Trang tiếng Anh

Đạo Phật Ngày Nay 

Trang tiếng Việt   

   

...... ... ..  . ..  .  .
PHẬT VÀ THÁNH CHÚNG
Xuất bản: Phật Học Viện Nha Trang, Phật lịch 2513

PHẬT GIÁO HÓA hay PHẬT CHUYỂN PHÁP LUÂN

******

NGƯỜI ĐẦU TIÊN GẶP PHẬT

            Trên đường từ gốc Bồ đề đến thành Ca Thi, Phật gặp một người từ xa đi lại. Ông này thấy tướng mạo trang nghiêm của Phật thì bất giác tâm hồn rúng động, liền quỳ mọp bên vệ đường, bạch rằng:

            - Ngài có phải là người không? Sao tướng ngài đẹp đẽ từ hòa đến thế? Nhìn ngài, sao tôi tự nhiên thấy vừa rờn rợn ớn lạnh, vừa phơi phới hoan hỷ mà tâm hồn lại yên tỉnh khác thường? Ngài là thiên thần chăng? Ưu Ba Ca này kính mong Ngài khai thị.

            - "Này Ưu Ba Ca! Phật bảo. Ta không phải thiên thần. Ta cũng không theo học với thầy nào hết. Không có bạn bè nào cùng học chung với ta. Nhờ tự lực, ta đã giác ngộ được diệu pháp mà trên thế gian này chưa ai đạt được.

            Này Ưu Ba Ca! phiền não là kẻ thù đáng sợ nhất. Muốn hàng phục kẻ thù ấy, nhất định phải có gươm báu trí tưệ. Trí tuệ ấy, ta đã chứng được. Đến thành Ca Thi phen này, ta nhất quyết phải dóng trống chánh giác, khua chuông trí huệ, để thức tỉnh thế gian đang chìm đắm trong cơn ác mộng triền miên.

            Này Ưu Ba Ca! Lòng ta hiện rất thanh thản. Không kiêu ngạo cũng không nô dịch vì bất cứ một lý do nào. Ta chỉ chuyên chú một việc: lưu bố chánh pháp cứu giúp chúng sanh chìm đắm trong biển khổ. Trong một kiếp trước, ta đã từng phát nguyện làm thuyền trưởng cứu vớt kẻ trầm luân chơi vơi trong khổ hải. Nay điều kiện này đã đầy đủ, ta quyết thực hiện thệ nguyện xưa. Bất cứ ai có thiện căn và nhân duyên sẽ đều được ta cứu vớt. Ta phải thực hiện cho kỳ được sứ mạng của đấng đại trượng phu và đấng đại y vương.

            Này Ưu Ba Ca! Không phải nhân vì có bóng tối mà dèn phát ra ánh sáng. Khu trừ hết bóng tối thì ánh sáng tự nhiên của đèn hiện ra. Đèn ấy là đèn trí huệ. Ta đốt đèn ấy lên là làm một việc thuận với tự nhiên để chiếu phá bóng tối ngu si của chúng sanh.

            Này Ưu Ba Ca! Cưa gỗ thì có lửa. Không khí chuyển động thì thành gió. Đào đất thì phải được nước. Đó là những việc đương nhiên. Việc ta sắp làm đây cũng vậy"

            Lắng tai nghe Phật nói, Ưu Ba Ca tán thán không ngớt. Nghe xong, hứa trong tương lai sẽ tìm gặp Phật và sẽ xin làm đệ tử. Sau đó hai người chia tay.

 

I.- GIÁO ĐOÀN ĐẦU TIÊN

            Đến vườn Lộc Uyển trong rừng Khổ hạnh, Phật gặp ngay nhóm năm người Kiều trần Như vẫn còn ở đấy. Xa trông thấy Phật uy nghi bước đến, thoạt tiên năm ông tưởng Phật hối hận muốn trở lui xin sám hối để cùng tiếp tục tu. Cả năm người ước hẹn cùng nhau tảng lờ, nhắm mắt giả bộ như không trông thấy, để xem Phật xử sự ra sao. Nhưng khi Phật đến gần, không ai bảo ai, tất cả đều bất giác phát sợ và cùng quỳ xuống đảnh lễ.

            - Sao các ông không thực hành lời giao ước không đón tiếp ta? Phật bảo.

            - Thái tử Tất Đạt Đa! Chúng tôi đâu dám nghĩ thế!

            - Các ông từ nay không nên gọi ta bằng tục danh. Hiện ta đã thành tựu chánh giác. Hãy gọi ta là Phật. Phật chính là ánh sánh của vũ trụ. Muốn thành thành Phật đâu cần phải tu khổ hạnh! Trái lại có bỏ lối tu ấy đi thì mới mong thành Phạât được.

            Này Kiều trần Như! Năm ông hiện đang mắc phải một cái bệnh hiểm nghèo là bệnh chấp chặt một phía. Bắt nhục thể chịu khổ chỉ càng khiến tâm thần thêm rối loạn. Trái lại, cho thân tâm hưởng lạc thì lại khiến nó say đắm ái trược. Tu hành mà thiên trọng bên này hay bên kia, đều không thể nào thành tựu đại đạo căn bản. Vấn đề này, ta đã thấu rõ khi còn ở trong vương cung và khi ta cùng các ông tu khổ hạnh sáu năm.

Xa lìa cả khổ lẫn lạc, đó là con đường tu hành trung đạo chân chánh, đưa đến giác ngộ tối cao.

            Muốn đi đến đó, cần phải thực hiện tám điều:

            1.- Kiến giải phải chính xác (chánh kiến)

            2.- Tư tưởng phải thuần chơn (chánh tư duy)

            3.- Nói phô phải hiền hòa thanh tịnh (chánh ngữ)

            4.- Việc làm phải chánh đáng (chánh nghiệp)

            5.- Mưu sinh phải hợp lý (chánh nghiệp)

            6.- Tinh thần phải tích cực (chánh tinh tấn)

            7.- Tín ngưỡng phải hợp chơn lý (chánh niệm)

            8.- Sinh hoạt tâm linh phải quy nhất (chánh định)

            Tu học phải theo đúng tám hướng này mới giải thoát được khổ đau của phiền não tích tụ từ lâu đời lâu kiếp. Có giải thoát đau khổ mới đạt được cảnh giới tịch tịnh an vui.

            Này Kiều trần Như! Trên thế gian này, tất cả chúng sanh không ai thoát khỏi khổ đau do sanh,già, bệnh, chết gây nên. Đã thế, lại còn dồn dập bao nhiêu tai ương của tự nhiên giới như hỏa tai, thủy tai, phong tai, chấn tai v.v... Ái ân mà phải xa lìa cũng khổ. Oán cừu phải gặp gỡ cũng khổ. Ham muốn không được cũng khổ. Năm ấm thiêu đốt ngày đêm cũng khổ. Tất cả các nổi KHỔ đau ấy đều bắt gốc từ cái ảo tưởng Ngã. Do ảo tưởng ngã ấy mà tham, sân, si dấy khởi triền miên, tích lũy đời nọ qua kiếp kia thành TẬP. Muốn giải trừ khối tham, sân, si tích tập ấy, cần phải tu ĐẠO. Có tu đạo mới tiến nhập được cảnh giới tịch DIỆT.

            Này Kiều trần Như! Ta cần chỉ cho các ông biết:

·Đó là Khổ, vì tánh nó hay bức bách.

·Đó là Tập, vì tánh nó thường chiêu cảm.

·Đó là Diệt, vì tánh nó có thể chứng được.

·Đó là Đạo, vì tánh nó có thể tu được.

            Này Kiều trần Như! Ta khuyên các ông hãy tích cực:

·Vì nó là Khổ, các ông cần phải biết.

·Vì nó là Tập, các ông cần phải trừ.

·Vì nó là Diệt, các ông cần phải chứng.

·Vì nó là Đạo, các ông cần phải tu.

            Này Kiều trần Như! Hãy xem gương ta thì rõ:

·Đó là Khổ, ta đã biết rồi.

·Đó là Tập, ta đã trừ xong.

·Đó là Diệt, ta đã chứng được.

·Đó là Đạo, ta đã tu thành.

            Bốn sự thật căn bản Khổ, Tập, Diệt, Đạo chỉ có thánh trí mới hội thông, nên gọi là Bốn Thánh đế. Nếu không rốt ráo thấu hiểu Bốn Thánh đế ấy thì không thể nào giải thoát. Các ông nghe rõ chưa?

            Này Kiều trần Như! thân năm uẩn này là thường chăng? Là không thường chăng? Là khổ chăng? Là không khổ chăng? Là không chăng? Là không không chăng? Là ngã chăng? Là vô ngã chăng?

            - Bạch Phật! Năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức đích thực là vô thường, khổ, không và vô ngã.

            - Hay thay! Các ông đã lãnh hội được giáo pháp ta.

            Sau khi nghe Phật dạy, năm ông Kiều trần Như, A Xả Bà Thệ, Bạt Đề, Thập Lực Ca Diếp và Ma Nam Câu Ly (con trưởng Học Phạn Vương) đều xin nguyện quy y Phật. Đây là năm đệ tử đầu tiên. Với lời thuyết giáo trên là bài giảng đầu tiên cho năm đệ tử dầu tiên ấy (1). Đến đây ngôi Tam Bảo đã đầy đủ với đức Thích Ca là Phật bảo, Bốn Thánh đế là Pháp bảo và năm đệ tử đầu tiên là Tăng Bảo.

******

(1) Phê bình bài giảng này, các tư tưởng gia Đông Tây kim cổ đều cho đây là tinh túy của Phật giáo, là đóa hoa thơm của nhân loại, lâu lâu mới thấy nở một lần. Bảo đây là tinh túy, vì toàn bộ hệ thống giáo triết của nền tư tưởng Phật giáo đều bắt rễ, nẩy mầm, đâm chồi, trổ hoa, kết trái trên Bốn Thánh đế này.

            Với Bốn Thánh đế và Năm đệ tử đầu tiên, Phật giáo từ đây đã viết được trang sử đầu tiên của chính mình.

******

II.- CƯ SĨ VÀ TÍN NỮ ĐẦU TIÊN

            Sau khi lập xong giáo đoàn, hàng ngày Phật cùng đệ tử đi hành hóa dọc theo ven sông Phược Ra Ca.

            Một hôm trời hừng sáng, Phật xuống sông rửa mặt thì bổng thấy một thanh niên từ bên kia thành Ca Thi lội bộ qua, mặt mày hốt hoảng, tinh thần thác loạn, mồm không ngớt kêu khổ. Hỏi ra mới biết thanh niên ấy giữa đêm thức giấc, thấy vợ (vốn là một vũ nữ), trong lúc ngủ mê hiện rõ chân tướng xấu xí, bèn nổi khùng, lén bỏ nhà ra đi lang thang vô định. Kịp đến sáng thì gặp Phật, Phật đem giáo lý vô thường ra giảng dạy. Bừng tỉnh ngộ, thanh niên nằng nặc xin Phật xuất gia. Đây là đệ tử thứ sáu của Phật tên là Da Xá, con của trưởng giả Câu lê Da, người thành Ca Thi.

            Sau khi Phật chấp nhận Da Xá làm đệ tử thì Câu lê Da trên bước đường tìm con, cũng gặp Phật, được Phật giảng dạy về những nỗi khổ đau của kiếp nhân sanh vô thường, như bọt nước, như sương sa. Để chế ngự khổ đau, Phật nói công đức trì giới, bố thí. Sau đó, Câu lê Da phát nguyện quy y làm đệ tử tại gia. Đó là vị Ưu bà tắc đầu tiên.

            Hôm sau Câu lê Da mời Phật và đệ tử về thọ trai tại nhà. Vợ Câu lê Da thấy Phật tướng mạo trang nghiêm, trong lòng vô cùng phấn chấn, cũng theo gương chồng xin quy y. Đây là vị Ưu bà di đầu tiên.

            Tiếp theo, năm mươi thanh niên bạn của Da Xá thấy Da Xá xuất gia đầu Phật, được Phật cảm hóa tánh tình khác xưa, nhân đó cũng xin xuất gia. Giáo đoàn giờ đây lên đến trên năm mươi người, hàng ngày chia nhau đi bố giáo các vùng lân cận.

1.- BA ANH EM CA DIẾP QUY CHÁNH

            Ngay trong vùng Phật và đệ tử hoằng hóa, có một đạo sĩ nổi tiếng tên là Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (Uruvilvà Kàsyapa) cầm đầu năm trăm đệ tử theo đạo Bái Hỏa (thờ thần lửa). Phật quyết đưa ông này về nẻo chánh, lập tâm đến nhiếp phục cho được.

            Trên đường đi đến đền thờ thần Lửa của Ca Diếp, tình cờ Phật gặp ba mươi thanh niên đương tìm kiếm một cô gái, trước kia vốn là gái điếm, nhưng được cả nhóm mua về làm vợ cho một gã trong bọn họ. Lý do tìm kiếm là vì dâm nữ ấy, đêm vừa rồi thừa lúc trong nhà ngủ say, đánh cắp tiền bạc quần áo bỏ trốn. Thấy thanh niên mất vợ, vẻ mặt thiểu não u sầu, Phật giảng giải đạo lý nhân sanh vô thường cho nghe, xong ngài hỏi: "Anh thử nghĩ kỹ, nên đi tìm tự ngã anh hơn hay đi tìm người đàn bà ấy hơn".

            Thanh niên chợt tỉnh ngộ, rồi cùng với hai mươi chín người bạn kia xin quy y theo Phật làm đệ tử.

            Khi đến gặp Ca Diếp thì trời gần tối. Ông này tỏ ý khinh khi cao ngạo, tự coi mình là một thánh nhân. Quả thật, ông cũng thuộc hạng bác học đa văn và nhất là ông đang được vua quan và dân chúng quanh vùng thành kính tôn sùng.

            Phật biết vậy, bèn mượn cớ là người lữ hành đi nhỡ độ đường, xin cho tạm trú một đêm. Ca Diếp cho ngủ trong đền dành riêng để chứa những khí cụ bái hỏa, trong đó có một con độc long rất dữ. Ca Diếp có ác ý muốn cho độc long hại Phật. Chính Phật cũng biết thâm ý ấy. Nhưng bằng những huyền năng siêu nhiên, Phật hàng phục độc long một cách dễ dàng, khiến Ca Diếp và nhóm đệ tử trở lại khiếp phục. Hôm sau tại đền Bái Hỏa có lễ lớn, đông đảo dân cư quanh vùng quy tụ về xem Ca Diếp thi thố thần thông. Ca Diếp có lòng đố kỵ, không muốn Phật hiện diện trong buổi lễ ấy, định kiếm cách mời Phật ra khỏi đền để Ca Diếp khỏi áy náy. Phật biết ý tránh mặt. Nhưng sau khi tan lễ, Ca Diếp vô cùng kinh dị, thấy Phật còn y nguyên ở chổ cũ trong đền. Kết quả của chuyến gặp gỡ kỳ thú này là Ca Diếp và năm trăm đệ tử đều vứt hết khí cụ bái hỏa xuống sông, dẹp đền thờ thần lửa và xin quy y theo Phật.

            Hai em của Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp là Nan Đềø Ca Diếp (Nadi Kàsyapa) và Già Da Ca Diếp (Gayà Kàsyapa) cũng thờ thần lửa và hai người thống lãnh hai trăm năm mươi đồ chúng tu gần đấy, nghe tin anh mình quy y Phật, rất đổi ngạc nhiên, tìm đến can ngăn, nhưng sau khi nghe anh ca tụng Phật và chính tự mắt được nhìn thấy phong độ của Ngài, cũng bị nhiếp phục mà tình nguyện xin theo luôn. Do sự quy chánh của ba anh em Ca Diếp, đệ tử Phật tăng thêm được một ngàn người.

            Nhân ba anh em Ca Diếp thờ thần lửa, Phật khai thị cho họ biết về tai họa của lửa. Ngài dạy họ rằng những cảm giác của chúng sanh bừng cháy đêm ngày như lửa đốt. Đó là lửa tham, sân, si, lửa ảo mộng, lửa sanh tử v.v.. Các thứ lửa ấy dấy khởi vốn có thủy tất phải có chung. Tiêu diệt các  thứ lửa ấy khiến cái quá trình hữu thủy hữu chung của nó ngưng lại, thì sẽ đạt được tịch diệt và bất tử ở cõi an lạc tối cao.

2.-VUA TẦN BÀ SA LA QUY Y

            Nhớ lời kết ước xưa, Phật dẫn đồ chúng đến gặp vua Tần Bà Sa La (Bimbisara) tại thành Vương Xá, nước Ma kiệt đà. Dọc đường ngài dừng lại ở núi Linh Thứu cách thành khoảng vài ba dậm, thiết lập đạo tràng tại đấy xong rồi mới tiến vào thành sau.

            Dân trong thành, khi nghe tin đồn ba anh em Ca Diếp đầu Phật, đã vô cùng kinh ngạc, nay lại nghe Phật quang lâm đến Vương Xá có ba anh em ấy theo hầu, không ai bảo ai, tất cả đều thiết lập hương án chưng hoa xông trầm, quỳ mọp hai bên vệ đường đợi Phật và chúng đệ tử đi qua để chiêm bái. Riêng vua Tần Bà Sa La thì cho sứ giả đến tận núi Linh Thứu nghênh đón. Đích thân nhà vua ra tận ngoài thành đảnh lễ. Thoạt nhìn thấy Phật với diện mạo uy nghi rực rỡ bội phần hơn xưa, nhà vua biết rằng Phật đã chứng quả đích thực rồi.

            Đáp lời nhà vua hỏi: "Nếu không có ngã thì ai thọ quả báo", tại vương cung Phật dạy rằng:

            - Ngã này chỉ là một ảo tưởng của chúng sanh. Quả báo mà chúng sanh thọ lãnh cũng là ảo tưởng nốt. Ảo tưởng nọ dấy khởi ảo tưởng kia. Phá được ảo tưởng ngã thì đồng thời phá luôn được ảo tưởng quả báo mà giải thoát.

            Nếu bảo rằng nhất định phải có ngã để thọ quả báo thì hà tất phải tu khổ hạnh? Nếu bảo rằng nhất định không có gì hết thì cầu giải thoát làm gì? Trên thế gian này, thật không có sở tác của ngã. Cũng không có ngã làm chủ tể. Chỉ có tự nghiệp lưu chuyển mà thôi.

            Vì nghiệp nên hình như có ngã. Hết thảy phiền não tham, sân, si đều bắt gốc từ cái giả ngã ấy. Hiện tượng giống như đá chọi đá. Đá chọi đá có khi phát tia lửa, có khi không phát . Khi đá không chọi đá, thì không thể nói rằng đá là lửa. Sự kiện đó, trải qua những năm tu hành, ta đã thấu rõ. Nhờ đó mà ly khai được ảo tưởng ngã (tức ngã chấp). Nhưng ly khai ngã chấp không phải việc dễ. Hễ chưa ly khai được ngã chấp thì còn đầy rẫy mê lầm, ngu si, điên đảo.

            Muốn phá trừ ảo tưởng ngã (tức ngã chấp), phải quên nó đi và thay vào đó, tạm lấy chung sanh làm ngã. Tiếp theo, lại phải quên luôn chúng sanh mà đi vào lãnh vực của tâm bất động. Đem tâm bất động ấy thể nhập vũ trụ, hoà đồng với vũ trụ trong một bản thể chung cùng rộng lớn; đó mới chính là thật ngã, mà cũng tức là Niết bàn bất sanh bất diệt vậy. Thật ngã ấy hay Niết bàn chính là thật tướng bản lai của vũ trụ. Trong thật tướng bản lai ấy, đâu còn sanh tử nữa.

            Nghe Phật dạy xong về vô ngã và thật ngã, vua Tần Bà Sa La và tất cả thính chúng đều phát nguyện quy y.

            Để đền đáp ơn Phật, nhà vua cho xây cất tại vườn trúc Ca Lan Đà ở cạnh thủ đô Vương Xá, một ngôi tịnh thất lấy tên là Trúc lâm tịnh xá, gồm mười sáu ngôi nhà, mỗi ngôi gồm sáu chục phòng, năm trăm lầu gác, bảy mươi hai giảng đường. Cất xong, nhà vua mời Phật và chúng tăng về thường trú tại đó.

            Sau khi Phật tiếp nhận Tịnh xá Trúc lâm, tiếng đồn vang khắp đó đây. Bấy giờ có hai đạo sĩ cự phách thuộc môn phái San Xa Dạ (Sanyaya, một trong số sáu phái Luận sư ngoại đạo), là Ưu Ba Thất Sa (Upatisya) tức Xá Lợi Phất (Sariputra) và Câu Luật Đà, cũng gọi là Câu Ly Ca (Kolita) tức Mục Kiền Liên (Maudgalyayana hay Maudgalaputra), mỗi người lãnh đạo khoảng một trăm đồ chúng, do môi giới của A Xả Bà Thệ, đem tất cả đồ chúng đến xin đầu Phật.

            Hai vị này về sau đều là cao đệ của Phật, thuộc nhóm Thập Thánh chúng. Xá Lợi Phật là Trí tuệ đệ nhất, Mục Kiền Liên là Thần thông đệ nhất.

            Xá Lợi Phất có người cậu ruột gọi là Trường Trảo phạn chí (đạo sĩ Bà la môn để móng tay dài), nghe tin cháu mình đã theo Phật, kinh ngạc bèn tìm đến xem sự tình ra sao, bị khiếp phục rồi cũng xin quy y làm đệ tử. Đó là Ma Ha Câu Hy La, cũng gọi là Câu Sắc Chỉ La (Maha Kausthila) mà đoạn mở đầu các kinh thường nhắc đến.

            Một hôm, Phật nhuốm bệnh, vua Tần Bà Sa La phái ngự y tên là Kỳ Bà đến chăm sóc điều trị. Nhân thấy Phật đắp tấm y quá cũ, Kỳ Bà đem phép vệ sinh ra thuyết giải và dâng Phật một tấm y mới do một quốc vương láng giềng trao tặng để tạ ơn ông đã có công trị liệu cho chính quốc vương ấy, nhưng Kỳ Bà tiếc không mặc, cất giữ đã lâu ngày. Phật lãnh thọ. Từ đó, nhân dân thành Vương Xá noi gương, đua nhau dâng cúng y cho chư tăng. Và cũng do đó, lần đầu tiên, Phật chế pháp phục cho tăng đoàn.

            Phong trào dâng cúng lan tràn. Tiếng đồn tới tai một vị đại phú hào, giàu địch quốc tên là Ma Ha Ca Diếp (Maha Kàsyapa) người ở thôn Sa lan đà, không xa thành Vương Xá lắm. Ông này là một nhân vật cự phách thuộc dòng Bà la môn, học rộng tài cao, thông minh quán chúng, nghe tin đồn đãi, ông tìm đến Vương Xá xin yết kiến Phật. Cảm phục đức độ tài năng cửa Phật, sau mấy lần tiếp xúc, ông dẹp bỏ việc nhà, xin Phật thâu nạp làm đệ tử. Về sau, ông trở thành vị Đầu đà đệ nhất, thuộc nhóm Thập Thánh chúng. Ông còn là người thừa kế Phật thống lãnh tăng đoàn sau khi Phật nhập diệt. (Nên biết rằng, bấy giờ Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đều đã thị tịch rồi).

            Sau khi nhiếp phục được Ma Ha Ca Diếp, tiếng tăm Phật thật là lẫy lừng rực rỡ. Trí thức trong toàn cõi nước Ma kiệt đà đều đổ xô về xin thọ giáo. Cơ sở Phật giáo của nước Ma kiệt đà như vậy là đã thành tựu viên mãn. Tịnh xá Linh Thứu hoàn thành cũng chính lúc này.

            Từ đây sắp sau, Phật giáo bành trướng sang nước Kiều Tát La (Kosala) (1) với thủ đô là Xá Vệ, do môi giới của cư sĩ Tu Đạt tức trưởng giả Cấp Cô Độc. Kiều Tát La là một trong hai trung tâm văn hóa sáng chói bậc nhất của toàn cõi Ấn Độ thời bấy giờ (trung tâm kia là Ma Kiệt Đà).

******

(1) Kosala này là Kosala ở vùng trung châu sông Hằng, nơi về sau Bồ tát Long Thọ đặt cứ địa xiển dương Đại thừa, khác với Kosala ở Nam Ấn và Bắc Ấn.

******

3.-TỊNH XÁ KỲ VIÊN VÀ CƯ SĨ TU ĐẠT

            Lúc Phật ở tịnh xá Trúc lâm, một hôm có một đệ tử tại gia là trưởng giả Thủ La (Cùda) thiết trai mời Phật và chúng Tăng thọ cúng tại nhà. Trước đó một hôm, có trưởng giả Tu Đạt (Sudatta) biệt hiệu là Cấp Cô Độc (người thành Xá Vệ, nước Kiều Tát La, ở phía Tây Bắc Ma Kiệt Đà) đến dạm hỏi con gái Thủ La cho người con thứ bảy của ông. Trong khi hai bên đàm đạo, Tu Đạt rất ngạc nhiên thấy trong nhà rộn rịp treo đèn giăng hoa cực kỳ linh đình rực rỡ, kẻ đi người lại trang trọng tấp nập. Hỏi thì được biết toàn gia đang chuẩn bị cuộc tiếp rước Phật và chúng Tăng vào hôm sau. Thủ La còn cho Tu Đạt biết rất tận tường về tư

cách, phong độ và trí tuệ siêu đẳng của Phật.

            Ngay đêm hôm đó, Tu Đạt tìm đến gặp Phật tại Trúc lâm. Cuộc gặp gỡ tay đôi xảy ra dưới vầng trăng thanh, trong bầu không khí tịch mịch tuyệt đối yên lặng.

            Phật giảng cho Tu Đạt nghe về pháp bố thí (chí tâm thí, tinh tấn thí, thời thí, tịch mịch thí, vô úy thí v.v...), về quan hệ nhân duyên, về sức chiêu cảm quả báo của nghiệp nhân.

            Nghe xong,Tu Đạt đại hoan hỷ, đảnh lễ xin quy y làm đệ tử tại gia và thỉnh cầu Phật cùng chúng Tăng đến Xá Vệ (Sràvasti) hoằng truyền chánh pháp. Tu Đạt cũng phát nguyện xin vì Phật và chúng Tăng, kiến lập tại đấy một tịnh xá như Trúc lâm, để làm cơ sở hoằng hoá Phật giáo tại Kiều tát La.

            Hôm sau, Tu Đạt vội vàng trở về Xá Vệ.

            Bấy giờ, vua nước Kiều Tát La là Ba Tư Nặc (Prasenajit) có người con trưởng là thái tử Kỳ Đà (Jeta), có một khu vườn rất rộng ở sát ngay thủ đô Xá Vệ, phong cảnh kỳ tú an nhàn, trồng đầy kỳ hoa dị thảo, bốn mùa chim hót hoa cười. Tu Đạt đến thương lượng xin mua, Thái tử trong lòng không muốn bán, nhưng vì nể tình trưởng giả là người có địa vị, có danh phận trong nước, nên nói đùa rằng, ai muốn mua thì đem vàng đến lót khắp rừng. Nói đùa như thế, khôngngờ hôm sau Tu Đạt cho người chở vàng đến thật, Kỳ Đà rất đổi ngạc nhiên, không hiểu Phật là người thế nào mà khiến Tu Đạt hoang phí cả gia tài của ông như thế. Sau khi nghe Tu Đạt tỏ rõ hết nguồn cơn, Kỳ Đà bèn giao ước lại, là chỉ bán đất mà không bán cây. Số cây trong rừng, Kỳ Đà xin lưu lại để tự mình cúng riêng Phật.

            Mua xong khu rừng, Tu Đạt lại trở qua Vương Xá báo cáo tự sự với Phật và thỉnh thị ý kiến Phật về kiểu mẫu tịnh xá mới. Phật dạy từ nay đổi tên khu rừng ấy là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên (vườn của Cấp Cô Độc, cây của Kỳ Đà) và phái trưởng lão Xá Lợi Phất cùng đi theo Tu Đạt qua Xá Vệ trong nom việc xây cất.

            Tịnh xá Kỳ Viên này, sau khi hoàn thành, so với tịnh xá Trúc lâm, còn huy hoàng và trang nghiêm hơn bội phần. Phòng ở, phòng ngủ kể đến mấy trăm; ngoài ra lại còn có lễ đường, giảng đường, tụ hội đường, nhà dưỡng bệnh, nhà tắm, nhà đọc sách .v... Nhà cao sân rộng không thua gì trong vương cung của vua Ba Tư Nặc.

            Trong thời gian đang xây cất, có ngoại đạo thấy thế ganh ghét, tìm đến gặp Xá Lợi Phất, nói giọng trịch thượng và đòi tranh biện. Trí tuệ và tài hùng biện của Xá Lợi Phất đã khiến cả trăm luận sư ngoại đạo chịu thua. Chính ngài Xá Lợi Phất đã đưa số ngoại đạo ấy về với Phật, trước khi Phật chưa đích thân đến giáo hóa. Vì vậy, khi kiến thiết xong tịnh xá này, ngày Phật và chúng Tăng tiến vào Xá Vệ, nhân dân trong thành tấp nập đón rước linh đình.

            Từ đấy, Phật giáo bành trướng ở trung tâm văn hóa thứ hai của Ấn Độ: Kiều Tát La.

4.-VUA BA TƯ NẶC QUY Y

            Việc làm kỳ đặc của Tu Đạt và sự hưởng ứng nồng nhiệt của nhân dân Xá Vệ đồn đến tai vua Ba Tư Nặc (Prasenajit). Một hôm, vua dẫn bá quan đến yết kiến Phật tại Kỳ Viên.

            Vua hỏi: "Tôi được nghe nhiều kẻ tu hành xưa nay, thường phải trải qua nhiều năm khổ hạnh trong rừng núi thâm u, mãi cho đến khi tóc bạc răng rụng mà có rất nhiều người vẫn chưa chứng đạo quả. Ông nay tuổi mới trên dưới bốn mươi mà đã chứng quả rồi sao?".

            Đáp: "Tâu Đại vương! rất nhiều người xua nay có thói quen miệt thị tuổi trẻ. Đại vương nên biết rằng trên thế gian này có bốn điều không thể khinh thị được. Một là vương tử hài nhi; hai là rồng con mới đẻ; ba là tàn lửa cỏn con (tinh linh chi hỏa); bốn là tu sĩ thiếu niên. Vì sao vậy? Vương tử tuy nay là hài nhi, nhưng mai sau khôn lớn sẽ là đại vương thống trị cả một quốc gia. Rồng con mới đẻ tuy nay không ra gì, nhưng về sau quyết sẽ thành rồng lớn. Tàn lửa cỏn con tuy nhỏ, nhưng gặp gió có thể thiêu rụi cả lâu đài thành quách và rừng lớn cây cao. Tu sĩ mới xuất gia nay tuy còn non dại, nếu tinh tấn tu hành, mai sau chắc chắn sẽ đạt đến quả vị vô thượng chánh giác. Đại vương tàng ẩn trong vương tử hài nhi. Rồng lớn tàng ẩn trong rồng con mới đẻ. Lửa lớn tàng ẩn trong tàn lửa cỏn con. Chánh giác tàng ẩn trong chú tiểu non dại.

            Vua Ba Tư Nặc vốn là người cống cao ngã mạn, nhưng sau khi nghe xong, tâm thần liền rúng động. Nhân đó Phật giảng đạo lý giải thoát cho nghe, vua bèn phát tâm quy y và trở thành một trong những đệ tử hộ pháp đắc lực và trung thành của Phật.

 

PHẬT TRỞ VỀ CA TỲ LA

            Thành Xá Vệ không cách thành Ca Tỳ La bao xa. Nhìn trên bản đồ thì Ca Tỳ La ở về đông bắc Xá Vệ, cách Xá Vệ khoảng hơn một kinh tuyến, nghĩa là phỏng chừng trăm cây số. Vì hai thành gần nhau nên tin tức qua lại không khó lắm.

            Một hôm, vua Ba Tư Nặc cho sứ giả đến yết kiến Tịnh Phạn Vương, hết lòng ca ngợi công đức của Phật. Sau ngót mười mấy năm xa cách, Tịnh Phạn Vương cũng đang nóng lòng muốn gặp lại con, bèn sai đại thần là Ưu Đà Di sang Xá Vệ đáp lễ vua Ba Tư Nặc, và nhân tiện dò thăm ý kiến Phật có muốn trở về thăm quê không. Phật cho biết sẽ về một ngày nào đó xét ra thuận tiện. Tịnh Phạn Vương chuẩn bị đón tiếp. Nhưng không ngờ khi Phật về, Phật chẳng chịu báo tin trước. Thình lình một buổi sáng nọ, khắp thành Ca Tỳ La xuất hiện vô số cà sa vàng rực, bước từng bước chậm rãi, chia thành từng đoàn vào khất thực từng nhà bất kể quý tiện.

            Tịnh Phạn Vương nghe tin, lấy làm kinh hoàng. Điều mà lâu nay ông chờ đợi là được thấy con vinh quy võng trước lọng sau, dè đâu lại đi mang bình bát xin ăn khắp xóm, ngay cả ở những nhà ty tiện Thủ đà la.

            Nhà vua cấp tốc xa giá đến yêu cầu Phật mau mau lên xe nhập cung, Phật từ chối:

            - Tâu Phụ vương, bần đạo nay không còn là thái tử Tất Đạt Đa nữa. Xin phụ vương chiếu theo nề nếp tổ truyền của bần đạo mà xưng hô cho phải lẽ.

            - Tổ tiên nhà ngươi à! Tổ tiên nhà ngươi làm vua ở trong cung cấm. Tổ tiên nhà ngươi đâu có đi lang thang khất thực ở đầu đường cuối ngõ như vậy.

            - Tâu Phụ vương, khi nói đến tổ tiên là bần đạo muốn nói đến chư Phật, tổ tiên của người xuất gia; nay vì bần đạo đã chứng Phật quả và đang thừa kế pháp thống chư Phật.

            Tịnh Phạn Vương ngao ngán, không hiểu sau mười lăm năm xa cách, giờ đây con mình đang nghĩ gì.

            Phật tiếp: "Phụ vương đã cho bần đạo một cái thể xác. Điều đó bần đạo không chối cải. Bần đạo cũng không chối cải rằng buổi thơ ấu và ngay cả đến ngày nay, bần đạo được phụ vương thương yêu tột mức. Ân đức cao dày ấy, bần đạo những mong có ngày đền đáp xứng đáng. Theo bần đạo nghĩ, đền đáp như thường tình thế gian dù trọng hậu đến đâu, cũng chỉ là lấy vô thường nọ đáp ứng vô thường kia. Vàng bạc châu báu có tụ thì có tán. Quyền cao chức trọng một ngày nào đó rồi cũng tiêu ma. Bần đạo chỉ muốn dùng của báu cam lồ thù thắng hy hữu để báo đáp công ơn sanh thành dưỡng dục của phụ vương, khiến phụ vương trở thành bất tử.

            Tâu phụ vương! trên thế gian này, mọi người đều vì tranh sống mà tự giết mình. Họ tự giết bằng cách gây nên nguyên nhân luân hồi trong ba cõi sáu đường, với kết quả tất nhiên là phải đem đến những khổ đau. Gốc khổ đau bắt rễ từ Ái và Dục. Trừ khử gốc Ái dục vị kỷ đó đi, thì thanh tịnh hóa được ba nghiệp thân, khẩu, ý, tích tụ được mười nghiệp lành, khiến niệm niệm thuần thiện tiếp nối nhau ngày đêm không xen hở. Nhờ đó, lục trần mới không nhiểu động tâm tư, vô minh mới không mê hoặc lý trí, và tự do giải thoát thật sự mới thực hiện được. Đó là lợi ích lớn lao nhất.

            Tâu phụ vương! cảnh giới tự do giải thoát là cảnh giới vô ngã. Cảnh giới vô ngã ấy chắc chắn không còn niệm ái dục của ba cõi. Ba cõi giống như nhà lửa. Lại cũng giống như biển sâu không đáy. Đâu có gì là vui sướng? Ra khỏi ba cỏi, một cảnh giới khác hiện ra, bấy giờ tâm chúng sanh quang minh chiếu diệu như ánh sáng mặt trời mặt trăng soi khắp vũ trụ không giây phút nào ngừng nghĩ. Đó là niềm hoan lạc chân chánh và thường tại. Đó là Niết bàn vĩnh cửu mà người con hiếu này muốn đền đáp công ơn phụ vương".

            Nghe Phật nói và nhất là nhìn gương mặt vừa điềm đạm từ hòa vừa lộng lẫy sáng ngời của Phật, Tịnh Phạn Vương cảm thấy con mình hẳn đã thật sự chứng một cái gì đó cao siêu xa vời lắm, khác với Tất Đạt Đa xưa kia, nên tự nhiên lửa lòng cũng dìu dịu lắng xuống mà trở nên thoải mái nhẹ nhàng, mặc dù lòng chưa hẳn tin.

            Sau cuộc gặp gỡ kỳ đặc này, Phật cùng Tịnh Phạn Vương dắt tay nhau tiến về vương cung. Theo sau là chúng tăng đội ngũ chỉnh tề, tiếp theo nữa là bá quan văn võ.

            Tại vương cung, sau phút tái ngộ mừng mừng tủi tủi giữa cha con, chồng vợ, anh em, quyến thuộc, Phật tiến lên pháp tòa nói cho cả nhà biết lý do ngài xuất gia và đem giáo pháp truyền giảng cho cả vương tộc và bá quan cùng nghe.

            Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Da Du Đà La, La Hầu La và ngay cả Tịnh Phạn Vương, sau khi lãnh hội đều hoan hỷ tán thán. Trong lúc cả gia đình đang hoan lạc đến tột bực đó, Tịnh Phạn Vương đứng dậy bạch Phật: "Nay phụ vương đã rõ mục đích của Phật. Mục đích ấy là cứu khổ ban vui. Vậy vì mục đích cao cả ấy và nhớ lại nỗi đau khổ của chính bản thân suốt mười lăm năm qua, thỉnh cầu Phật từ rày về sau đừng chấp thuận cho bất cứ một ai xin xuất gia mà không được cha me cho phép trước".

            Phật cười và chấp nhận lời thỉnh cầu ấy.

            1.- CÁC VƯƠNG TỬ VÀ ƯU BÀ LY XUẤT GIA

            Sau khi được Phật giáo hóa, các vương đệ, con của Bạch Phạn Vương là Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) và An Nan (Annanda); con của Cam Lộ Vương Phi là A Na Luật (Anirudha); con của Học Phạn Vương là Bà Sa (?) đều xin xuất gia. (Chú ý: Mahà NàMa tức Ma ha Nam, anh của A Na Luật, và Mahà Bhadrika tức Ma Ha Bạt Đề anh của Bà Sa đều đã xuất gia từ trước, trong nhóm Kiều trần Như). Hăng hái nhất trong số vương đệ là A Na Luật. A Na Luật cho gọi ngay người thợ cạo tên là Ưu Ba Ly (Upàli) vốn là nô lệ hầu hà Bạt Đề ngày trước, đến cạo đầu cho mình. Ưu Ba Ly thấy cảnh xuất gia vui vẽ của các vương tử thì khóc nức nở, tủi hổ cho thân phận mình, vì giai cấp mà ngay cả việc muốn thoát tục xuất gia cũng không được phép.

            Nhân gặp Xá Lợi Phất, Ưu Ba Ly đem tâm sự trình bày, được Xá Lợi Phất chuyển trình lên Phật và Phật chấp thuận ngay. Đây là người nô lệ Thủ Đà La đầu tiên xuất gia. Vì Ưu Ba Ly lớn tuổi hơn Bạt Đề, và để thể hiện giáo pháp bình đẳng của mình. Phật muốn Bạt Đề phải đảnh lễ Ưu Ba Ly. Cách đối xử này khiến Ưu Ba Ly vô cùng xúc động và dõng mãnh tinh tấn tu hành, về sau được dự vào hàng Thập Thánh chúng, Trì giới đệ nhất. Trong đại hội kiết tập lần đầu dưới quyền chủ tọa của Ma Ha Ca Diếp, chính Ưu Ba Ly là vị chủ trì kiếp tập Luật tạng từ đó mà có bộ Bát Thập Tụng Luật căn bản đầu tiên.

            Trong số các vương tử cùng xuất gia một lần với Ưu Ba Ly, về sau có hai người cũng được dự vào hàng Thập Thánh chúng là A Na Luật, Thiên nhãn đệ nhất và A Nan, Đa văn đệ nhất.

            Ở trong vương cung chỉ mấy hôm, sau đó Phật dẫn đệ tử ra ngoài thành, trú đóng tại rừng Ni Câu Đà (Niagirdha), Phật thấy Tịnh Phạn Vương càng ngày càng già yếu mà các lân quốc bốn phía đều là những nước lớn có ý dòm ngó Ca Tỳ La, trong khi ấy La Hầu La (Rahula) còn non dại, và vương đệ Nan Đà (Nanda) lại chỉ say mê tửu sắc, suốt ngày mãi mê quấn quýt bên cô vợ đa tình là Tôn Đà Lỵ (Sundari). Bất nhất nếu phụ vương trăm tuổi, vận mệnh dân chúng Ca Tỳ La thật như trứng để đầu đẳng. Nghĩ đến tương lai đen tối ấy, Phật bèn phương tiện bày kế dỗ La Hầu La và Nan Đà tạm thời xuất gia ít lâu để rèn luyện đức tánh trước khi kế vị cha ông.

            Trước tiên, Phật cho gọi La Hầu La đến rừng Ni Câu Đà, bảo Xá Lợi Phất làm lễ thế phát cho La Hầu La thọ giới sa di. Đây là vị sa di đầu tiên, vì hoàn cảnh nên Phật phương tiện chế ra giới pháp cho nhập chúng. Nhưng nhờ túc duyên, về sau La Hầu La quyết chí tu hành và được dự vào hàng Thập Thánh chúng, Mật hạnh đệ nhất.

            Sau khi La Hầu La xuất gia, một hôm Phật mang bình bát đến khất thực trước cổng nhà của Nan Đà, dụ Nan Đà vào rừng Ni Câu La, đem những lạc thú cỏi trời nói cho Nan Đà nghe, khiến Nan Đà say mê, đành hy sinh người đẹp trần gian là Tôn Đà Lỵ để mong về sau được hưởng lạc thú thiên giới với vô số tiên nữ đẹp hơn ở cõi trời. Sơ phát tâm của Nan Đà vốn chỉ nhằm mỗi mục đích ấy. Nhưng nhờ Phật khéo giáo hóa, về sau Nan Đà nhất quyết tu luôn và cũng chứng quả A la hán. Vì vậy mà vương vị Ca Tỳ La kế tiếp Tịnh Phạn Vương đáng lý phải về tay, hoăïc của Nan Đà hoặc của La Hầu La, thì về sau thuộc về Ma Ha Nam tức là Ma Nam Câu Ly, một trong năm đệ tử đầu tiên của Phật và đồng thời cũng là con trưởng của Cam Lộ Phạn vương.

            2.- TỲ KHEO NI ĐẦU TIÊN

            Tịnh Phạn Vương thọ 93 tuổi thì băng hà. Nhận thấy Nan Đà không đủ sức kế vị mà La Hầu La thì còn nhỏ tuổi, nên sau khi tang ma xong, Phật đề nghị với hội đồng vương tộc đưa Ma Ha Na Ma tức Ma Ha Nam, con trưởng của Cam Lộ Phạn Vương, anh ruột của A Na Luật lên nhiếp chánh. Sắp đăït xong đâu vào đấy, Phật và chúng đệ tử rút ra ngoài thành Ca Tỳ La, trú đóng tại rừng Ni Câu Đà.

            Một hôm Ma Ha Ba Xà Ba Đề dẫn 500 phụ nữ trong dòng Thích Ca đến rừng bái yết Phật và dâng cúng Phật hai tấm y mới do chính tay bà dệt. Phật tán thán công đức bố thí của bà và bảo bà nên đem dâng cúng chư Tăng thì công đức ấy sẽ lớn lao hơn. Bà tỏ ý không hài lòng. Để làm vui lòng Bà, Phật nhận lấy một tấm nhưng với tư cách là một thành phần của tăng chúng mà thọ cúng. Tấm còn lại Phật bảo bà cúng đường một vị tăng khác.

            Nhân việc dâng y này, Ma Ha Ba Xà Ba Đề thỉnh cầu Phật cho phép bà và 500 phụ nữ được xuất gia và thọ cụ túc giới như phái nam. Ba lần thỉnh cầu, ba lần bị cự tuyệt.

            Sau đó, Phật và chúng đệ tử rời Ni Câu Đà đi du hóa khắp vùng lưu vực sông Hằng, khi thì ở giảng đường Lộc Mẫu, khi thì ở giảng đường Trùng Các, khi thì ở giảng đường Cù Sư v.v... nhưng trung tâm hoạt động chính vẫn luôn luôn là tịnh xá Kỳ Viên nước Ma Kiệt Đà (Kosala) hoặc tịnh xá Trúc Lâm và tịnh xá Linh Thứu nước Ma Kiệt Đà (Magadha).

            Tương truyền rằng Ma Ha Ba Xà Ba Đề và 500 phụ nữ nói trên, sau ba lần bị cự tuyệt, một hôm nảy ra sáng kiến ngộ nghỉnh là tạo việc đã rồi để tỏ thiện chí và quyết tâm sắt đá của mình: tự xuống tóc, khoác cà sa, bà và 500 phụ nữ ấy kéo nhau đến tịnh xá Na Ma Đề Kiện Ni là chỗ bấy giờ Phật đương giáo hóa. Đến trước cổng tịnh xá, cả đoàn mệt lã người, nhất quyết ngồi lỳ tại đấy. Tình cờ gặp ông A Nan đi ra, Ma Ha Ba Xà Ba Đề năn nỉ với A Nan xin trình lại sự tình cho Phật biết.

            Trước nhiệt tâm hăng hái và ý chí tự nguyện cao độ ấy, Phật mới chịu đáp ứng cho họ xuất gia. Phật còn buộc họ phải chấp nhận một số điều kiện tiên quyết, căn cứ theo đó, Phật phương tiện chế thêm một số giới luật riêng. Trong số các giới này, đứng đầu là Bát kỉnh pháp:

                a.- Tỳ kheo ni phải y chỉ chúng Tỳ kheo mà cầu thọ giới cụ túc.

                b.- Tỳ kheo ni cứ mỗi nữa tháng phải đến trú sở của chúng Tỳ kheo mà làm lễ. Thỉnh thầy giáo thọ.

                c.- Tỳ kheo ni mỗi năm một lần kiết hạ an cư. Nếu trong vùng không có chúng Tỳ kheo nào thì tuyệt đối không được phép tự lập kiết hạ riêng.

                d.- Tỳ kheo ni không được cử tội hay nói lỗi lầm của Tỳ kheo. Ngược lại, Tỳ kheo có quyền nói lỗi lầm của Tỳ kheo ni.

                e.- Tỳ kheo ni nếu lỡ phạm tội tăng tàng, phải tự mình xin sám hối trước hai bộ chúng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni trong kỳ bố tát hàng tháng gần nhất.

                f.- Tỳ kheo ni dù đã thọ giới cụ túc lâu 100 trăm năm, nhưng đối với một Tỳ kheo mới thọ giới vẫn phải cung kính đảnh lễ chắp tay vái chào.

                g.- Tỳ kheo ni sau mùa an cư phải đến trước Tỳ kheo xin chỉ những việc bất xứng ý của mình, bất luận việc ấy đã được hoặc mắt thấy tai nghe hay ngờ vực.

                h.- Tỳ kheo ni có điều gì cần hỏi Tỳ kheo mà nếu vì một cớ nào đó Tỳ kheo không đáp, không được hỏi gặn thêm (Luật Tứ phần: Ni không được phỉ báng Tăng).

            Tám kĩnh pháp trên đây được Phật phương tiện chế ra, vì ngài e ngại sự hiện diện của nữ giới trong giáo hội có thể làm cho chánh pháp biến thể hoặc điên đão.

            Ma Ha Ba Xà Ba Đề và 500 phụ nữ sau khi nghe Phật giao ước, thảy đều hoan hỷ chấp thuận. Đây là những Tỳ kheo ni đầu tiên của Phật, mà đứng đầu là Ma Ha Ba Xà Ba Đề. Một số trong nhóm này về sau cũng chứng quả rực rỡ không thua gì nam giới.

            Sau đó không bao lâu, Da du Đà La theo gương di mẫu cũng đi xuất gia và cũng được Phật chấp thuận.

            3.- NHÂN DUYÊN CHẾ GIỚI LUẬT

            Trong một thời gian nọ, Phật đến giáo hóa tại nước Tỳ Xá Ly (Vaisàli) trên sông Di Hầu (một chi nhánh sông Hằng), ở mạn bắc thị trấn Patna. Bấy giờ, đức Phật trú tại giảng đường Trùng Các. Một hôm có một thanh niên tên là Tu Đề Na, người thôn Ca Lan Đà, đã có vợ nhưng chưa có con, nhân đến nghe Phật thuyết pháp mấy lần tại Trùng Các, được Phật nhiếp hóa, liền xin theo Phật xuất gia. Phật đòi phải có sự ưng thuận của cha mẹ, nhưng cha mẹ Tu Đề Na không khứng chịu vì lẽ y là con một, nếu cho đi tu, sợ không có kẻ nối dõi tông đường. Tu Đề Na tuyệt thực sáu ngày liền. Cực chẳng đã, cha mẹ y phải chấp thuận.

            Sau khi Tu Đề Na xuất gia không lâu, toàn vùng Tỳ Xá Ly gặp năm mất mùa, nhân dân lâm vào tình trạng đói kém trầm trọng, Tu Đề Na đề nghị đưa một số Tỳ kheo về sinh hoạt tại thôn nhà, vì Ca Lan Đà là vùng trù phú. Nhân dịp này, Tu Đề Na gặp lại vợ cũ. Sau những ngày khắc khổ sống với chúng tăng, giờ đây trở về gian nhà xưa, niềm ân ái trước kia vốn chưa tắt hết lại được dịp sống dậy trong lòng. Trước lời cám dỗ đường mật đầy khêu gợi của vợ, Tu Đề Na giao động tâm thần, bèn bị sa ngã.

            Sự việc đã lỡ, có người đem tâu trình Phật biết. Nhân đó, Phật cho triệu tập tất cả chúng tăng và chế định giới luật, Ngài giảng cho chúng tăng nghe về ý nghĩa của giới luật và sự lợi ích của sự trì giới: Phàm xuất gia làm sa môn, không thể không giữ giới luật. Giữ giới có mười điều lợi ích như sau:

            1.- Được hòa hợp Tăng đoàn.

            2.-Chúng Tăng được hoan hỷ.

            3.- Điều phục được người ác.

            4.- Biết tàm quý và nhớ đó được an vui.

            5.- Không có điều phiền muộn trong đời hiện tại.

            6.- Không có điều phiền muộn trong đời vị lai.

            7.- Khiến kẻ vô đạo khởi được tín tâm.

            8.- Khiến kẻ đã có tín tâm được tăng tiến.

            9.- Khiến chánh pháp trụ thế lâu dài.

        10.- Khiến tâm trở nên thanh tịnh mà không thối thất.

            Năm giới căn bản do Phật chế định trong dịp này là: không giết hại sanh mạng (bất sát); không lấy của mà không có sự ưng thuận của người (bất dữ thử); không giao dâm (bất dâm); không nói dối (bất vọng ngữ); không uống rượu (bất ẩm tửu). Năm giới này cũng gọi là năm đại giới. Và đây là lần đầu tiên từ khi thành lập tăng đoàn, Phật chế định giới luật răn cấm đệ tử.

            Mặc dù đã có giới luật quy định, một số ít trong tăng chúng thỉnh thoảng vẫn vấp phải. Tùy theo tánh chất nặng nhẹ của từng tội, tùy trường hợp giảm khinh của từng hoàn cảnh, về sau Phật triển khai thành bốn giới Ba la di, mười ba giới tăng tàn, hai giới bất định, ba mươi giới Ni tát kỳ ba dật đề, chín mươi giới Ba dật đề, bốn giới Ba la di đề xá ni, bảy giới diệt tránh, một trăm giới chúng học, cộng thành hai trăm năm mươi giới của Tỳ kheo. Nếu là Tỳ kheo ni lại còn phải giữ thêm một trăm giới nữa, cộng thành ba trăm năm mươi giới của Tỳ kheo ni.

            Trong các giới trên, nhẹ nhất là một trăm chúng học. Đây chẳng qua là những giới quy định về các tế hạnh lặt vặt hàng ngày trong lúc đứng, đi, nằm, ngồi v.v... Nặng nhất duy chỉ có một tội Ba la di mà đứng đầu là tội gian dâm, thứ đến là tội trộm cắp, tiếp theo là tội giết người, cuối cùng là tội nói lời hư dối. Phạm phải một trong bốn tội này thì không có trường hợp giảm khinh, nhất thiết phải bị tẩn xuất khỏi đoàn thể tăng chúng, nên gọi là Ba la di. Ba la di, Tàu dịch là Khí nghĩa là vứt bỏ.

            Giới là chế tài sanh hoạt của tăng đoàn, là mạng sống của Phật giáo, nhờ đó mà giáo hội được thanh tịnh và thiện tâm của chư tăng mỗi ngày một trưởng dưỡng. Vì vậy Phật dạy hễ giới còn là Phật còn, và tăng chúng phải lấy giới làm thầy chỉ đạo, lấy giới làm đuốc soi đường. Lại cũng vì vậy mà Phật còn quy định cho tăng chúng cứ mỗi tháng một lần, phải tập hợp để thuyết giới và tụng giới, gọi là lễ bố tát.

            Trên đường tu hành, Phật triệt để khuyên răn đệ tử không nên tranh biện nhằm mục đích thủ thắng. Vì tranh biện chỉ là một hình thức lý luận và càng lý luận thì lại càng xa rời thực chất hồn nhiên. Chỉ có nhẫn nhục mới là biện pháp thủ thắng chân chánh.

            Giá trị siêu việt sống động của biện pháp thủ thắng độc nhất vô nhị này được Phật gói ghém trong lời di chúc của Trường Thọ Vương dặn con là Trường Sinh đồng tử, trước khi bị Phạn Dự Vương hành hình:

            "Nhẫn! Nhẫn! Đó mới là đạo hiếu chân chánh mà người con hiếu phải theo. Không nên kết oán, khiến nhân chuyền quả nối không bao giờ dứt. Điều tối khẩn mà con phải ghi lòng tạc dạ là thực hành đại nguyện từ bi. Ngậm chứa hung ác (Hàm hung), cưu mang nọc độc (Hoài độc), kết buộc hận thù (Kết hận), mua chuốc oán cừu (Nhạ oán) là vun trồng họa hoạn thêm bền chặt gốc rễ, muôn đời không nhổ lên được. Kẻ làm việc ấy không phải là người con hiếu của cha. Con nên phải biết rằng từ bi của chư Phật bao hàm cả trời đất, trong đó oán và thân đều bình đẳng. Trên hành trình tầm đạo dấn thân và xả thân cứu chúng, cha còn áy náy lo sợ không đạt được đạo hiếu. Nay giả sử con vì cha mà báo thù kết oán, việc làm của con rõ ràng trái nghịch với hạnh nguyện của cha. Bất luận bằng hình thức nào, cha cũng không thể chấp nhận cho con được lưu tồn ý nghĩ cừu oán trong lòng. Con hãy ghi nhớ lời di ngôn này. Được như thế, con mới xứng đáng là người con hiếu của cha".

            Sở dĩ Nhẫn được Phật không tiếc lời cổ xúy là vì chỉ có nhẫn mới dập tắt được phiền não tranh chấp. Chỉ có nhẫn mới tạo được nếp sống an tịnh hòa vui, khiến chúng sanh siêu phàm nhập thánh mà hòa đồng với bản thể chân thật của vũ trụ.

            4.- TỲ XÁ KHƯ PHÁT ĐẠI TÂM BỐ THÍ

            Trưởng giả Tu Đạt (Sudatta, cg. Anàthapindika) biệt hiệu là Cấp Cô Độc, vốn là một hộ pháp vô cùng đắc lực của Phật như đã nói trong một đoạn trên, thế mà ông lại có bà vợ vô cùng keo kiết tên là Tỳ Xá Khư (Visàkhà), thường gọi là Lộc Mẫu. Hàng ngày thấy chồng lo cung phụng Phật và chúng đệ tử, bà cho rằng Phật mê hoặc chồng bà để bòn rút của cải, bèn lập tâm cương quyết không nhìn mặt Phật và chúng tăng. Mạt Lợi phu nhân (vợ vua Ba Tư Nặc) biết được việc này, cho mời Tu Đạt vào cung bàn mưu tính kế hóa giải. Tương truyền rằng việc hóa giải này được giao phó cho La Hầu La, vì giữa Phật và Tỳ Xá Khư vốn không có thiện duyên từ các kiếp trước.

            Sau khi hoá giải xong, Phật muốn thử lòng, một hôm mang bình bát đến khất thực trước cổng nhà Tỳ Xá Khư. Tỳ Xá Khu đem cơm ra đơm đầy bình bát cho Phật. Phật nói:

            - Gieo một gặt mười, gieo mười gặt trăm, gieo trăm gặt ngàn. Nhờ công đức bố thí bát cơm này, nhà ngươi sẽ gặp được vô lượng phước báo.

            Tỳ Xá Khư hỏi: Kẻ ngu phụ này không hiểu vì sao chỉ bố thí một bát cơm mà lại được phước báo nhiều như thế?

            - Nhà ngươi có thấy cây đại thọ Ni câu đà kia không? Thân cao ngất nghễu, cành lá xum xuê, che phủ cả bốn năm dặm đường, mỗi năm hạt nó rụng xuống đất, lấy hộc mà đong hàng vạn lần vẫn không hết, thế mà ban sơ chỉ do một hạt nẩy mầm ra mà thôi!

            Ví dụ đơn giản này đã khiến được Tỳ Xà Khư lãnh hội trọn vẹn công đức bố thí. Từ đó Tỳ Xá Khư và tất cả nhân dân trong thành Xá Vệ nô nức đua nhau phát tâm hoan hỷ bố thí cúng dường Phật và chư tăng.

            Từ bản chất vô cùng keo lẫn, Tỳ Xá Khư trở thành vô cùng hào phóng, tìm đến Kỳ Viên năn nỉ Phật xin được làm tám việc bố thí. Để kiểm chứng lại thành tâm của bà, ban đầu Phật từ chối. Qua mấy hôm sau, Phật vặn hỏi lý do của mỗi sự việc bố thí do bà yêu cầu và xét thấy quả thật bà đã giác ngộ, Phật mới chuẩn nhận.

            Tám việc bà yêu cầu được làm là:

                a.- Được bố thí tơi đi mưa cho tăng chúng, vì mỗi khi đi khất thực lỡ gặp phải trời mưa, về đến tịnh xá nếu không có y khô thay liền, đành phải thoát y để hong, thân mình trần truồng khó coi.

                b.- Được bố thí các Tỳ kheo mới gia nhập tăng đoàn, vì thí chủ chưa quen mặt các vị này nên việc khất thực rất gian khổ.

                c.- Được bố thí vật thực và tiền bạc cho các Tỳ kheo đi du hóa phương xa, phòng lỡ độ đường không có gì chi dụng.

                d.- Được bố thí thuốc men cho Tỳ kheo lâm bệnh, vì lâm bệnh mà không chạy chữa kịp thời, dễ biến thành nguy kịch.

                e.- Được bố thí vật thực thích đáng cho Tỳ kheo lâm bệnh, vì nhờ đó mà bệnh có thể mau thuyên giảm.

                 f.- Được bố thí vật thực cho Tỳ kheo săn sóc bệnh nhân, vì săn sóc bệnh nhân thì không có thì giờ để đi khất thực.

                 g.- Được dâng lúa mạch cho Tỳ kheo.

                 h.- Được bố thí áo tắm cho Tỳ kheo ni, để khi ra sông tắm, thân thể khỏi trần truồng, khác biệt với các hạng dâm nữ thường thấy tắm ở sông Hằng.

            Mỗi việc bố thí nêu ra đều có viện dẫn lý do xác đáng, Phật biết rằng Tỳ Xá Khư quả thật đã phát tâm một cách chơn thành, bèn hoan hỷ chấp thuận:

            "Nầy Tỳ Xá Khư! Đến nay thì ngươi đã hiểu rõ công đức bố thí rồi đấy. Ngươi không xả ly của cải thì khi chết, của cải cũng xả ly ngươi. Sao bằng xả ly của cải để làm công đức, khiến cho của cải lại càng dồi dào bền chắc hơn!"

            Nhờ công đức bố thí, về sau cả hai vợ chồng Tu Đạt đều nổi tiếng là Bố thí đệ nhất, chồng đứng đầu trong hàng Ưu bà tắc, vợ đứng đầu trong hàng Ưu bà di, và cặp vợ chồng này vẫn an hưởng phú quý trọn đời.

 

GIÁO PHÁP PHẬT TRONG SỨ MẠNG

KHẢI MINH SỰ SỐNG NHƯ THẬT

            Suốt đời Phật từ sau khi thành đạo, trọng tâm giáo hóa của Ngài luôn luôn đặt ở một điểm xuất phát duy nhất: SỰ SỐNG. Có thể nói rằng cái thường được mệnh danh là thành đạo, trong bản chất chính là sự sống hiện thực, hồn nhiên và tròn đầy. Từ sự sống ấy tỏa chiếu dàn trải ra, đúc thành cả một kho giáo lý sống động hàm súc và phong phú, trong đó không một lời nói nào mà không phải là một lời nói như thật. Sự sống như thật có khải minh được, thì mới đặt được con người nói riêng, chúng sanh nói chung trở về trong quỷ đạo đích thực của nó, không để cho bất cứ một thành kiến nào - dù là thành kiến được ngụy trang dưới danh xưng chân lý - làm bế tắc mạch nguồn, mà khai thông cho dòng sống tràn tuôn triền miên bất tận. Sư sống như thật ấy, Phật đã khải thị và minh xác trong nhiều trường hợp khác nhau:

            1.- TRƯỜNG HỢP MANG ĐỒNG TỬ

            Mang Đồng Tử (Malunkyaputra) đệ tử Phật, một hôm đang tĩnh tọa tư duy dưới gốc cây trong vườn Cấp Cô Độc thì bổng vụt nảy ra ý nghĩ: "Có một vấn đề tối quan trọng mà lâu nay Phật không hề đề cập đến và chính ta cũng quên không gạn hỏi. Đó là vấn đề thế giới này là thường hay vô thường, là hữu biên hay vô biên. Lại nữa, trong thế giới ấy, đức Như Lai sau khi diệt độ, là còn có hay không còn có, hoặc là cũng có cũng không? Thế nào ta cũng phải gạn hỏi xem Ngài có biết không? Có giải quyết được thắc mắc này, ta mới có thể yên tâm theo Ngài tu học. Bằng không, ta sẽ cổi áo hoàn tục không tu làm gì nhọc công vô ích!" Suy nghĩ như thế rồi tự cho là đắc sách, Mang Đồng Tử liền đến xin Phật khai thị.

            Phật nghiêm sắc mặt, vặn hỏi lại Mang Đồng Tử:

            - Trước khi theo ta tu học, có bao giờ ông đặt những điều đó làm điều kiện tiên quyết buộc ta có giải quyết được thì ông mới tu không? Và có bao giờ ta hứa với ông rằng ta sẽ dạy các ông những điều ấy không?

            Sau khi quở trách Mang Đồng Tử, Phật cho gọi đại chúng lại, dạy rằng:

            - Này chư Tỳ kheo! Giả sử có kẻ ngu si nghĩ rằng nếu Phật không nói rõ cho biết thế giới này là thường hay vô thường, là hữu biên hay vô biên v.v... thì kẻ ấy không chịu gia công tu hành cho là vô ích; quan niệm như thế, các ông nghĩ sao? Phải chăng là kẻ ngu ấy đã chết trước khi chưa kịp biết gì hết không? Cuộc giải thoát của mỗi con người ra khỏi kiếp đọa đày này, liên quan gì đến thế giới hữu biên hay vô biên hoặc Như lai còn hay không còn sau khi báo thân Như lai diệt độ. Điều kiện kẻ ngu si ấy đặt ra giống hệt như điều kiện của một kẻ ngu khác đương bị trúng tên độc mà nhất quyết đòi phải tìm cho ra ai là người bắn tên độc ấy, tung tích lý lịch ra sao, bắn tứ phương hướng nào lại v.v... chứ chưa chịu để cho thầy thuốc rút ngay mũi tên ra và cấp tốc băng bó điều trị vết thương cho kịp thời.

            Này chư Tỳ kheo! Dù thế giới này là hữu biên hay vô biên, là thường hay vô thường v.v... thì chúng sanh cũng không vì thế khỏi bị ràng buộc bởi muôn ngàn ưu bi của kiếp sống đọa đày trong sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ. Nhằm mục đích tối thượng giải cứu kiếp sống đày ải ấy, ta mới nói rõ bốn sự thật căn bản là Khổ đế, Tập đế, Diêït đế, Đạo đế. Bốn sự thật căn bản ấy là đầu mối của phạm hạnh, cảnh tĩnh chúng sanh và mở cho chúng sanh lối thoát đưa đến trí tuệ chân thật, giác ngộ chân thật, giải thoát chân thật, mà khơi nguồn cho mạch sống lành mạnh tràn tuôn.

            2.- TRƯỜNG HỢP LY XA BỘ TỘC

            Bộ tộc Ly Xa (Licchavi) là một bộ tộc thuộc dòng Sát đế Lỵ, lãnh chúa vùng đất phì nhiêu Tỳ Xá Ly (Valsali) ở phiá bắc thành Ba Liên Phất (Pataliputra) bên kia tả ngạn sông Hằng.