này. Chúng không làm tổn thương lòng bi mẫn của bạn, không làm tổn hại từ tâm của bạn, không làm tổn hại Bồ đề tâm, không làm tổn hại trí tuệ của tánh Không của bạn. Những khía cạnh tích cực đó của tâm bạn không cảm thấy bị thương tổn. Chỉ có khía cạnh tiêu cực của tâm bạn - những quan niệm sai lầm và những tư tưởng ái-ngã của bạn - cảm thấy bị tổn thương.

Tư tưởng Ái-ngã Sai lầm

Vì sao nó là một tư tưởng sai lầm? Trước tiên có cái “tôi” chỉ đơn thuần bị tâm thức quy gán do sự hiện hữu của nền tảng của sự quy gán – các uẩn của thân và tâm. Khi thân bị giam giữ trong tù ngục cùng với tâm thì chắc chắn là tâm dán nhãn và quý gán một cách đơn thuần: “tôi bị tù” và vì thế tin vào điều đó. Thiền định này rất cần được thực hiện mỗi ngày và trong mọi lúc. Tâm chỉ đơn thuần quy gán và sau đó tin vào những gì nó đã quy gán. 

Trong thực tế, nếu bạn phân tích, không có cái “tôi” thực sự bị ném vào tù. Không ai có thể đưa cái “tôi” đó vào tù, bởi cái “tôi thực sự” xuất hiện và được tin là hiện hữu từ khía cạnh riêng của nó thì thực sự không hiện hữu. Bạn không thể tìm thấy nó ở bất kỳ nơi đâu. Không có thân là “tôi”, cũng không có tâm là “tôi”. Nếu bạn phân tích sâu hơn nữa thì không có các uẩn là cái “tôi” thực sự đó. Ngay cả tập hợp của tất cả năm uẩn cũng không phải là cái “tôi” đó. Cái “tôi” đó cũng không thể được tìm thấy ở bất kỳ nơi đâu trong các uẩn. Không thể tìm thấy nó trên nền tảng (của sự quy gán) – các uẩn. Không thể tìm thấy cái “tôi” đó ở bất kỳ nơi đâu, từ đầu sợi tóc trên đầu cho tới ngón chân bạn. Không thể tìm thấy nó ở bất kỳ nơi đâu, dù ở trong hay ngoài thân. Không thể tìm thấy cái “tôi” đó, nó không hiện hữu ở bất kỳ nơi đâu – không ở trong bầu trời, trong lòng đất – không ở nơi đâu. Không thể tìm thấy nó. Bạn không thể tìm thấy nó bằng cách sử dụng luận lý. Bằng cách kiểm tra theo khoa học, bạn không thể tìm thấy nó. “Kiểm tra theo khoa học” có nghĩa là sử dụng lý trí. Với trí tuệ, điều bạn nhận thức được sau khi thực hiện sự phân tích là, một cách khoa học, cái “tôi” (hiện hữu nội tại) thì hoàn toàn không hiện hữu, nó hoàn toàn trống không. Đây là bản tánh tối hậu và thực sự của cái “tôi” - thực tại.

Bây giờ bạn có thể nhận ra tư tưởng ái-ngã là một ý niệm hoàn toàn sai lầm ra sao. Không có cái “tôi” trong ý nghĩa của một cái “tôi” hiện hữu từ khía cạnh riêng của nó. Bởi vô minh, cái “tôi” được tin tưởng là thật có, hiện hữu từ khía cạnh riêng của nó, như nó xuất hiện, cái “tôi” ấy là một phóng chiếu từ dấu vết tiêu cực do vô minh để lại trước đó, đây là cái “tôi” mà bạn hết sức yêu quý. Cái “tôi” này, đối tượng của vô minh, được yêu quý. Đây là điều quý báu nhất, cao quý nhất, quan trọng nhất, quý báu hơn mọi thứ khác, điều quý báu nhất trong tất cả chúng sinh hữu tình, thậm chí là kẻ quan trọng nhất trong tất cả những bậc linh thánh, tất cả chư Phật và Bồ Tát! Bạn có thể thấy rằng đây là một ý niệm hoàn toàn sai lầm bởi như tôi đã mô tả trước đây, cái “tôi” được yêu mến này không hiện hữu.  

Cái “tôi” hiện hữu là cái “tôi” chỉ đơn thuần được tâm thức quy gán và hiện hữu bởi nền tảng (của sự quy gán) – là các uẩn - hiện hữu. Thân không là “tôi”, tâm không là “tôi”, và “tôi” không thể được tìm thấy trong các uẩn. Tương tự như thế, cái “tôi” thực sự xuất hiện và được tin tưởng là hiện hữu từ khía cạnh riêng của nó thì không được tìm thấy. Bây giờ bạn có thể thấy rõ ràng là cái “tôi” thực sự xuất hiện để hiện hữu từ khía cạnh riêng của nó thì không ở trong tù. Bạn không thể tìm thấy nó ở trong tù, bạn không thể tìm thấy nó ở nhà, hay trên các uẩn – là nền tảng của sự quy gán. Bạn phải thực hành thiền định này mỗi ngày. Thực hành này rất quan trọng, cho dù nó tốn bao nhiêu thời gian đi nữa.

Thiện tâm của Những Người Đưa Bạn vào Tù

Bạn càng khám phá ra thực tại tối hậu thì bạn càng nhận ra rằng những người đưa bạn vào tù – con cái bạn, quan tòa, nhân viên chăm sóc trẻ em, cảnh sát – đã giúp cho bạn nhận ra tánh Không. Việc bạn ở trong tù đã khiến cho bạn thiền định về tánh Không, thực tại tối hậu, khiến bạn học tập về nó và khám phá nó. Đây là một cơ hội vô giá, bởi việc nhận ra tánh Không khiến bạn có thể thành tựu sự giải thoát và vĩnh viễn thoát khỏi đại dương đau khổ trong sinh tử và những nguyên nhân của nó: những phiền não cũng như nghiệp đã hiện hữu trong trái tim bạn từ vô thủy. Do bởi nghiệp và những phiền não, bạn đã đau khổ trong sinh tử luân hồi từ vô thủy; bạn đã từng chết và bị tái sinh và sau đó lại chết. Không biết bao nhiêu lần, bạn đã kinh nghiệm những nỗi khổ của sáu cõi, đau khổ này tiếp nối đau khổ kia, như một chuỗi dây xích.

Tất cả những điều này được gây nên bởi cội gốc của sinh tử, việc bám chấp và ôm giữ cái “tôi” như thực sự hiện hữu, như thật có, trong ý nghĩa của việc hiện hữu từ khía cạnh riêng của nó, cũng như việc bám níu vào các hiện tượng, vào các uẩn - việc ôm giữ các uẩn như thực có trong ý nghĩa của sự hiện hữu từ khía cạnh riêng của chúng và không chỉ đơn thuần do tâm thức quy gán. Trí tuệ nhận ra tánh Không là điều duy nhất chặt đứt gốc rễ của sinh tử và có thể tiệt trừ mọi mê lầm, kể cả những dấu vết của chúng. Khi bạn kinh nghiệm sự hoàn toàn ngừng dứt của đau khổ và mọi nguyên nhân của đau khổ, khi bạn kinh nghiệm bản tánh tối hậu của tâm bạn, khi ấy bạn đạt được giải thoát.

Bạn có thể nhận ra rằng bạn chỉ có thể thoát khỏi mọi đau khổ trong sinh tử và những nguyên nhân của chúng bằng trí tuệ nhận ra tánh Không. Nếu vợ bạn, con cái bạn, những dịch vụ chăm sóc trẻ em, quan tòa, v.v.. không đưa bạn vào tù, bạn đã không gặp Pháp. Bạn thích điều nào hơn? Ở bên ngoài nhà tù và không bao giờ gặp được Pháp? Có một cuộc đời ngập đầy những phóng dật, dự những buổi tiệc, những chuyện linh tinh, và làm những việc chỉ do sự bám luyến vào cuộc đời này thúc đẩy, được dẫn dắt bởi sự tham muốn, lập đi lập lại vẫn từng đó việc mà bạn từng làm từ những tái sinh tự vô thủy? Không có gì mới mẻ, kể cả mọi kinh nghiệm về lạc thú, chẳng hạn như tiêu phí đời bạn trong việc chạy đua trên một chiếc mô tô to tướng gây rất nhiều tiếng ồn, săn đuổi các bạn trai hay bạn gái, v.v.. Bạn có thể thấy rằng điều này thực sự vô cùng tẻ nhạt.

Hãy quán chiếu rằng trong vô số cuộc đời tự những tái sinh từ vô thủy bạn đã có và đã từng làm tất cả những điều này. Cho dù bạn chỉ làm tất cả những điều này một lần duy nhất thì sống như thế cũng thật là chán ngắt. Do bởi quá nhiều phóng dật và tham muốn lạc thú trong đời này mà bạn không nhận được bất kỳ lợi lạc nào trong Pháp. Sự tham muốn không mang lại cho bạn thời gian để thực hành Pháp.

Cho dù có lợi lạc, sự tham muốn không cho bạn thời gian để học tập, để thực hành thiền định, để đọc lamrim và những quyển sách Pháp khác, hay để sống trong các giới nguyện. Vì thế, bất kỳ điều gì tất cả những người ấy đã làm để đưa bạn vào tù, hóa ra là để bạn được vĩnh viễn tự do và thoát khỏi ngục tù sinh tử! Đây chẳng phải là điều kỳ diệu hay sao? Việc họ đưa bạn vào tù thuyết phục tâm bạn phải suy nghĩ sâu xa hơn về cuộc đời bạn, và làm điều gì có ý nghĩa một cách nghiêm túc hơn là chỉ đùa giỡn với cuộc đời bạn; không lãng phí cuộc đời và sử dụng đời bạn như một máy hút bụi, hay như giấy vệ sinh để lau sạch phân.   

Việc họ đưa bạn vào tù là một hỗ trợ phi thường. Nó hướng đời bạn tới giải thoát thay vì tới những cõi thấp và sinh tử, và không chỉ có thế, việc ấy còn hướng bạn tới giác ngộ. Bởi họ đưa bạn vào tù, bạn mong muốn một cách nghiêm túc làm cho cuộc đời bạn tốt đẹp hơn, đáng sống, và đầy ý nghĩa. Nó khiến bạn suy tưởng, khiến bạn khám phá, nó đánh thức tâm bạn. Họ làm bạn thức giấc. Từ điều gì? Từ một cuộc đời bị lãng phí quá nhiều bởi chỉ tạo ra nghiệp tiêu cực và những nguyên nhân cho nỗi khổ trong các cõi thấp, một cuộc đời chỉ được sử dụng như một kẻ nô lệ cho những phiền não. Ở trong tù bạn không chỉ gặp Phật Pháp, bạn còn gặp được những giáo lý Đại thừa, Bồ đề tâm, và lamrim. Bạn nhận thấy làm cách nào sự việc này đã xoay chuyển đời bạn tới sự giác ngộ, đại lạc viên mãn tối thượng, nơi không còn điều gì nữa để thành tựu. Nó là sự chấm dứt mọi sai lầm của tâm và sự thành tựu mọi phẩm tính.

Giờ đây bạn có thể thấy rằng tất cả những người này thì vô cùng quý báu và vô cùng tử tế đối với bạn. Không có ngôn từ nào để diễn tả những gì họ đã làm cho bạn. Cho dù toàn thể thế giới có chứa đầy châu ngọc, đô la, vàng bạc và kim cương, và bạn dâng tặng tất cả những thứ ấy cho họ, bạn cũng không thể chấm dứt việc đền đáp thiện tâm của họ về việc họ đã mang lại cho bạn tặng vật này. Bạn nên thiền định mỗi ngày về thiện tâm của họ. Chính thiện tâm ấy đã thuyết phục bạn thực hành sự từ bỏ - sự xả ly nhận ra rằng sinh tử có bản chất là đau khổ. Đây là một thiện tâm phi thường. Họ cũng thuyết phục bạn mở rộng trái tim, tìm kiếm những điều có ý nghĩa trong cuộc đời, đón nhận Phật Pháp, tu học Bồ đề tâm, và thiền định về tánh Không. Đây là một thiện tâm phi thường, một khối lượng thiện tâm bao la. Thiện tâm của họ bao la như bầu trời.

Có 10 lợi lạc của Bồ đề tâm được đề cập trong lamrim như được giảng trong Giải thoát trong Lòng Tay cũng như Bodhisattvacaryavatara (Một Hướng dẫn tới Bồ Tát Hạnh của Cuộc Đời) của ngài Shantideva. “Sau khi đã nhận thân thể bất tịnh này, nó trở thành thân linh thánh vô giá của Đấng Chiến Thắng. Vì thế hãy hộ trì Bồ đề tâm một cách kiên định.” Thân thể mà hiện nay chúng ta đang có được tạo nên bởi sự mê lầm và nghiệp và ở trong bản tánh đau khổ duyên hợp rộng khắp. Trên nền tảng này có nỗi khổ của sự biến đổi. Lạc thú sinh tử là nỗi khổ của sự biến đổi. Cũng có nỗi khổ của sự đau đớn (khổ khổ), và nhiều đau khổ của thân và tâm. Điều bản văn đang nói là nhờ thực hành Bồ đề tâm bạn có thể trở nên hoàn toàn giải thoát khỏi nỗi khổ này và thành tựu thân linh thánh của một vị Phật, thân linh thánh kim cương thuần tịnh.

Bạn không chỉ thoát khỏi đau khổ, bạn còn có thể thoát khỏi những tư tưởng náo động và những che chướng thô và tế. Bạn có thể đạt được thân bất tử trùm khắp mọi sự hiện hữu - một thân linh thánh trùm khắp toàn thể thế giới, và toàn thể thế giới trùm khắp toàn thể thân. Đây là điều mà thân linh thánh của một vị Phật có thể làm. Không có giới hạn, vì thế bạn có thể làm lợi lạc toàn thể chúng sinh. Việc chuyển hóa như thế xuất phát từ Bồ đề tâm. Với Bồ đề tâm, bạn cũng có thể tịnh hóa mọi nghiệp tiêu cực hay hành vi nghiêm trọng nào bạn từng tạo ra. Bạn cũng có thể kinh nghiệm hạnh phúc trong đời này và thậm chí còn quan trọng hơn nữa, hạnh phúc của mọi đời tương lai, hạnh phúc tối hậu của sự giải thoát khỏi sinh tử, và cuối cùng, sự Toàn Giác.

Vô số chúng sinh trong địa ngục, các ngạ quỷ, súc sinh, con người, trời và a tu la có thể nhận lãnh toàn bộ hạnh phúc này cho tới sự giác ngộ từ Bồ đề tâm của bạn. Điều ấy không phi thường sao? Hãy thấu hiểu rằng bạn có thể tạo nên toàn thể hạnh phúc này, cho tới sự giác ngộ, cho nhiều triệu người trong một quốc gia, trong thế giới này, trong những vũ trụ khác, điều ấy thật là kỳ diệu. Ở một nơi nhỏ bé, dưới một hòn đá có một tổ kiến, trong đó có rất nhiều ngàn con kiến và bạn có thể tạo ra cho chúng mọi hạnh phúc cho tới sự giác ngộ. Trong một cánh đồng, trên một ngọn núi, trong một quốc gia, trong mọi quốc gia trên thế giới, có vô vàn chúng sinh. Có vô số cá trong nước trên toàn thế giới, từ con cá khổng lồ cho tới những con cá tuế nhỏ tí xíu, và thậm chí rất nhiều sinh vật nhỏ hơn rất nhiều chỉ có thể nhìn thấy bằng kính hiển vi. Bồ đề tâm của bạn có thể tạo nên mọi hạnh phúc này cho tới sự giác ngộ cho tất cả chúng sinh đó. Đây mới chỉ nói về một loại động vật. Thật là không thể tin được nếu bạn nghĩ rằng điều này liên quan tới tất cả những loại động vật khác nhau đang hiện hữu. Chúng nhiều vô số kể. Có vô số chúng sinh trong địa ngục, ngạ quỷ, trời và  a tu la. Bạn không thể hình dung được những gì Bồ đề tâm của bạn có thể làm. Còn có điều gì khác trong đời để vui hưởng? Bạn ở tù hay ở nhà thì chẳng thành vấn đề gì. Dù bạn ở nơi đâu, nếu bạn có thể, hãy thực hành Bồ đề tâm. Đây là cuộc đời tốt đẹp nhất, hạnh phúc nhất, nhiều ý nghĩa nhất – không chỉ cho bản thân bạn mà cho tất cả mọi người. Cho dù thân bạn ở đâu chăng nữa thì tâm bạn vẫn luôn luôn có thể thực hiện thực hành này.

Vì thế giờ đây bạn có thể nhận ra rằng gia đình bạn và tất cả những người đưa bạn vào tù đã cho bạn cơ hội này, khiến bạn tỉnh giấc và mở rộng trái tim bạn hướng tới Bồ đề tâm. Thiện tâm của họ thật vô hạn, thật bao la. Ngay cả việc làm đầy toàn thể thế giới với kim cương, vàng, hàng triệu đô la, và những viên ngọc như ý ban cho bạn bất kỳ điều gì bạn muốn - tất cả những món này không thể đền đáp thiện tâm của họ. Họ là những người tử tế nhất, quý báu nhất trong trái tim bạn.

Đây là thiền định quan trọng nhất cho đời sống hàng ngày của bạn. Đối với những người tử tế với bạn thì không có nghĩa là họ phải có ước muốn bạn được hạnh phúc, đặt bạn trên đầu họ, mang lại cho bạn món sô cô la, kem, LSD (loại ma túy mạnh) hay cần sa. Trí tuệ nhận thức trực tiếp tánh Không giải trừ trực tiếp những ô nhiễm thô và tế, Pháp chân thực, không có tư tưởng làm lợi lạc cho bạn. Sự nhận thức trực tiếp tánh Không tự nó không bận tâm về nỗi khổ hay hạnh phúc của bạn, nhưng nó vô cùng quý báu bởi nó mang lại lợi lạc cho bạn biết bao. Khi cho rằng gia đình bạn và những người khác không có tư tưởng làm lợi lạc cho bạn mà chỉ muốn trả miếng, bạn vẫn đang nhận tất cả những lợi lạc này từ họ, chẳng hạn như tịnh hóa nghiệp từ những tái sinh tự vô thủy, tạo công đức rộng lớn của trí tuệ và đức hạnh, và tạo lập rất nhiều nguyên nhân cho hạnh phúc bằng cách sống trong những giới nguyện, khiến bạn tích tập công đức 24 giờ mỗi ngày trong khi ngủ, ăn v.v.. Bất kỳ giới nguyện nào bạn trì giữ cũng làm cho đời bạn có ý nghĩa và lợi lạc bởi mọi công đức bạn tạo nên mỗi ngày đều được tăng lên 100.000 lần. Đây là những cơ hội quý báu để tạo nên những nguyên nhân cho hạnh phúc của những đời tương lai, những tái sinh tốt lành, việc tái sinh vào một cõi Tịnh độ, đạt được giải thoát và giác ngộ là do bởi thiện tâm của họ - có nghĩa là những người này là những người quý báu nhất trong đời bạn.

Phát triển lòng Bi mẫn bằng cách Quán chiếu về Nỗi Khổ Trong Tương lai của Những người ấy

Có ba cách nghĩ tưởng và những phương pháp được dùng đối với những người ấy. Một là sử dụng cách thức họ đã đối xử với bạn để phát triển lòng bi mẫn đối với họ. Là một vị thánh vĩ đại, Bồ Tát Shantideva đã nói: “Nghiệp của tôi đã buộc tôi nhận tai họa này. Bởi hành động làm hại chúng sinh này, há tôi đã không khiến họ bị đắm chìm trong các cõi địa ngục hay sao?”

Shatideva nói rằng trong những đời quá khứ bạn đã đổ lỗi và buộc tội họ về những điều họ không làm và đưa họ vào tù, có nghĩa là bạn đã làm cho họ đúng những điều mà họ làm cho bạn. Đây là cách nghiệp vận hành. Vì thế, trong đời này bạn đang kinh nghiệm kết quả của nghiệp đó. Cũng giống như bạn đã gieo trồng một hạt giống và bây giờ nó đang nẩy mầm. Do bởi điều đó, giờ đây nghiệp đang chín mùi là lý do khiến họ đối xử với bạn như vậy, là lý do khiến họ buộc tội và đổ lỗi cho bạn và đưa bạn vào tù trong đời này. Nghiệp tiêu cực mà họ tạo nên bằng cách đối xử với bạn như thế này và đưa bạn vào tù sẽ khiến họ bị tái sinh trong những địa ngục thấp nhất. Mặc dù bây giờ họ là những con người, khi chết tâm thức họ sẽ đi tới những cõi địa ngục thấp nhất, giống như rơi từ một vách đá xuống những vực thẳm, rơi xuống các địa ngục nóng hừng hực lửa và vào các địa ngục lạnh. Nếu lúc ban đầu bạn không là người đổ lỗi và đối xử với họ như bạn đã làm trong quá khứ, thì sẽ chẳng có gì để thuyết phục họ làm hại bạn vào lúc này, đối xử với bạn theo cách này, đổ lỗi cho bạn và đưa bạn vào tù. Sẽ chẳng có nguyên nhân và lý do nào cả. Điều đó không thể xảy ra. Và từ nghiệp tiêu cực làm hại bạn này họ sẽ bị tái sinh vào những cõi địa ngục. Họ không có chút tự do nào. Họ hoàn toàn bị sai sử bởi sự mê lầm và nghiệp do bạn là người khởi đầu trước nhất. Bạn có thể thấy rằng toàn bộ những điều đó đến từ bạn. Toàn bộ sự phát triển của tất cả những điều này đến từ những phiền não của bạn: tư tưởng ái-ngã, sự sân hận, tham luyến v.v..

Khi bạn suy nghĩ như thế này thì tất cả những người ấy chỉ trở thành một đối tượng của lòng bi mẫn và bạn không thể có những tư tưởng sân hận đối với họ. Thay vì ước muốn họ làm hại, bạn nghĩ: “Tôi có thể làm gì để giúp họ, để che chở cho họ thoát khỏi những cõi thấp khiến họ không bao giờ phải kinh nghiệm tất cả những nghiệp đó và giải thoát họ khỏi sinh tử?” Bạn có thể hồi hướng công đức và cầu nguyện những điều này có thể xảy ra, họ có thể thành tựu giải thoát và giác ngộ càng mau chóng càng tốt bằng cách quy y Phật, Pháp và Tăng. Bạn có thể tụng các thần chú và quán tưởng ánh sáng và chất cam lồ phát ra từ Phật, Pháp và Tăng đoàn, đi vào thân và tâm họ tịnh hóa nghiệp tiêu cực, bệnh tật, và những phiền não của họ, và họ trở nên giác ngộ (như trong thiền định của bạn về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đức Phật Dược Sư hay Đức Quán Thế Âm). Sau khi bạn chấm dứt những thực hành buổi sáng, chiều và tối, hãy hồi hướng những công đức đó cho họ để chứng ngộ sự quy y, Bồ đề tâm, sự giải thoát, và giác ngộ. Nhờ suy tưởng như thế, như chư vị Bồ Tát trong quá khứ đã làm, bạn sẽ chỉ muốn khóc và có lòng bi mẫn đối với họ. 

Việc Chấp nhận và Cách Bạn Nhìn Hoàn cảnh

Thiền định này xuất phát từ những điều đại Bồ tát Shantideva đã nói: “Trong quá khứ tôi đã làm tổn hại quá nhiều chúng sinh, vì thế giờ đây họ đang làm hại tôi. Do đó, tôi xứng đáng phải trải nghiệm sự tổn hại này.” Về cơ bản thì đó là vấn đề chấp nhận hoàn cảnh. Nếu bạn không chấp nhận hoàn cảnh thì sự việc sẽ trở thành một vấn đề nan giải. Nếu bạn chấp nhận hoàn cảnh là bị người khác đổ lỗi và đưa vào tù và bạn không chối bỏ điều đó, thì sự việc không trở thành một vấn đề. Chấp nhận là điều đầu tiên cần thực hành, sự thực hành chuyển hóa tư tưởng, sự thực hành Pháp. Nhiều vấn đề của cuộc sống đến từ việc không chấp nhận hoàn cảnh, và vì thế nó trở thành một vấn đề. Nhưng giây phút bạn chấp nhận hoàn cảnh, giây phút bạn chấp nhận bất kỳ vấn đề gì bạn có, thì vấn đề trở nên hết sức nhỏ bé và thậm chí sẽ biến mất. Sự việc có trở thành một vấn đề hay không thì tùy thuộc vào tâm của riêng bạn, ý niệm của riêng bạn.

Đã có lúc bạn cho nó một nhãn hiệu: “Đây là một vấn đề,” nó trở thành một vấn đề cho bạn. Nếu bạn không dán nhãn “vấn đề” thì không có vấn đề. Tâm bạn dán nhãn (quy gán) và rồi thì bạn thấy “vấn đề” từ đó. Nếu sự việc không bắt đầu như thế thì không có sự xuất hiện của vấn đề và bạn không nhìn thấy vấn đề. Đây là một miêu tả khoa học về cách chúng ta nhìn thấy niềm vui và các vấn đề. Mọi sự đến từ tâm của riêng bạn. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, giây phút bạn dán nhãn “vấn đề” và thấy sự việc là vấn đề, thì sự việc trở thành một vấn đề cho bạn. Nếu bạn nhìn sự việc như một niềm vui, hiểu nó là niềm vui, thì sự việc xuất hiện như niềm vui và bạn kinh nghiệm lạc thú.

Ví dụ như nếu có ai đánh bạn, và bạn nhận thấy điều đó thật thú vị, mặc dù bạn cảm thấy đau đớn, bạn dán nhãn điều đó là “tốt,” là “niềm vui,” và bạn không thấy đó là một vấn đề. Nhưng nếu bạn không muốn người đó đánh bạn, bạn quy gán cho việc bị đánh là một vấn đề. Bạn trở nên hết sức giận dữ và gọi cảnh sát, hay bạn có thể đánh đập, làm bị thương, giết hại người đó hay đưa họ vào tù. Bạn muốn gây tổn hại cho họ. Khi họ đánh bạn bằng một sợi dây lưng hay roi da thì bạn thấy đau đớn. Không phải là vì người ấy đánh bạn và bạn chỉ cảm thấy đại lạc. Nỗi đau thì giống nhau nhưng sự việc có là một vấn đề hay không thì tùy thuộc vào cách tâm bạn quy gán cho sự việc, tùy thuộc vào tư tưởng của bạn.

Khi bạn sống với người bạn muốn quan hệ tình dục, bạn không thấy việc giao phối là một vấn đề, mà là một niềm vui. Nhưng nếu có người nào đó mà với họ bạn không có tham luyến, họ bắt buộc bạn quan hệ tình dục thì bạn gọi điều đó là “điều sỉ nhục.” Tùy thuộc vào việc tâm bạn quy gán loại nhãn hiệu nào, sự việc trở thành niềm vui hay vấn đề. Không có niềm vui, vấn đề, hay đau khổ hiện hữu từ khía cạnh của riêng nó (độc lập với tâm của riêng bạn).

Tonglen

Bạn có thể sử dụng hoàn cảnh để tu tập Bồ đề tâm bằng cách thực hành tonglen: nhận lãnh nghiệp tiêu cực và nỗi khổ của tất cả chúng sinh bằng việc ở trong ngục tù khó chịu, và phát triển lòng bi mẫn đối với tất cả những ai có nghiệp bị tù đầy, cũng như tự bản thân nơi chốn. Hãy nhận vào bạn tất cả sự mê lầm và nghiệp, ngay cả dấu vết vi tế của phiền não, và tặng chúng cho tâm ái-ngã của bạn. Vào giây phút đó, giống như một quả bom nổ tung, mọi sự hoàn toàn trở nên không hiện hữu.

Nếu bạn sử dụng việc ở trong tù để thực hành tonglen bằng cách nhận vào mình những nỗi khổ của vô lượng chúng sinh có nghiệp bị tù đầy, bạn tạo nên một khối lượng công đức bao la. Bạn cũng nhận những nguyên nhân của đau khổ - nghiệp tiêu cực và các phiền não – và bằng cách nhận những dấu vết vi tế của họ bạn cũng tích tập những khối lượng công đức to lớn. Khi bạn hiến tặng thân thể bạn cho vô lượng chúng sinh với thiện tâm từ ái thì cũng tương tự như thế. Cũng thế, khi bạn từ bỏ của cải của bạn thì bạn tích tập công đức vô hạn. Mỗi lần bạn thực hành tonglen và từ bỏ những công đức trong quá khứ, hiện tại và tương lai và mọi hạnh phúc của bạn, kể cả sự giác ngộ, bạn tích tập công đức bao la vô hạn và tịnh hóa nghiệp tiêu cực trong hàng nhiều kiếp. Mỗi lần bạn thực hành thiền định nhận lãnh nỗi khổ và cho đi niềm vui, bạn tới gần sự giải thoát và giác ngộ và tiến gần tới việc có thể giác ngộ tất cả chúng sinh. Giờ đây bạn có thể thấy việc họ đưa bạn vào tù là một điều tích cực thật khó có thể tin nổi. Nó cực kỳ quý báu, hết sức tốt lành, là điều bạn thực sự cần thiết để tịnh hóa và tích tập rất nhiều công đức trong một thời gian ngắn ngủi như thế để trở thành một vị Phật. Đó là một điều để hoan hỉ. Nó không phải là cái gì xấu tệ hay đau khổ mà là điều khiến bạn vô cùng hạnh phúc. Nó vô cùng tốt lành khiến bạn có cơ hội để thực hành sự từ bỏ, Bồ đề tâm và cái nhìn đúng đắn (chánh kiến), cũng như lòng sùng mộ Đạo sư. Vì thế giờ đây bạn nhận ra rằng nó chỉ là một điều hết sức hạnh phúc.

Điều Cần thiết là phải Thành tựu Nhẫn nhục Ba la mật

Những người đổ lỗi cho bạn và đưa bạn vào tù là điều bạn thực sự cần thiết. Điều đó thật tốt bởi cuối cùng nó mang lại cho bạn niềm hỉ lạc to lớn. Đó là một điều vui thích. Hãy nghĩ: “Điều này giúp tôi thực hành nhẫn nhục, con đường đi tới giác ngộ.” Sau khi phát triển Bồ đề tâm, bạn có sáu toàn thiện (sáu ba la mật) để thực hành. Điều tôi đang nói là nhẫn nhục ba la mật. Nhờ thực hành nhẫn nhục với những người đó, bạn giảm bớt sự sân hận, và sau một thời gian thì thậm chí sân hận không còn xuất hiện, hay nó chỉ kéo dài một quãng thời gian ngắn, nhờ bạn đã tu hành tâm nhẫn nhục. Khi đó, bạn chẳng bao giờ nổi giận với bất kỳ ai, dù họ đối xử với bạn ra sao. Nếu bạn không nổi giận thì bạn sẽ không làm tổn hại ai bằng thân, ngữ, hay tâm bạn. Việc không làm tổn hại đó là sự an bình và hạnh phúc mà bạn có thể hiến tặng cho những người khác từ đời này sang đời khác. Thực hành nhẫn nhục có thêm một lợi lạc nữa là bạn có thể mang lại rất nhiều an bình và hạnh phúc cho tâm hồn và cuộc đời của riêng bạn và của gia đình, láng giềng, xứ sở của bạn và toàn thể thế giới – từ đời này sang đời khác.

Toàn bộ hạnh phúc này đến từ việc thực hành nhẫn nhục. Bạn có thể hiến tặng toàn bộ hạnh phúc này cho vô lượng chúng sinh do thiện tâm của gia đình, con cái bạn, dịch vụ chăm sóc trẻ em, quan tòa v.v.. – tất cả những người đã đổ lỗi cho bạn và đưa bạn vào tù. Bằng cách thực hành nhẫn nhục với họ, bạn có thể hiến tặng tất cả sự an bình và hạnh phúc này cho rất nhiều chúng sinh. An bình và hạnh phúc này thực sự đến từ họ, từ lòng tốt của họ, vì thế một lần nữa họ quý báu khó thể tin nổi. Để thực hành, bạn có thể sử dụng những cách thức họ đã đối xử với bạn, đổ lỗi cho bạn, thao túng bạn, và đưa bạn vào tù. Hãy sử dụng những cách thức ấy để hoàn tất nhẫn nhục ba la mật và theo cách đó hãy thành tựu sự toàn giác. Khi ấy, bạn có thể đưa vô lượng chúng sinh trong các cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, trời và a tu la đến sự giác ngộ. Nếu bạn không thực hành nhẫn nhục với họ, sân hận phát khởi, và khi đó mọi thái độ phiền não, náo động, tiêu cực xuất hiện với họ, và rồi thì bạn phạm nhiều hành động tiêu cực. Những người đó có thể trở thành những vị Thầy thiết thực cho bạn về sự nhẫn nhục. Đây là cách thức khác để suy tưởng về lòng tốt của họ và việc họ quý báu ra sao.

Phương pháp khác có thể giúp cho bạn cảm nhận lòng bi mẫn hay nhẫn nhục được giải thích trong lamrim là: Nếu có ai đánh bạn bằng một chiếc gậy, bạn đừng giận cây gậy. Cây gậy do người ấy sử dụng không có tư tưởng làm hại bạn. Nó không có sự chọn lựa. Tương tự như thế, người ấy không có sự chọn lựa, họ hoàn toàn bị những phiền não kiểm soát. Vì thế, họ chỉ là một đối tượng của lòng bi mẫn. Họ quá sức đau khổ, hoàn toàn bị những mê lầm của họ khống chế và sai sử như một kẻ nô lệ. Đây là một kỹ thuật để thực hành nhẫn nhục và phát triển lòng bi mẫn.

Tư tưởng Ái-Ngã Tai hại

Thiền định hữu hiệu nhất là nhớ tới bức tranh vĩ đại. Nếu bạn yêu quý cái “tôi,” điều đó gây cho bạn những đau khổ không mong muốn. Nó mở ra cánh cửa dẫn tới mọi vấn đề và chướng ngại, không chỉ trong cuộc đời này, mà từ đời này sang đời khác, bằng cách luân hồi trong sáu cõi và kinh nghiệm những đại dương đau khổ mà bạn đã kinh nghiệm từ những tái sinh tự vô thủy cho tới ngày nay. Nếu bạn tiếp tục yêu quý cái “tôi” ấy, bạn sẽ phải kinh nghiệm nỗi khổ vô cùng tận của sinh tử. Bạn sẽ không thể thành tựu giác ngộ, giải thoát, hạnh phúc của những đời sau, hay thậm chí hạnh phúc của đời này. Việc yêu quý cái “tôi” không chỉ làm hại bạn từ những tái sinh tự vô thủy và sẽ không ngừng gây tổn hại cho bạn trong tương lai, mà còn làm tổn hại cho vô lượng chúng sinh từ đời này sang đời khác. 

Hãy nghĩ tưởng về thái độ ích kỷ của bạn nguy hiểm ra sao đối với vô lượng chúng sinh. Cũng giống như bạn, ai cũng mong muốn hạnh phúc và không ước muốn đau khổ. Không có gì khủng khiếp hơn tư tưởng ích kỷ đó. Nó tai họa hơn mọi quả bom trong thế giới. Những trái bom không mang lại tai họa từ sinh tử vô thủy và chúng không liên tục làm hại bạn. Cho dù bạn bị căng phồng lên bởi một quả bom, tất cả những gì nó làm là tách lìa tâm thức bạn ra khỏi thân xác, nhưng nếu bạn đã thực hành Pháp trong đời này và đã tích tập rất nhiều công đức, thì cho dù bị một quả bom nguyên tử giết hại, bạn sẽ nhận được một tái sinh tốt lành trong đời sau của bạn – là một con người hay trong một cõi Tịnh độ. Tương tự như thế, nếu bạn chết vì bệnh ung thư; bởi đã thực hành Bồ đề tâm, bạn sẽ có một tái sinh tốt đẹp. Nhưng tư tưởng ái-ngã thì tại hại hơn tất cả 404 bệnh tật trong thế giới này, kể cả bệnh ung thư, bệnh AIDS, v.v.. Những bệnh tật này chẳng là gì cả nếu so sánh với tư tưởng ái-ngã. Chúng chỉ tách rời tâm thức ra khỏi thân xác. Chúng không làm hại những đời sau của bạn và không dẫn tới những cõi thấp, nhưng thái độ và tư tưởng ích kỷ thì làm những điều đó.

Trái lại, việc yêu quý ngay cả một người khác hay một con côn trùng và muốn họ được hạnh phúc sẽ mở ra cánh cửa dẫn tới mọi hạnh phúc: hạnh phúc và sự an bình của bạn trong đời sống hàng ngày và vào lúc chết, hạnh phúc trong những đời sau, sự giải thoát, và giác ngộ. Cuối cùng thì tư tưởng muốn mang lại hạnh phúc cho ngay cả một chúng sinh sẽ là nguyên nhân cho vô số chúng sinh kinh nghiệm mọi hạnh phúc cho tới sự giác ngộ. Cho dù bạn không có chứng ngộ thực sự về Bồ đề tâm, tư tưởng đơn thuần mang lại hạnh phúc cho một con côn trùng hay một con người cuối cùng sẽ tạo nên rất nhiều lợi lạc và hạnh phúc cho vô lượng chúng sinh.

Đập vỡ Tập quán của sự Tham luyến

Trong thư, bạn đã đề cập tới tập quán và biết bao rắc rối do nó gây ra. Giáo lý có nhắc tới một câu tục ngữ: Nếu bạn đổ mật ong trên một cây ớt, điều đó sẽ chẳng làm ớt ngọt. Giống như thế, tham muốn tính dục là một tập quán không bắt đầu trong đời này. Nó xuất phát từ những đời quá khứ. Nó không có lúc bắt đầu. Bạn đã có trong tâm tập quán tham muốn đối với người khác phái và khoái lạc xác thịt nói chung suốt trong những tái sinh từ vô thủy của bạn. Bạn cần phải hiểu rõ tập quán tham luyến có sức mạnh khó tin ra sao, là điều bạn đã có từ vô thủy do bởi những nguyên nhân và điều kiện (duyên). Một dấu vết được để lại trong dòng tương tục của tâm thức bạn mỗi khi bạn có tham muốn sẽ gieo trồng một hạt giống. Để nó xuất hiện, phải có những điều kiện của sự tham muốn, đối tượng – thân thể của người khác phái, và v.v.. Đó là một hiện tượng có tính chất nhân quả, xuất hiện từ những dấu vết của những tham muốn tính dục trong quá khứ.

Bởi tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, họ hoàn toàn có thể thoát khỏi sự tham luyến. Tham luyến có thể được giải trừ. Đó là bởi những dấu vết có thể được hoàn toàn giải trừ bằng cách sử dụng những phương thuốc, đặc biệt là trí tuệ trực tiếp nhận thức tánh Không. Bởi dấu vết đó không là một hiện tượng thường hằng mà là một hiện tượng có tính chất nhân quả, nó có thể biến đổi bởi những nguyên nhân và điều kiện (duyên), bằng phương tiện của con đường, đặc biệt là trí tuệ chứng ngộ tánh Không. Không còn nghi ngờ gì nữa, sự tham luyến đó có thể được giải trừ, bởi nó là một hiện tượng có tính chất nhân quả, một sự duyên-sinh. Nếu nó độc lập, nó không thể bị tiệt trừ, nhưng bởi nó phụ thuộc nên nó có thể bị giải trừ bởi những nhân và duyên: phương thuốc, con đường.

Sự Tham luyến và Tánh Không

Không chỉ sự tham luyến, mà ngay cả dấu vết tiêu cực vi tế phóng chiếu cái thấy vi tế nhị nguyên cũng có thể được giải trừ. Mặc dù mọi sự hiện hữu chỉ đơn thuần do tâm thức quy gán, dấu vết tiêu cực vi tế phóng chiếu sự hiện hữu thực sự ngay sau khi tâm quy gán. Tâm thức phóng chiếu sự hiện hữu nội tại trên bất kỳ những gì nó tri giác, nó trang hoàng sự hiện hữu nội tại trên mọi sự, khiến mọi sự dường như thực có. Nếu bạn hỏi: “Tôi đang làm gì?” bạn trả lời: “Tôi đang ngồi,” hay “tôi đang trò chuyện, tôi đang thiền định, đang ngủ, đang ăn,” mọi sự. Sự quy gán xảy ra như thế nào? Trước tiên, tâm thức nhận ra các uẩn và những hành động nào các uẩn đang thực hiện.

Ví dụ như uẩn của thân (sắc uẩn) đang thực hiện hành động ngồi, tâm đang thực hiện hành động thiền định, thân đang thực hiện hành động trò chuyện, hay tâm đang ngủ. Trước tiên tâm nhận thức những hành động này và sau đó, tùy theo hoạt động mà các uẩn đang thực hiện, tâm thức hình thành nhãn hiệu “tôi đang làm điều này hay điều nọ.” Kế đó có sự phóng chiếu, sự trang hoàng được thực hiện bởi dấu vết tiêu cực vi tế của sự hiện hữu nội tại, chân thực. Mặc dù nó chỉ đơn thuần do tâm thức quy gán, trong giây thứ hai của sự tri giác đối tượng không xuất hiện như đơn thuần được tâm thức quy gán; nó xuất hiện như không đơn thuần bị tâm thức quy gán, mà là cái gì thực có trong ý nghĩa của việc hiện hữu tự khía cạnh riêng của nó. Cũng thế, một cái “tôi” thực sự xuất hiện – cái “tôi” thực sự đang ngồi, trò chuyện, ngủ, thiền định. Mỗi hành động như thế chỉ đơn thuần do tâm thức quy gán, nhưng ngay sau sự quy gán đơn thuần, tâm thức lập tức trang hoàng hay phóng chiếu sự hiện hữu chân thực và hành động đó xuất hiện như thực có. Nó làm cho hành động thực có trong ý nghĩa của sự hiện hữu từ khía cạnh riêng của nó. Đối với mọi hiện tượng thì cũng giống như thế: đối với mỗi một trong năm uẩn, các giác quan, các đối tượng của các giác quan, v.v.. Mọi sự xuất hiện như thực có do bởi dấu vết tiêu cực vi tế.

Trong thực tế, cái “tôi” trống không, các uẩn trống không, các giác quan và đối tượng của giác quan hoàn toàn trống không. Chúng không có một nguyên tử (vi trần) nhỏ bé nhất nào thực sự hiện hữu. Mọi sự xuất hiện của hiện hữu chân thực được phóng chiếu là sai lầm, hoàn toàn là những ảo giác và không-hiện hữu. Tánh Không này là bản tánh tối hậu của mọi hiện tượng. Những dấu vết tiêu cực vi tế nhất phóng chiếu mọi hiện tượng này có thể hoàn toàn bị giải trừ bởi trí tuệ trực tiếp tri giác tánh Không với sự hỗ trợ của Bồ đề tâm, bằng cách hoàn thiện mọi công đức của trí tuệ và công đức của đức hạnh.

Nhờ có Phật tánh, điều này có thể thực hiện được, nhờ đó ta có thể chấm dứt tánh tham luyến và nguyên nhân của nó, dấu vết tiêu cực vi tế. Đây là cách mọi đau khổ xuất phát từ sự mê lầm và nghiệp có thể chấm dứt. Sự chấm dứt thực sự có thể được thành tựu nhờ có con đường chân chính. Đức Phật đã giảng dạy con đường trong các Kinh điển, và vẫn còn nhiều Đạo sư vĩ đại đã thảnh tựu sự chấm dứt này trong tâm các ngài. Chúng ta có thể học tập kinh nghiệm của các ngài. Đây là cách chúng ta có thể giải trừ các phiền não và được giải thoát vĩnh viễn khỏi mọi đau khổ và những nguyên nhân của chúng.

Bạn nên thấu hiểu sâu xa tận đáy lòng rằng tham luyến là một tập quán từ những tái sinh tự vô thủy, vì thế nó không phải là điều dễ giải trừ. Bạn phải tiếp tục thực hành các thiền định lamrim, là những cách đối trị cho tham luyến. Bạn cần bắt đầu với sự từ bỏ tham luyến đối với những lạc thú của cuộc đời này và của toàn bộ sinh tử. Khi ấy bạn có thể đi vào con đường. Không có Bồ đề tâm, bạn sẽ đi vào con đường Tiểu thừa, nhưng nếu bạn phát triển lòng đại bi, bạn có thể phát triển Bồ đề tâm và đi vào con đường Đại thừa, vì thế bạn có thể giải trừ những ô nhiễm thô và tế. Nếu bạn thực hành Tantra (Mật điển) bạn có thể giải trừ mọi ô nhiễm đó trong một đời, ngay cả với những Tantra thấp. Dĩ nhiên là nếu bạn thực hành Tantra du già tối thượng thì mọi điều này có thể xảy ra trong một đời người ngắn ngủi trong thời đại suy hoại này.

Đây là điều bạn nên nghĩ tưởng: “Tôi phải thực hiện điều đó. Nếu không trong đời này thì trong đời sau, cho dù mất hàng trăm hay hàng ngàn đời, thậm chí hàng nhiều kiếp. Tôi phải đặt mọi nỗ lực của tôi vào việc phát triển tâm tôi trong con đường.” Tận đáy lòng bạn sẽ có quyết định mạnh mẽ này rằng cho dù mất nhiều kiếp, tôi sẽ thực hiện điều đó. Cho dù có khó khăn tới đâu, cho dù lâu dài tới đâu chăng nữa, tôi sẽ thực hiện điều đó. Tại sao? Bởi nếu tôi không làm điều đó, tôi sẽ phải đau khổ trong sinh tử không có lúc chấm dứt, như nó không có lúc bắt đầu. Không thực hiện điều này bạn làm cho nỗi khổ của bạn trong sinh tử kéo dài không có lúc chấm dứt. Điều đó hoàn toàn điên khùng. Đây là điều điên khùng nhất, ngu xuẩn nhất, vô minh nhất. Không có gì vô minh hơn điều đó, không có gì ngu xuẩn hơn điều đó.

Và đặc biệt là bạn sẽ không thể giải thoát những người khác, cứu giúp người khác, vô số chúng sinh mà từ họ bạn đã thọ nhận mọi hạnh phúc trong quá khứ trong vô số tái sinh, hạnh phúc của bạn trong hiện tại, hạnh phúc trong tương lai, sự giải thoát, và giác ngộ. Mọi sự đến từ họ, ngay cả những niềm vui nhỏ bé trong một giấc mộng. Chính từ họ mà bạn nhận lãnh mọi điều này, vì thế họ là những người quý báu nhất, tốt lành nhất. Mục đích của việc có thân người quý báu này là làm lợi ích chúng sinh. Trước tiên, nó khiến cho những người khác có được hạnh phúc trong đời này. Quan trọng hơn điều đó là nó mang lại hạnh phúc trong tất cả những đời sau. Còn quan trọng hơn nữa là nó giải thoát họ khỏi mọi đau khổ và những nguyên nhân của nó: những phiền não và nghiệp. Thậm chí còn quan trọng hơn nữa là nó đưa chúng sinh tới sự toàn giác, sự ngừng dứt mọi lỗi lầm của tâm và sự thành tựu mọi chứng ngộ. Đây là mục đích của cuộc đời chúng ta. Đây là lý do để ta tiêu dùng rất nhiều tiền của để sống còn mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút; để có nơi trú ẩn, thực phẩm, y phục, thuốc men – để đưa chúng sinh tới sự toàn giác. Ngoài việc hoạt động cho người khác, mọi mục đích nào khác đều không phải là ý nghĩa của cuộc đời.

Đối với những người bạn sân hận, sau một thời gian, cho dù không thiền định nào được thực hiện như một phương thuốc, người đó không còn là đối tượng của sự sân hận của bạn. Tương tự như thế, với đối tượng của sự tham luyến, người đó không luôn luôn là đối tượng tham luyến của bạn; nó biến đổi. Điều này xảy ra thậm chi đối với những người không bao giờ nhận lãnh các giáo lý về thiền định. Vì thế, bạn có thể thấy rằng đó là một sự duyên-sinh. Nó không phải là cái gì thường hằng hay là điều bạn không thể làm điều gì đó để thay đổi. Vì thế, chắc chắn là với thiền định về các giáo lý bạn đã nhận được, bạn có thể ngưng lại việc tham luyến vào đối tượng đó. Vì thế, khi bạn đạt tới con đường của cái thấy (kiến), con đường thiền định, và v.v.., với trí tuệ trực tiếp tri giác tánh Không, chắc chắn là các phiền não của bạn sẽ ngừng dứt. Việc thể nhập con đường của cái thấy giải trừ những phiền não thuộc tri thức (sở tri chướng), sau đó sự thể nhập con đường thiền định chấm dứt những phiền não bẩm sinh.

Bạn bị tham luyến tính dục vào điều gì?

Khi bạn có sự tham luyến với người nào đó hay thân xác họ, chúng ta hãy phân tích xem điều này xảy ra thế nào. Trước hết bạn dính mắc bởi sự tham luyến thân xác họ. Dĩ nhiên là không luôn luôn nhất thiết là thân xác. Đôi khi bạn bị dính mắc vì giọng nói, một giọng hát, hay bởi sự hiểu biết hay trí thông minh của họ. Đôi khi bạn bị dính mắc vào con người, nhưng không phải thân xác – dính mắc vào của cải, nhân cách, mùi hương, khả năng hóm hỉnh v.v.. của họ. Tôi đang đặc biệt thảo luận trong mối liên quan với vấn đề mà bạn có. Đây là lý do tại sao tôi đang bàn về sự tham luyến thân xác.

Nếu bạn đi sâu một chút dưới làn da thì chẳng có gì để tham luyến. Nếu bạn nhìn làn da dưới một kính hiển vi bạn sẽ thấy nó khác hẳn khi bạn không nhìn bằng kính hiển vi. Bạn sẽ thấy nhiều lỗ chân lông, và các tế bào da trông như những ngọn núi. Không có làn da hiện hữu thực sự. Nó chỉ là một tập hợp của những tế bào và các nguyên tử. Trước hết bạn thấy làn da đẹp đẽ hay thế này thế kia. Tuy nhiên, không có gì là đẹp đẽ từ khía cạnh của đối tượng, thậm chí một nguyên tử mỏng manh cũng không có. Cách bạn nhìn làn da thì tùy thuộc vào cái thấy của bạn. Nó xuất phát từ tâm thức của riêng bạn. Nó là sự phóng chiếu của tâm thức của riêng bạn.

Nếu bạn tách rời lớp da khỏi thân thể và để nó sang một bên thì bất thình lình nó không là cái gì để tham luyến. Bạn không tham luyến vào làn da. Không có da thì không có cách nào để tham luyến vào phần còn lại của thân thể. Không có da thì thật tồi tệ đến không ngờ nổi. Ngay cả khi bạn nhìn thấy một chút máu chảy ra từ thân thể của người nào đó, bạn đã hoảng sợ. Chắc chắn là không có sự tham luyến vào máu. Điều này giúp cho ta một vài ý niệm rằng, từ khía cạnh của đối tượng, không có gì để tham luyến. Việc nghĩ tưởng rằng: “Vật này tuyệt đẹp, đó là vật đáng để tham luyến” đến từ tâm bạn. Nó là một phóng chiếu từ tâm thức của riêng bạn.

Một ví dụ khác là nếu bạn nhìn thấy một thân thể “hấp dẫn” nhưng ngửi thấy mùi phân của nó, bạn sẽ không tham luyến vào thân thể ấy. Nếu một thân thể trẻ trung tuyệt đẹp tương tự như thế có mùi hôi thối, mặc dù hình dáng vẫn thế - kiểu tóc, dáng mũi, đôi má và làn môi vẫn tương tự như thế, nhưng nếu nó có mùi hôi thối, như khi nó già cỗi và nhăn nhúm, bạn sẽ không tham luyến vào thân thể đó. Đây là lý lẽ chứng minh rằng chẳng có gì để tham luyến từ khía cạnh riêng của thân xác.

Sau đó có sự tham luyến vào bộ phận của người khác phái. Điều này là do bởi những dấu vết từ những đời quá khứ còn lưu lại trong tâm thức do bởi sự tham luyến vào người khác phái. Dĩ nhiên là không luôn luôn nhất thiết là giới tính đối nghịch, đây chỉ là một giải thích tổng quát. Một lần nữa, chẳng có chút gì từ khía cạnh riêng của nó để lôi kéo sự tham luyến. Nó xuất phát từ sự tham luyến vào người khác phái trong những đời quá khứ đã để lại dấu vết trong tâm thức. Có rất nhiều dấu vết, giống như một máy quay phim ghi lại những dấu vết trên một cuộn phim khổng lồ. Đó là một ví dụ về những dấu vết trên tâm thức. Sự tương tục của tâm thì giống như một cuộn phim từ những tái sinh tự vô thủy, trải qua rất nhiều đời, do tham luyến nên có rất nhiều dấu vết được ghi lại trên đó. Điều đó giống như những con gà con và quả trứng. Do những dấu vết trong quá khứ sự tham luyến xuất hiện. Bạn nhìn thấy một người khác phái, sau đó bạn phóng chiếu vào đối tượng đó. Dấu vết đó hiển lộ, vì thế khi nhìn một vật nào đó hấp dẫn, sự tham luyến xuất hiện đối với đối tượng đó. Nó hoàn toàn là một tạo tác của tâm thức, sự tạo tác của tâm của riêng bạn. Không có điều gì từ khía cạnh riêng của nó. Nó xuất hiện từ dấu vết tiêu cực còn lại bởi sự tham luyến trong quá khứ. Cũng giống như cái thấy của nghiệp của bạn. Điều bạn tham luyến chỉ là cái thấy theo nghiệp của riêng bạn, là điều bạn nghĩ tưởng. Bạn bị tham luyến vớ những gì tâm bạn quy gán và nhãn hiệu đó xuất hiện với bạn và bạn trở nên tham luyến vào nó. Bạn bị tham luyến vào cái thấy của riêng bạn, nhưng bạn hoàn toàn tin rằng bạn chẳng có gì để làm, tin rằng chẳng có gì đến từ tâm bạn, tin rằng cái thấy ấy hoàn toàn đến từ khía cạnh riêng của nó. Đây hoàn toàn là một ảo giác. Cũng tương tự như thế với phần còn lại của thân thể. Nếu bạn nghĩ rằng tóc của họ thật đẹp, hay chiếc mũi, bộ ria hay lông mi của họ, thì đó chỉ là sự phóng chiếu của riêng bạn.

Lúc này bạn là một người nam với một dương vật nhưng ở một đời khác, khi bạn là một phụ nữ, cái thấy theo nghiệp của bạn khiến cho điều bạn tham luyến là bộ phận của người đàn ông. Cái thấy của bạn thay đổi. Tôi đang đưa ra một giải thích tổng quát và không bao gồm những người đồng tính nữ (lesbian) hay những người đồng tính nam (gay). Nhưng một khi bạn hiểu rõ lý lẽ này, về cơ bản thì tất cả đều như nhau dù nói đến những người thích giao phối với người khác giới, những đồng tính nam hay đồng tính nữ. Điều này chỉ để hiểu rằng không có gì đến từ khía cạnh riêng của nó. Ví dụ như khi một người không phải là đồng tính nữ hay đồng tính nam thì sẽ không có sự hấp dẫn đó, nhưng sau này, người ấy trở thành đồng tính nam hay đồng tính nữ thì họ sẽ có một cái nhìn trước đây họ không có – là tâm phóng chiếu của họ về những gì họ tham luyến.

Nếu bạn có thể, hãy phát triển sự chán ngán mạnh mẽ đối với phụ nữ (tham muốn tính dục đối với phụ nữ) bằng cách nghĩ tưởng về những vấn đề họ gây ra trong đời bạn. Điều này khiến cho bạn được tái sinh làm một người nam, có sự từ bỏ lạc thú tính dục, và trở thành một tu sĩ trong đời sau của bạn.

Đức Padmasambhava đề cập trong bản văn Ban Lời Chỉ dạy: “Phụ nữ là nền tảng của sinh tử, ba cõi thấp, chướng ngại ngăn chặn cánh cửa dẫn tới giải thoát, và nguyên nhân và điều kiện (duyên) của năm độc và những mê lầm.” Đây là lời khuyên của Đức Padmasambhava để những người đàn ông nghĩ tưởng nhằm mục đích kiểm soát sự tham luyến và chấm dứt những tập quán tiêu cực của họ. Theo quan điểm của đàn ông thì đó là cách đối trị cho sự tham luyến. Nó cũng có thể được nhìn theo quan điểm của phụ nữ nhờ suy nghĩ về cách kiểm soát sự tham luyến đối với đàn ông bằng sự quán chiếu về mọi vấn đề và những khó khăn.

Sự tham luyến và hấp dẫn có rất nhiều điều để làm đối với khuôn mặt. Một khuôn mặt hiện hữu thực sự hay nội tại xuất hiện, một khuôn mặt không đơn thuần được tâm thức quy gán. Bạn có cái nhìn này được phóng chiếu từ những dấu vết tiêu cực của bạn để lại do sự vô minh trong quá khứ, và sự phóng chiếu này cường điệu hóa một kiểu tóc đẹp, cái mũi, gò má tuyệt đẹp, v.v.., sau đó bạn diễn dịch và quy gán cho khuôn mặt là “đẹp.” Đó là sự cường điệu hóa vẻ đẹp và sau đó tham luyến xuất hiện với niềm tin rằng “cái này đẹp.” Tâm thức không chỉ quy gán “đẹp” nhưng nó tin tưởng khuôn mặt đó đẹp, và khi đó tham luyến xuất hiện. Sự tham luyến dính mắc vào hình tướng của khuôn mặt và thân thể đẹp và khi đó khó xa rời nó và nó trở thành một vấn đề cho tâm thức bạn. Trước khi tham luyến xuất hiện bạn không có vấn đề đó. Các cơ quan sinh dục không gây quá nhiều tham luyến. Tham luyến bắt đầu với khuôn mặt, và sau đó khuôn mặt ấy, một phóng chiếu của tâm bạn, trở nên hết sức quan trọng đối với bạn.

Có hai vấn đề: những dấu vết để lại do vô minh và những dấu vết để lại do tham luyến. Thân thể mà bạn nhìn thấy, bạn ôm giữ như thật có và bám níu vào như dầu trên trang giấy do bởi sự tham luyến thật khó tách lìa. Điều này đến từ việc bạn ôm giữ ảo giác của riêng bạn và những phóng chiếu bị tâm thức của bạn cường điệu hóa. Đối tượng mà bạn tham luyến là vật gì hấp dẫn, khiến cho tâm vô minh của bạn ôm giữ như thật có và không đơn thuần là bị quy gán, thì không hiện hữu. Nhưng bạn bị tham luyến và bị thu hút vào xác thân của người đó, giống như dầu trong vải, bởi bạn thấy thân xác đó tuyệt đẹp.

Vấn đề khác là tâm thức không thỏa mãn. Bạn không thỏa mãn với lạc thú và cảm giác mà bạn có trước đây, vì thế bạn mong muốn thêm nữa hay muốn lạc thú mạnh mẽ hơn và muốn lập lại những gì trước đây bạn đã kinh nghiệm. Khi đó, một lần nữa, bạn không thỏa mãn. Bạn ước muốn thêm nữa. Đó là sự mong chờ lạc thú sẽ mang lại sự thỏa mãn, nhưng điều đó không bao giờ xảy ra. Hàng nhiều năm, nhiều tháng, nhiều tuần, nhiều ngày, thậm chí trong 24 giờ, chẳng bao giờ bạn được thỏa mãn. Ngay cả trong một tỉ năm bạn cũng chẳng bao giờ thỏa mãn. Bạn tìm kiếm lạc thú khác, lạc thú mạnh mẽ hơn sẽ mang lại sự thỏa mãn. Nhưng lạc thú ấy chẳng càng lúc càng mãnh liệt hơn được. Bạn vẫn tiếp tục làm điều này trong nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng, thậm chí trong 100 năm.

Trường hợp khác để khảo sát là khi, vào lúc đầu, bạn không tham luyến thân xác của người nào đó. Sau đó một thời gian người ấy rất tử tế đối với bạn, tặng bạn rất nhiều quà và các đồ vật, bất kỳ điều gì bạn muốn. Họ rất tử tế với bạn. Sau đó, mặc dù trước đó không có sự tham luyến, thình lình quan điểm của bạn thay đổi. Bây giờ họ có vẻ rất hấp dẫn. Họ trở thành một đối tượng của sự  tham luyến. Cái nhìn của bạn về người đó hoàn toàn thay đổi đối với trước đó. Tâm bạn cường điệu hóa những phẩm tính tốt đẹp của họ đến nỗi giờ đây bạn bị tham luyến vào người đó và khó có thể rời xa họ. Tư tưởng xa cách thì cực kỳ đau khổ. Sau đó tham muốn dẫn tới hành vi tà dâm và thực hiện những hành động tiêu cực khác nhau. Giống như Lạt ma Yeshe thường nói, khi một người bình thường làm tình, hành động đó chẳng có trí tuệ hay lòng bi mẫn gì hết. Động lực của hành động đó chỉ là tư tưởng ái-ngã và lạc thú cho bản thân. Nếu động lực của bạn không tốt lành, hành động sẽ bất thiện và tạo ra sự tái sinh trong những cõi thấp và nỗi khổ ở đó trong một thời gian dài dằng dặc. Như Lạt ma đã nói, không có sự kiềm chế hay trí tuệ trong hành động tính giao và tâm thức hoàn toàn bất giác và mê lầm. Điều Lạt ma muốn nói về “trí tuệ” là trí tuệ Pháp, đặc biệt là trí tuệ chứng ngộ tánh Không.

Những Trường hợp Đặc biệt

Dĩ nhiên là có những trường hợp đặc biệt chẳng hạn như những Bồ Tát quả cảm có lòng bi mẫn và Bồ đề tâm yêu thương những người khác. Chư vị Bồ Tát đó là những người hoàn toàn từ bỏ, đã từ bỏ cái “tôi,” và không có tư tưởng tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân, ngay cả trong một giây phút. Các ngài chỉ có tư tưởng mạnh mẽ là yêu thương người khác và trí tuệ làm lợi lạc cho rất nhiều chúng sinh. Có những Bồ Tát là những Chuyển Luân Thánh Vương, các ngài có hàng ngàn