Trang tiếng Anh

Đạo Phật Ngày Nay 

Trang tiếng Việt   

   

...... ... ..  . ..  .  .
PHẬT HỌC NHẬP MÔN
Giác Hạnh Tâm dịch

 tiếp theo
 

MỤC LỤC

 23.  Giải thích giản lược về tứ thánh đế

24.  Biểu đổ giản luợc ba mươi bảy phẩm đạo

25.  Tứ niệm xứ giải thích sơ lược

26.  Bát chánh đạo thực tiễn

27.  Nói thiển thuyết

28.  Duyên giác thừa và mười hai nhân duyên

29.  Bồ Tát thừa và lục độ

30.  Tứ vô lượng tâm

31.  Tứ nhiếp pháp và tứ hoằng thệ nguyện

32.  Giáo lý phật giáo cơ bản

33.  Bốn lần kiết tập kinh Phật

34.  Ba thời kỳ của phật pháp Ấn Độ

35.  Phật pháp truyền vào Trung Quốc

36.  Lý do phân tông của Phật môn

37.  Loại hình của Phật giáo đồ

38.  Quy tắc sinh hoạt của giáo đoàn

39.  Nhân sinh quan phục vụ Phật giáo

40.  Nhiệm vụ và mục đích của việc học Phật

41.  Phật giáo là sự giáo dục chí thiện và viên mãn của Phật Đà

42.  Danh từ Pháp tướng và Phật giáo thường thức

 

         Sau khi Phật Đà thành đạo, ban đầu Ngài chuyển pháp luân ở vườn Lộc Uyển ( Sarnath), nước Ba La Nại, Ấn Độ xưa, thuyết pháp môn Tứ Thánh đế cho năm người A Nhã, Kiều Trần Như v.v…. Chữ  “Thánh” của Tứ Thánh đế, ý nghĩa được giải thích là “Chánh”. Đế là chân lý, tức là bày tỏ rõ ràng pháp Tứ đế của khổ, tập, diệt, đạo, là chân lý chính xác của bốn loại cho nhân sinh  mà chỉ có Thánh trí mới đích thân tự chứng nghiệm được:

1.      Khổ đế _  nói rõ chân lý mà nhân sanh phần nhiều khổ. Đời người có sanh, lão, bệnh, tử, là cái đau khổ mà ai ai cũng tránh không khỏi. Còn có ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ, đều là quả báo của khổ.

2.      Tập đế _ là nói rõ cái “ Nhân” do thói quen của đời người mà khởi lên nhiều phiền não như tham, sân, si… để tạo nghiệp bất thiện chồng chất, rồi mới biết là phải nhận lấy quả khổ chồng chất. Cho nên Khổ” là vì “Tập” thành nhân duyên.

3.      Diệt đế _ Là chỉ cho Thánh quả do tu đạo mà chứng. Tức là phiền não được diệt trừ, hoạch được chân lý vô sanh (giải thoát sanh tử).

4.      Đạo đế _ đạo chính là chánh đạo. Đạo có nhiều loại. Loại chủ yếu là chỉ ra việc tu tập bát chánh đạo, chính là sẽ được trí tuệ tối thắng (bát nhã). Tu thiện đoạn ác, giải thoát nỗi đau khổ của sanh tử.

            “Tập” là nguồn gốc của “Khổ”. Hai đế này là nhân quả lưu chuyển ở thế gian. Biết khổ nên đoạn Tập. Đoạn Tập được nên cho là thoát ly khổ, là việc hành quán sát của Thanh văn thừa, là chán ghét và xa lìa thế gian.

“Diệt” là thu hoạch được của “Đạo”. Hai đế này tức là nhân quả vượt ra thế gian. Vì cầu chứng Diệt mà tu đạo. Do tu đạo là để chứng Diệt, là hành quả mà Thanh văn thừa tu chứng Niết bàn.

            Thanh văn thừa chứng đắc quả Niết bàn , tức là đoạn trừ hai hoặc của phiền não: kiến hoặc và tư hoặc mà do thói quen của Tập đế khởi lên. Hai hoặc: kiến hoặc và tư hoặc này có chứa đủ cả Thập sử: 1) Tham 2) Sân 3) Si 4) Mạn 5) Nghi 6) Thân kiến 7)Biên kiến 8) Tà kiến 9) Kiến thủ kiến 10) Giới cấm thủ kiến.

            Đoạn trừ Thập sử này chính là tu Tam học: Giới; Định; Huệ. Vì phá được ngã chấp nên chứng được chân như của ngã không mà giải thoát sanh tử.

            Lúc đó, Đức Phật ba lần chuyển pháp luân Tứ thánh đế để khai thị cho năm người Kiều Trần  Như  v.v….  khiến họ ngộ đạo.

Biểu đồ lúc Đức Phật ba lần chuyển pháp luân Tứ thánh đế được kê ra sau đây:


 |Chú giải]

1.      Ngũ ấm xí thạnh khổ _ thân tâm mong cầu như lửa hừng hực, cho nên khổ.

2.      Chuyển pháp luân _ Phật thuyết pháp gọi là chuyển pháp luân. Ý nghĩa của luân:

a. Như bánh xe lăn đến, có khả năng lăn tróc vỏ trấu. Dụ cho Phật pháp có khả năng  phá năm cột trụ phiền não.

b.Như bánh xe của xe, thuyền có thể thông hành đến nơi mục đích. Dụ cho Phật pháp có khả năng thông đạt Niết bàn Tứ đức (thường, lạc, ngã, tịnh, gọi là Niết bàn Tứ đức ). Ý nghĩa của chuyển là nói việc mà các chúng sanh có thể chuyển đổi. Tức là chuyển mê thành ngộ, chuyển nhiễm thành tịnh, chuyển phàm thành Thánh. Cho nên theo cách giải lần đầu của pháp luân là khiến cho chúng sanh vay mượn Phật pháp để phá năm cột trụ phiền não. Theo cách giải lần thứ hai là khiến chúng sanh vì nghe Phật pháp, dụ như thuyền xe có khả năng được vận tải đến bờ Niết bàn Tứ đức.

3.      Năm cột trụ phiền não:

1/ Kiến hoặc của tam giới.

2/ Tư hoặc của dục giới.

3/ Tư hoặc của sắc giới.

4/ Tư hoặc của vô sắc giới.

5/ Hoặc của vô minh.

4.      Nhị đế khổ và tập trong pháp Tứ đế là nhân quả mê vọng của thế gian. Nhị đế diệt và đạo là nhân quả chứng ngộ của xuất thế gian. Khổ đế là quả khổ mê hoặc. Động lực chủ yếu của tập đế là các mê hoặc tham, sân, si, là nhân khổ. Diệt đế là tiêu diệt phiền não, chứng quả Niết bàn. Đạo đế là nhân chánh đáng cho việc tu đạo.

5.      Đức Phật chuyển pháp luân lần đầu nói Tứ thánh đế. Ba lần chuyển mười hai pháp luân. Trên lịch sử gọi thuyết pháp lần này là kinh chuyển pháp luân.

6.      Phật Đà chuyển pháp luân lần đầu ở vườn Lộc Uyển độ năm Tỳ kheo. Phật giáo chính là có sự bắt đầu của Tăng già, cũng là có sự bắt đầu đầy đủ của Tam bảo (Tam bảo sớm nhất có đủ: Phật bảo là Phật Thích Ca Mâu Ni, Pháp bảo là pháp Tứ đế, Tăng bảo là năm Tỳ kheo).

7.      Căn cứ văn từ Pali mà đối chiếu với văn Tàu dịch thì tên của năm Tỳ kheo được dịch như sau:

1)      KONDANNA (âm dịch là Không Đạt Nhược). Tàu dịch là Kiều Trần Như.

2)      VAPPA (âm dịch là Ngõa Bá). Tàu dịch là Sa Bà Ba, có người dịch là Phạt Bát.

3)      BHADDIYA (âm dịch là Kháp Lý Nhã).Tàu dịch là Bạt Đề, có người dịch là Bà Đề và Bạt Đà La Xà.

4)      MAHANAMA (âm dịch là Mã Kháp Na Ma). Tàu dịch là Ma Ha Nam, có người dịch là Ma Ha Na Ma.

5)      ASSAJI (âm dịch là A Sa Cứ). Tàu dịch là A Thuyết Thị, có người dịch là A Thấp Ba Thị và A Xá Ba Xà; còn dịch là Tỳ kheo Ma Đằng.

 

XXIV   BIỂU ĐỒ GIẢN LƯỢC BA MƯƠI BẢY PHẨM ĐẠO:

            Từ trong Đạo đế của Tứ đế, Phật Đà khai thị ra loại pháp môn tu tậpThánh đạo cơ bản, gọi là 37 phẩm đạo, cũng gọi là pháp của 37 phần Bồ đề.

          [ Chú giải]:

1.      Pháp quán bốn loại của Tứ niệm xứ: bốn loại này đều dùng lực lượng huệ quán để giữ gìn tâm niệm thường trụ trong đạo pháp, khiến cho tâm được chánh niệm, không tà.

2.      Tứ chánh cần : tức là tinh tấn cần lao, là tu tập bốn loại đạo pháp, rất là thù thắng, dùng để đốc thúc thân, khẩu, ý đoạn ác sanh thiện. Cũng gọi là Tứ chánh thắng. Sức trí tuệ lúc này đã tăng nhiều nhưng sức thiền định rất bạt nhược.

3.      Tứ thần túc : tức là dùng bốn loại định lực để nhiếp tâm, khiến cho định, huệ được tương đồng, thần lực được dồi dào, sở nguyện đều được đủ. Dục thần túc là mong cầu dục lạc. Cần thần túc là tinh tấn không ngừng. Tâm thần túc là nhất tâm chánh niệm. Quán thần túc là tâm bất phân tán.

4.      Ngũ căn ngũ lực : là tên được đặt theo trình độ sâu cạn. Như sự tăng trưởng về tín căn, phá được các lòng tin tà vạy thì gọi là tín lực. Cho nên ngũ căn là căn bản để sanh ra thánh đạo. Ngũ lực là chủ lực để tăng trưởng thánh đạo. Kinh Phật nói: “Có năng lực sanh thiện pháp, cho nên gọi là căn. Có năng lực phá ác pháp, cho nên gọi là lực.

  1. Ngũ căn

1)      Tín căn : Tin tưởng đạo lý và kềm chế được sự ham muốn khoái lạc đối với các tà pháp.

2)   Tấn căn: Tin tưởng cách lý giải về các pháp thiện nên càng tinh tấn gấp bội.

3)   Niệm căn: là nhớ lại chánh đạo, không quên chánh pháp.

4)   Định căn: là nhiếp tâm chánh đạo, tương tục không phân tán.

5)   Tuệ căn: là chọn lọc rõ ràng, suy nghĩ chân lý.

  1. Ngũ lực :

1)      Tín lực: tin tưởng căn tăng thượng, cho nên có thể phá chướng ngại về nghi hoặc.

2)      Tấn lực: đi vào căn tăng thượng, cho nên có thể phá giãi đãi.

3)      Niệm lực: niệm căn tăng thượng, cho nên có thể phá hôn ám.

4)      Định lực: định căn tăng thượng, cho nên có thể phá tán loạn.

5)      Tuệ lực: tuệ căn tăng thượng, cho nên có thể phá ngu muội.

            Lại vì ngũ căn; ngũ lực dùng trí tuệ làm chủ để hiển thị tín tâm. Cho nên chữ tín để đầu, chữ huệ để sau.

  1. Thất bồ đề phần : được nói rõ như sau :

1)      Trạch pháp bồ đề phần _ dùng trí tuệ để chọn pháp thực hay giả.

2)      Tinh tấn bồ đề phần _ dùng tâm dõng mãnh để nổ lực hành chánh pháp.

3)      Hỷ bồ đề phần _ tâm đắc thiện pháp mà sanh hoan hỷ.

4)      Khinh an bồ đề phần _ trừ bỏ thân tâm phiền não nặng nhọc để được khinh an.

5)      Niệm bồ đề phần ­_ nhớ rõ định huệ, khiến định huệ được tương đồng.

6)      Định bồ đề phần _ tâm suy nghĩ về một cảnh mà không tán loạn.

7)      Hành bồ đề phần _ xả bỏ các vọng ngữ  xằng bậy, càng làm thêm việc ích lợi.

            8) Thất bồ đề phần _ còn gọi là Thất giác chi. Ở trong 37 phẩm đạo được gọi là Độc giác. Nguyên nhân chính là chúng ta chưa được giác ngộ từ  khi chưa tu Tứ niệm xứ cho đến khi tu ngũ căn. Nhưng đến sau khi tu Bát chánh đạo thì đã được giác ngộ. Theo cách tư  duy thì trong khi tu Thất giác phần do mê mà ngộ, do chưa giác mà giác, cho nên được gọi là Độc giác.

9) Bát chánh đạo _ là dùng chánh kiến làm đầu. Tức là cho rằng chánh kiến rất trọng yếu. Vì đã có chánh kiến mới có thể có nhận thức chính xác về sự và lý. Đúng là có khả năng phá được cái biết tầm thường và cái thấy tầm thường của sự chênh lệch vọng ngữ xằng bậy mà ngộ nhập chánh đạo.

                  10) Hữu lậu _ có phiền não, cũng gọi là hữu vi.

                  11) Vô lậu _ thanh tịnh không phiền não, cũng gọi là vô vi.

XXV    GIẢI THÍCH GIẢN LƯỢC VỀ TỨ NIỆM XỨ :

            Lúc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn, Ngài nói với A Nan Đà và chúng Đệ tử rằng: “Sau khi ta nhập diệt, Tỳ kheo các con nên nương vào Tứ niệm xứ mà an trụ”. Trong Phật pháp rộng lớn, Đức Phật vì sao chỉ nói an trụ ở Tứ niệm xứ? Đó là vì chúng sanh có bốn loại vọng kiến điên đảo :

1.   Duyên thân thì chấp tịnh.

            2.   Duyên thọ thì chấp lạc.

3.   Duyên tâm thì hằng còn.

4.   Duyên pháp thì chấp ngã.

            Nếu như không tiêu trừ bốn vọng kiến điên đảo theo sự lưu chuyển của phàm tục này thì phiền não chồng chất. Do đó, Phẩm trọng yếu nhất trong 37 phẩm đạo là Tứ niệm xứ, là phẩm đối trị bốn vọng kiến điên đảo này. Vì sao gọi là Tứ niệm xứ? Tứ niệm xứ được thuật đơn giản như sau :

1)   Thân niệm xứ _ Quán thân bất tịnh: là dùng huệ lực tu quán bất tịnh để đối trị vọng kiến điên đảo của “ Duyên thân chấp tịnh”. Thử nghĩ thân thể chúng ta thì không phải rất thanh tịnh sao ? Bất cứ là bạn trang sức xem đẹp như thế nào, nhưng lúc mồ hôi của bạn đầy khắp thân, bạn liền có cảm giác mùi hôi khó chịu. Huống gì các loại tiểu tiện, nước mủi, nước bọt… đều là bất tịnh. Người ta sau khi chết, mọi người lại sợ thấy người chết. Thi thể sau khi chết hẳn thì mụt nát, khắp thân sinh vòi, xương răng, xương tủy bị gậm, cuối cùng trở thành một đống xương trắng, thì việc sinh tồn của thân thể này thật ra là bất tịnh. Cho nên có thể quán thân bất tịnh, thì các loại phiền não của sắc tướng diễm lệ, luyến mộ, nhớ nhung, tham ái của người từ đó có thể tiêu diệt, thì tâm niệm mới có khả năng an trú trong đạo pháp.

1)      Thọ niệm xứ _ Quán thọ là khổ: là dùng huệ lực quán khổ để đối trị vọng kiến điên đảo của“Duyên thọ chấp lạc”. Thọ chính là lãnh nạp vì nghĩa nhân, cũng tức là ấn tượng cảm thọ bên ngoài. Khi chúng ta tiếp xúc với cảnh giới, bất luận cảm giác khổ, vui hay buông xả mà chúng ta lãnh nạp được thấy trong pháp lý vô thường thì khổ thọ cố nhiên là khổ. Còn từ lạc thọ cho đến chỗ vui rốt ráo rồi cũng sanh đau thương, vẫn là trốn không hết cái khổ. Xả là xả thọ, tức là cảm giác không khổ, không vui. Vì bên ngoài của chúng sanh có bốn tướng chuyển đổi là sanh, trụ, dị, diệt. Bên trong có những ý niệm suy nghĩ không gián đoạn thì đến tận cùng cũng là khổ ( tức là hành khổ). Cho nên đời người là khổ, thế giới này là cái khổ tràn trề. Khổ đã là do “Ái” mà có. Thế thì biết khổ mà không tham dục lạc, chính là không có cách nhìn sai lầm rằng “Duyên thọ chấp lạc”của vọng kiến do cảnh giới chuyển đổi. Đúng là vọng kiến điên đảo không thể tồn tại được.

3)   Tâm niệm xứ _ quán tâm vô thường: là dùng huệ lực quán tâm vô thường để đối trị vọng kiến điên đảo của “Duyên tâm chấp thường”. “ Tâm” là bản chất của sinh mệnh, đồng thời là chỗ then chốt của chúng sanh, nhưng tâm không phải là vật cố định duy nhất để tồn tại mà chính là nhân duyên hòa hợp mà có. Thế giới tâm và vật chất của nhân duyên hòa hợp, tức là thế giới ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Còn thế giới thân tâm ngũ uẩn chính là vô thường, là sẽ hoại diệt. Cho nên tâm của chúng ta là không có thực thể, chẳng qua là sự phát triển quan hệ nhân duyên của tâm lý hoặc là tư duy mà thôi. Tuyệt nhiên là không có thực thể nào có thể nắm bắt được. Vả lại, hiện tượng của tâm là niệm niệm sinh diệt, một sát na cũng không dừng nghỉ thì làm sao có thể chấp nó là thường? Do đó, huệ lực quán tâm vô thường có thể khiến tâm niệm xa lìa nỗi lo lắng lỗi lầm của vọng kiến chấp thường.

4)   Pháp niệm xứ _ quán pháp vô ngã: dùng huệ lực quán pháp vô ngã để đối trị vọng kiến điên đảo của “Duyên pháp chấp ngã”. Vũ trụ vạn pháp đều là nhân duyên nương nhau tồn tại. Thân thể chúng ta là hình thể của ngũ uẩn và tứ đại (đất, nước, gió, lửa) hợp thành. Một khi tứ đại không điều phục, ngũ uẩn phân ly, sinh mệnh liền chết mất. Phật thuyết về ngã của ngũ uẩn là “Cái ta giả”, không thể chấp là “Cái ta thật”. Nhưng chúng sanh không biết, ở trong pháp vô ngã mà vọng chấp có ngã. Loại vọng chấp này gọi là “Ngã kiến”. Đã có ngã kiến thì có phiền não chồng chất  và cố chấp một mặt, chính là không thể tiếp nhận chánh pháp. Cho nên phải khiến cho tâm niệm an trú trong đạo pháp rồi phải dùng huệ lực “Quán pháp vô ngã” để tiêu trừ sai lầm của “Duyên pháp chấp ngã”.

            Lúc quán tu Tứ niệm xứ, các phần đã thuật ở trên nên mở ra để quán xét, thì gọi là Biệt tướng niệm xứ. Mỗi một niệm xứ nên tu tạo một quán giống như lúc quán tu Tứ niệm xứ, ba quán còn lại cũng tu tạo như vậy thì gọi là Tổng tướng niệm xứ. Ví như lúc quán pháp vô ngã, nên phải quán thân này bất tịnh: là khổ, là vô thường. Hoặc nên quán thân, quán thọ, quán tâm đều là vô ngã. Lúc quán thân bất tịnh, nên quán thân này là khổ, là vô thường, vô ngã. Hoặc nên quán thọ, quán tâm, quán pháp cũng đều bất tịnh, ngoài ra chúng ta còn phải suy luận.

            Tứ niệm xứ còn gọi là Tứ niệm trụ. Quan trọng của việc tu Tứ niệm xứ này là ở trí huệ. Dùng huệ làm thể, lực của huệ có thể khiến cho bốn loại quán tưởng của thân, thọ, tâm, pháp thường trụ trong đạo pháp chánh niệm. Cho nên trong giai đoạn tu Tứ niệm xứ này, trí tuệ đã được hướng về nơi chân thật. Sau đó do nhân duyên mà càng thêm tinh tấn, nên lực trí tuệ của chúng ta lúc này càng thêm tăng trưởng. Tiếp theo nữa là tu phẩm đạo khác, phải cố gắng hơn mới có thể từng bước đi vào Bát chánh đạo!

[Chú giải]:                                                                                                                        

            Ba mươi bảy phẩm đạo của Đạo đế được hiểu rõ sanh tử là khổ, đó là Tứ niệm xứ. Mà trong Tứ niệm xứ, chúng ta lìa bỏ được tham ái do trì giới mà sanh định, đó là Tứ chánh cần, Tứ như ý túc. Do định mà khai phát huệ thật vô lậu, đó là Ngũ căn Ngũ lưcï, Thất giác chi. Từ huệ vô lậu đủ để tu pháp giới, định, tuệ viên mãn, đó là Bát chánh đạo.

XXVI    BÁT CHÁNH ĐẠO THỰC TIỄN:

            Từ xưa đến nay mọi người đều nói rằng: việc quan trọng của đại thừa là Bát nhã, việc quan trọng của tiểu thừa là chánh kiến. Vì đại thừa có khả năng hành theo Bát nhã, có thể được giải thoát, tiểu thừa có thể hành theo chánh kiến cũng có thể được giải thoát. Do đó người của tiểu thừa phải tu phẩm đạo sau cùng của ba mươi bảy phẩm đạo _ Bát chánh đạo. Bát chánh đạo đầu tiên là chánh kiến. Chánh kiến tức là con mắt hành chánh đạo. Có hiểu rõ chánh kiến thì không thể tu mù, hành mù phí công vô ích.

            Nói đến Bát chánh đạo thì không phải chỉ giới hạn ở chỗ người tiểu thừa tu. Vì Bát chánh đạo có hai phương diện thế gian và xuất thế gian. Nương theo Bát chánh đạo thế gian để làm thực tiễn thì sẽ có thể thành thiện nhân quân tử. Nương theo Bát chánh đạo xuất thế gian để làm thực tiễn thì sẽ có thể hoạch được giải thoát sinh mệnh. Cũng tức là quả vị cao nhất của tiểu thừa, gọi là A La Hán.

            Điều thứ nhất của Bát chánh đạo là “Chánh kiến”, tức là tri kiến chính xác. Do nghe lý Tứ đế mà nhận thức được chân tướng của vũ trụ nhân sinh, là khổ, không, vô thường, là không có một pháp nào có thể tồn tại riêng lẻ, cũng không có một pháp nào là mãi mãi không biến đổi. Do đó, chúng ta hiểu rõ được đời người có sự tiếp xúc ngắn ngủi này thì phải bảo trì sự khéo tốt trong sạch, không buông thả cái ngã và không thay đổi bản chất, hãy mau cải chánh lần lần tư tưởng chấp một mặt để bước vào chánh kiến. Phật học Khái luận của pháp sư Ấn Thuận có nói: “Chánh kiến, trước nhất là nghe huệ. Tức là từ chỗ nghe các loại chánh pháp về nhân quả, sự lý, Tứ đế, Tam pháp ấn…. mà được tin hiểu thâm thiết, lý giải chính xác được Phật pháp, là dùng Phật pháp để làm kiến địa của mình”. Biết được chánh kiến thì Phật pháp phải đa văn, phải căn cứ vào chân lý Phật pháp mà phân biệt chánh tà, phải tin pháp lý thiện ác nhân quả và nghiệp báo ba đời v.v… Đệ tử Phật giáo bất luận là ai cũng đều phải dựa vào sự nổ lực của chính mình để tu huệ, đoạn tà, bồi dưỡng chính xác tri kiến. Đây là căn bản để tiến đức, tu thiện.

            Điều thứ hai của Bát chánh đạo là Chánh tư duy, còn được dịch thành các danh từ là Chánh dục, Chánh chí… Chánh tư duy là Chánh kiến biến hoá thành lý tưởng của mình. Do lý tưởng mà hành động được thực hiện, là phải suy xét thâm mật, nghĩa là ba lần suy nghĩ rồi sau mới hành động. Vì sao lại gọi là Chánh dục? Vì dục có thiện và bất thiện. Bất thiện dục là có lòng tư lợi, có phiền não như tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Thiện dục là chí công vô tư (xa rời sáu căn bản của phiền não), tức là Chánh dục. Câu này, ý nói lên rằng: Chánh dục là lý tưởng dục vọng chánh đáng. Phàm là người nên có lý tưởng Chánh dục này và nương theo mục tiêu để làm. Muốn cho lý tưởng có khả năng thực tiễn và trở nên thành công thì phần tư duy trước tiên phải suy nghĩ chính xác, kế hoạch phải tinh mật, ý hướng phải xác định. Còn như Chánh tư duy lại gọi là Chánh chí thì như  trong kinh có câu rằng: “Chánh chí là phân biệt, là tự quyết, là hiểu ý, là tính đếm, là lập ý”. Ý nghĩa này nói rõ về Chánh chí, cũng tức là Chánh tư duy, Chánh dục, Chánh chí, nó là tư tưởng khác tên nhưng đồng một nghĩa của chánh đơn thuần. Phàm khả năng thực tiễn của Chánh tư duy không gây tạo ba ác nghiệp thân, khẩu, ý thì Chánh tư duy sẽ tránh được khổ phược do phiền não bao vây.

            Điều thứ ba của Bát chánh đạo là Chánh ngữ, tức là ngôn ngữ phải đoan chánh. Ngôn ngữ là tiếng nói của lòng, do nạp vào tâm mà biểu hiện bên ngoài. Vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ của nội tâm bất chánh thật là như  dao gươm đâm vào khiến cho tâm người ta hung ác, khó chịu và gây ra tai hoạ. Chánh ngữ phải thực tiễn thì mới đề phòng được bốn ác nghiệp của miệng là phải nói lời chân thành, trong sạch có lễ nghĩa, nói từ tốn hợp với sự và lý.

            Điều thứ tư của Bát chánh đạo là Chánh nghiệp. Tức là ba nghiệp thân, khẩu, ý được thanh tịnh và xa lìa tất cả tà vọng như sát sanh, tà dâm, trộm cướp… để phạm hạnh được thanh tịnh.

            Điều thứ năm của Bát chánh đạo là chánh mệnh. Tức là bảo trì trong sạch sinh mệnh của Thánh, phải dùng sự nghiệp, công việc chánh đáng để nuôi sống sinh mệnh này. Nếu lợi ích công việc hay cách hoạch được không như ý thì không thể kinh doanh khác với tính đạo đức, mà duy trì sinh hoạt khiến cho sinh mệnh bị nhiễm ô bất tịnh. Đây cũng là nói sinh hoạt kinh tế phải có hợp lý.

            Điều thứ sáu của Bát chánh đạo là Chánh tinh tấn. Tức là bỏ ác hướng thiện, nổ lực tinh tấn dõng mãnh, gọi là Chánh tinh tấn. Bất luận là tu một chánh đạo nào cũng đều phải tinh tấn. Nếu không tinh tấn thì như thuyền đi nước ngược, không tiến mà lùi. Cho nên phải có đủ nghị lực đại tinh tấn, dũng cảm đi thẳng về phía trước, ngăn ngừa các hành vi ác và tiến tu tất cả việc thiện.

            Điều thứ bảy của Bát chánh đạo là Chánh niệm. Tức là không sanh tà niệm mà nhớ nghĩ chánh đạo. Kinh Di Giáo nói: “Tỷ như mặc áo giáp sắt vào trận, thì không có sợ gì”. Chính là nói chánh niệm phải kiên cố mới có thể đề kháng được dụ hoặc của vật dục ngoại cảnh và trong hoàn cảnh ô nhiễm của ngũ dục vẫn thảng nhiên không bị nó làm ô nhiễm. Chánh niệm là phải tu trì tinh tấn mới không khiến trong tư tưởng có ý nghĩ bất chánh.

            Điều thứ tám của Bát chánh đạo là Chánh định. Tức là nhất tâm chuyên chú, không phân tán ra ngoài, tâm được nhập định vô lậu, liền có thể giải thoát tự tại. Cho nên người của tiểu thừa lấy nhiếp tâm làm giới. Do giới sanh định, từ định phát huệ. Để đạt đến quả vị chứng ngộ vô sanh thì phải siêng năng trong chánh định sau cùng của Bát chánh đạo.

            Bát chánh đạo thực tiễn mà Phật Đà khai thị, đã có đủ sự tăng tiến thứ lớp của Tam học Giới, Định, Huệ.

                        1.      Giới học như là: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mệnh.

                        2.      Định học như là: Chánh niệm, chánh định.

                        3.      Huệ học như là:  Chánh kiến, chánh tư duy.

                                    Chánh tinh tấn nói lên sự hoàn thành trong việc khuyến khích Tam học giới, định, tuệ. Bát chánh đạo là quỹ đạo chánh, mà bậc Thánh giải thoát, phải tuân theo và thi hành theo lực thực tiễn của Bát chánh đạo. Cho đến đệ tử của Phật tại gia, nếu như có khả năng thực tiễn về Bát chánh đạo thì cũng có thể tịnh hóa chính mình và đẩy mạnh lên tịnh hoá xã hội khiến cho đại chúng hành chánh đạo thì nhân sanh trong  xã hội sẽ trở nên hạnh phúc , an lạc và tốt đẹp.

XXVII    NÓI SƠ VỀ NGŨ UẨN:

                                    Duyên giác thừa là lý pháp nương theo mười hai nhân duyên mà tu tạo. Lý của Duyên  giác thừa là tánh không. Cho nên trước khi giới thiệu Duyên giác thừa, trước tiên nên nhận thức pháp ngũ uẩn không phải là thực, cũng chính trong kinh thường nói là Tứ đại vốn không, lục trần không phải chân tướng thực sự mà có.

1.      Ngũ uẩn _ Tức là năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức , gọi là ngũ uẩn.

            “Uẩn” là nghĩa “Tích tụ”, còn gọi là “Ấm”. “Ngũ ấm” là nghĩa chướng che, có thể che lấp pháp tánh chân như mà khởi ra các phiền não. Hãy xem thuyết minh ý nghĩa của ngũ uẩn như sau:

1/  Sắc _ tức vật chất, có nghĩa là làm trở ngại, là vật tạo nên bốn loại lớn đất, nước, gió,lửa.

2/   Thọ _ có nghĩa là lãnh nạp, bao gồm ba thọ là khổ thọ, lạc thọ và xả thọ.

3/   Hành _ nghĩa là khởi tạo ra các việc làm, di chuyển không ngừng nghỉ trong ý niệm, do hành động mà tạo nghiệp ác, thiện.

4/   Tưởng _ nghĩa là dùng hình ảnh tạo nên sự suy nghĩ. Dùng tướng chồng chất của các loại trong cảnh giới thiện, ác, yêu ghét mà tạo nên suy nghĩ chồng chất.

                        5/ Thức_  nghĩa là hiểu biết, do cảnh giới của tâm thức mà hiểu rõ sở duyên, sở đối.

            2.  Pháp sắc và pháp tánh có bốn tác dụng lớn _ trong bốn đại thì chất rắn là của tánh đất, chất ẩm thấp của tánh nước, chất ấm áp của tánh lửa, chất chuyển động của tánh gió.

            Sự cấu thành của căn thân và khí giới trong sắc pháp đều có đủ tánh tác dụng hòa hợp của Tứ đại này. Như  khớp xương, móng tay, và răng của thân thể chúng ta thì thuộc về đại địa. Mồ hôi, nước mủi, nước bọt, máu, mủ, tiểu tiện, đại tiện thuộc về thủy đại. Sự ấm áp của nhiệt độ thuộc về hỏa đại. Hơi thở, hô hấp thuộc về phong đại. Sơn hà đại địa cho đến tất cả vật phẩm, dụng cụ cũng đều có tánh tác dụng của Tứ  đại này.

3.   Tứ đại và căn thân :

            Tứ đại là đất, nước, gió lửa. Căn thân là thân thể chúng ta. Phật thuyết Tứ đại là nguyên tố cấu thành căn thân. Tức thân thể chúng ta do giả tướng của Tứ đại hòa hợp mà có. Nếu như một người vì Tứ đại không điều hòa sanh ra bệnh nặng mà chết, thì căn thân đã hoại, nhân duyên Tứ đại hòa hợp bèn tiêu tán. Cho nên kinh Phật nói: “ Tứ đại vốn không”.

            4.    Ngũ uẩn và căn thân :

            Ngũ uẩn và căn thân là sự hòa hợp chung. Căn thân được hòa với ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức là nhờ sự kết hợp quan hệ hỗ tương của ngũ uẩn này, nó mới có khả năng tụ thành cho chúng ta có đủ giả tướng thân thể của tác dụng tinh thần. Khi trợ duyên của những quan hệ này đã đến lúc phân diệt thì thân thể cũng hoại thôi. Cho nên kinh Phật cũng nói: “ Ngũ uẩn không phải có”.

  Kinh Phật nói: “Tứ đại vốn không, ngũ uẩn không phải có, duyên tụ thì hợp, duyên tán thì phân ly”. Đây chính là nói “Ngũ uẩn và căn thân” là duyên sanh ra tánh không nên chúng ta không thể khởi lên các chấp trước đối với “Ngũ uẩn và thân căn này”. Ngũ uẩn và thân căn là nơi tạo nghiệp. Nếu chúng ta tự trói buộc phiền não thì sẽ có nghiệp báo.

            [ Chú giải]:

1.      Sắc uẩn trong ngũ uẩn thuộc về vật chất, được gọi là sắc pháp. Bốn uẩn : thọ, tưởng, hành, thức thuộc về tinh thần, được gọi là tâm pháp.

2.      Khí giới là cách gọi chung của tất cả vật phẩm đồ dùng và phòng ốc trong sơn hà đại địa.

XXVIII     DUYÊN GIÁC THỪA VÀ MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN:

            Hai tiểu thừa: Thanh văn và Duyên Giác thường được gọi là nhị thừa. Thanh văn thừa nương theo lý của Tứ thánh đế khởi lên tu hành. Còn Duyên giác thừa theo lý của mười hai nhân duyên khởi lên tu hành. Đây là chỗ khác nhau của nhị thừa.

 

            Thập nhị nhân duyên còn gọi là thập nhị duyên khởi, là nói rõ quá trình của đời người. Câu này được giải thích rõ ràng về việc lưu chuyển sanh tử của chúng hữu tình. Tất cả giới chúng sanh cho đến giới tự nhiên đều là duyên khởi nương nhau tồn tại. Kinh A Hàm nói: “Vì cái này có cái kia có, vì cái này sanh cái kia sanh, vì cái này không có cái kia cũng không có, vì cái này diệt cái kia diệt”. Cho nên con người và xã hội, tinh thần và vật chất đều là trạng thái nương nhau để hình thành.

   Thập nhị duyên khởi là con số được dựng lên của mười hai điều mục hỗ duyên nhau để nói rõ về sự thành lập của hiện thực nhân sinh.

1.      Vô minh _ là gọi chung của phiền não trong quá khứ, là ý nghĩa của vô tri, hoặc ngu si, hoặc mê ám.Do đó, vọng động của vô minh và luân chuyển của chúng sanh là căn bản của sanh tử.

2.      Hành _ là ý nghĩa của “Hành vi” hoặc “Tạo tác”, tức là nương theo phiền não vô minh trong quá khứ mà phát động ra ba nghiệp thân, khẩu, ý: có lúc tạo và hành nghiệp thiện, có lúc tạo và hành nghiệp ác, có lúc tạo việc bất thiện bất ác. Hành này và vô minh ở bên trên tức là hoặc và nghiệp trong quá khứ đã làm, cũng chính là nội dung Tập đế trong Tứ đế đã nói.

3.      Thức _ tâm thức nhập thai. Do động lực của hoặc và nghiệp trong quá khứ mà khiến cho A Lại Da Thức chịu quả báo là gặp duyên thì thác thai, hoàn thành thân thể sinh mệnh trong hiện tại.

4.      Danh sắc _  danh là tâm thức, thuộc về tinh thần. Sắc là tinh huyết của cha mẹ, thuộc về vật chất. Cho nên gọi là sắc, là thành lập yếu tố thân thể sinh mệnh hữu tình, cũng tức là sự hình thành ban đầu của thai tướng lúc chưa đủ sáu căn.

5.      Lục nhập _ là vị trí hoàn toàn đầy đủ của sáu căn. Nghĩa là danh sắc sáu căn: mắt, tai, mủi, lưỡi, thân, ý ở trong thai, dần dần tăng lớn lên, cũng lần lần đầy đủ. Nhưng bào thai thời gian này trong bụng mẹ chỉ được mấy tháng, tuy thành mô hình của sáu căn nhưng chỉ có rất ít những cảm nhập của cảm giác về ngoại giới và tác dụng cảm nhập không được đầy đủ, cho nên gọi là “ Lục nhập”, chính là thời kỳ phôi thai của nhân sinh.

6.      Xúc _ tức là sau khi xuất thai, vì tiếp xúc cảnh giới mà sinh ra cảm giác, cũng tức là sự bắt đầu nhận thức về cảnh giới. Như thời kỳ anh nhi từ sơ sinh đến nội trong một tuổi và đi vào thời kỳ ấu nhi hai tuổi thì ngoại cảnh tiếp xúc của nó chỉ khởi lên tri giác đơn giản, không thể phân biệt được cái gì đúng cái gì sai, cái gì khổ cái gì vui, cũng không có phân biệt yêu ghét. Tất cả cử động rất ngây thơ, lúc này có thể nói là thời kỳ hỗn độn của xúc. Đến ba tuổi, năm tuổi là ấu đồng thì sức tri giác tiếp xúc với ngoại cảnh cũng dần dần tăng trưởng.

7.      Thọ _ tức là cảm thọ tiếp xúc với ngoại cảnh, ý chỉ cho ba thọ là khổ, lạc và xả. Như đời người từ thời kỳ ấu nhi bốn, năm tuổi đến thời kỳ nhi đồng (sáu tuổi đến mười hai tuổi) cho đến trong thời kỳ thanh niên (mười ba tuổi đến hai mươi ba tuổi) thì tâm thức dần dần phát triển, phạm vi hoàn cảnh lãnh thọ dần dần rộng lớn mà sinh ra cái ăn, mặc, ở, đọc sách, đi chơi và sự mong cầu khác cũng tăng tiến theo năm tháng. Nếu gặp thuận cảnh thì họ cảm thọ vui, gặp nghịch cảnh thì cảm thọ đau khổ, đặc biệt là thời kỳ thanh niên rất hiện rõ đối với cảm thọ yêu ghét. Đây gọi là “Giai đoạn của thọ”.

8.      Ái _ nghĩa là sự nhiễm trước của tham ái. Ái do thọ mà đến, bôn ba tìm cầu về cảnh giới của thọ. Như thời kỳ thanh niên,  do dục vọng về tham luyến sắc dục nam nữ và tài vật mà đã gây ra sự chấp trước mãnh liệt chồng chất ở tâm, theo đuổi không thôi, không chịu buông bỏ, có người vượt khỏi phép tắc, có thai trước khi kết hôn. Cho nên “Giai đoạn ái” ở đây, đặc biệt là thanh niên nam nữ  nên cẩn thận và điều phục tình dục xung động của mình.

9.      Thủ _ nghĩa là chấp thủ, tức là đối với cảnh giới của Ái mà chấp thủ, tìm cầu. Cũng tức là khởi lên tham luyến nên chấp thủ mãnh liệt đối với cảnh giới vật dục, cứ cho rằng có ngã nên dục vọng càng làm cho mình thỏa mãn. Thế thì ba nghiệp bất tịnh tạo ra ác nghiệp. Vì nghiệp ràng buộc thân nên nghiệp huân tập thành nhân khổ của thân tâm đời sau. Đó đều là do “Ái” và “Thủ” mà ra.

10.  Hữu _ tức là ý nghĩa của sự tồn tại nghiệp lực hiện hữu. Nghĩa là do tham ái, chấp trước lôi kéo nắm bắt nghiệp lực không thôi. Đời hiện tại còn tạo nhiều ác nghiệp nên nghiệp lực cấu thành quả báo ngấm ngầm chiêu cảm ở hiện hữu đời sau.

11.  Sanh _ tức là thọ sanh đời sau. Do vì nghiệp lực tự ẩn chứa ở thân mình, lại đi đầu thai mà thọ sanh, hoàn thành sinh mệnh của đời sau.

12.  Lão tử _  đây nói rõ là đời sau đã như thế, còn phải đầu thai. Tất nhiên lại phải già, chết thì đạo lý lưu chuyển của nhân quả tuần hoàn đời đời không thôi. Vì đời sau lại có già chết thì các loại khổ như ưu, bi, khổ, não… là cái khổ của sanh, già, bệnh, chết nó đều đến với nhau. “Sanh” và “Già chết”lại là hai loại nhân quả của đời sau thì chính là nội dung khổ đế được thêm vào để phân biệt cho tỉ mỉ.

Trong việc sanh tử tuần hoàn thông nhau ba đời : quá khứ, hiện tại, vị lai của đời người được mười hai nhân duyên nói rõ. Do vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, lão, tử  và không ngừng lưu chuyển thì gọi là cửa lưu chuyển. Nhân và quả của cửa lưu chuyển này từ  hai nhánh nhân là “Vô minh” và “Hành” của quá khư, nó duyên khởi ra năm nhánh quả của “Thức”, “Danh sắc”, “Lục nhập”, “Xúc” và “Thọ”. Lại từ  ba nhánh nhân “Ái”, “Thủ” và “Hữu” của đời hiện tại, nó duyên khởi ra hai nhánh quả Sanh và Già chết của đời vị lai.

Ý nghĩa của đời người chính là sinh tử, tử sinh tuần hoàn không thôi, gọi là luân hồi. Vì đời người tạo thành quả khổ của sanh tử  căn bản không ngoài “Hoặc” và “Nghiệp”. Phật Thích Ca Mâu Ni ngộ đạo chính là quán đạo lý nhân sinh mà giác ngộ Thập nhị duyên khởi này. Đức Phật đã suy cứu duyên khởi của Thập nhị nhân duyên, cho rằng “Vô minh” là căn bổn lưu chuyển của sanh tử: nếu như chúng ta tu đạo thì đoạn được vô minh, trừ được ái, thủ chính là có thể giải thoát sanh tử. Cho nên nói theo “Cửa quay về tịch diệt” của Thập nhị nhân duyên là vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt… cho đến sanh và già, chết của đời sau cũng diệt.

            Thập nhị nhân duyên là pháp môn mà Duyên giác tu. Bậc Thánh nhân của Duyên giác thừa thì lợi căn hơn Thanh văn thừa. Thanh văn thừa nghe Phật nói pháp Tứ đế thì ngộ nhập từ trong Khổ đế, còn Duyên giác ngộ nhập từ trong Tập đế. Cho nên Duyên giác ngộ nhập sâu sắc hơn Thanh văn thừa. Duyên giác do vô minh của Tập đế mà quán duyên khởi của Thập nhị nhân duyên, nên không tu thính pháp, tức là nương vào tự lực mà được giác ngộ, còn gọi là Độc giác, tức là Bích Chi Phật. Vì đó mà Duyên giác thừa cũng được gọi là Độc giác thừa, hoặc Bích Chi Phật thừa, lại vì cao thâm hơn Thanh văn thừa nên gọi là Trung thừa, đứng sau Phật thừa và Bồ tát thừa.

            [ Chú giải ]:

1.      Đời người được phân kỳ theo tâm lý học giáo dục như sau:

                        1/   Thời kỳ anh nhi _ thời gian sau khi sanh đầy một năm.

2/   Thời kỳ ấu nhi _ thời gian 1 tuổi đến 5 tuổi.

3/   Thời kỳ nhi đồng _ thời gian 6 tuổi đến 12 tuổi.

4/   Thời kỳ thanh niên _ thời gian 13 tuổi đến 23 tuổi.

5/   Thời kỳ tráng niên _ thời gian 24 tuổi đến 47 tuổi.

6/   Thời kỳ lão niên _ từ 47 tuổi trở về sau là lão niên.

2.      A Lại Da Thức _ tức là chủ thể của tâm. Người ta sau khi chết, A Lại Da Thức thoát ly thân thể, gọi là thân Trung ấm. Thân này đợi có duyên của cha mẹ thích hợp thì tâm thức lại đi đầu thai, chính là A Lại Da Thức.

3.      Mười hai nhân duyên và pháp Tứ đế _ nhị đế Khổ và Tập trong pháp Tứ đế là cửa lưu chuyển mười hai nhân duyên. Nhị đế: Đạo và Diệt là cửa quay về tịch diệt của mười hai nhân duyên.

4.      Thập nhị nhân duyên còn gọi là Hữu của Thập nhị hữu chi, tức là chỉ cho tất cả sở hữu của khí thế gian của năm nẻo trong tam giới. Chi tức là chi phân, nghĩa là tất cả sở hữu của lưu chuyển sanh tử  đều vì Thập nhị chi phân này mà tuần hoàn không ngừng, cũng tức là nhân duyên của lưu chuyển sanh tử.

 

XXIX    BỒ TÁT THỪA VÀ LỤC ĐỘ:

“Bồ tát” nguyên câu của Ấn Độ gọi là Bồ đề tát đỏa (BODHISATA). Bồ đề nghĩa là giác, Tát đỏa là hữu tình, tức là chúng sanh, dịch gọn là giác hữu tình, tức là chúng sanh hữu tình giác ngộ. Bồ tát không chỉ mong cầu giác ngộ chân lý và giải thoát đau khổ cho mình mà còn phải khiến cho tất cả chúng sanh đều phải cùng nhau giác ngộ chân lý và giải thoát đau khổ. Đồng thời chính mình phải là mục tiêu cầu giác ngộ cao nhất và lập chí thành Phật. (Nói theo cách tóm tắt thì Bồ đề là chúng sanh hữu tình giác ngộ, tự giác, giác tha, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh.)

            Pháp môn Bồ tát tu là Lục ba la mật, còn gọi là Lục độ, tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Biểu đồ giản lược được kê lại như sau:

   

            Trong vạn hạnh để tu Bồ tát đại thừa thì trong đó, Lục độ là pháp môn tu tập chủ yếu. Tên nguyên vẹn của Lục độ là “Lục ba la mật”. Ba la mật là tiếng Phạn, Tàu dịch là “Đáo bỉ ngạn”. Vì người tu hành bước lên thuyền đại hạnh, họ có thể từ bờ này của sanh tử khổ não mà vượt đến bờ kia của Niết bàn an lạc. Do đó Lục ba la mật còn gọi là “ø Lục độ”.

Lục ba la mật:

                        1/  Đàn na ba la mật, Tàu dịch là “Bố thí độ”, độ người tham lam keo kiệt.

                        2/ Thi ba la mật,Tàu dịch là “Trì giới độ”, độ người hủy phạm.

                        3/ Sạn đề ba la mật, Tàu dịch là “Nhẫn nhục độ”, độ người sân hận.

                        4/ Tỳ ly da ba la mật, Tàu dịch là “Tinh tấn độ”, độ người giãi đãi.

                        5/ Thiền na ba la mật, Tàu dịch là “Tư duy tu độ”, độ người tán loạn.

                        6/ Bát nhã ba la mật, Tàu dịch là “Trí huệ độ”, độ người ngu si.

            Lục độ này được phân ra có: “Sự lục độ” và “Lý lục độ”. Cũng tức là hai loại “Sự tu” và “Lý tu”. Sự tu và lý tu là nói về tướng chấp và tướng bất chấp. Sự tu, tức là thiện pháp mà sở tác, sở vi của nó đều là niệm niệm tại tâm, lại vì tướng chấp mà tu. Như thế gọi là “Sự tu”, là thiện pháp mà người thế gian tu, có thể được quả báo thiện ở thế gian, nhưng ở xuất thế gian thì không được. Lý tu là chỉ cho thiện pháp mà sở tác, sở  vi được dùng ở “ Thể không của Tam luân” để quan sát mà không chấp trước về “ Nhân, ngã, và Pháp tướng”, thì gọi là “Lý tu”. Đây là quả báo thiện ở xuất thế gian. Vì chúng ta không có thiện pháp tu tướng nên chúng ta mới có đủ khả năng hiểu rõ sanh tử  và chứng Niết bàn.

             “Lý tu” này cũng có thể nói là “Chân tu”. Vì người hành Bồ tát tu lục độ này có khả năng nhờ công phu mà quán chiếu, nên tất cả năng lực “Thể không của Tam luân” được điều khiển mà đạt đến cảnh giới cứu cánh Ba la mật, cho nên hành giả không phải chỉ có đủ năng lực gọi là tu các pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ mà thôi, nên không thể gọi là Độ, tương lai bất quá chỉ được phước báo hữu lậu của nhân thiên thì không thể đến được bờ kia Niết bàn.

            Tam luân thể không là chỉ nói về bố thí. Từ người có năng lực bố thí và người nhận bố thí cho đến vật bố thí gọi là “Tam luân”. Sau khi hành bố thí thì tướng của Tam luân này không tồn ở tâm thì gọi là Tam luân thể không. Tam luân thể không này cũng là nhờ công phu “Quán chiếu”, quán được tính chất của “Bổn tánh” của ba loại “Nhân, ngã và pháp tướng” là đều không có sở đắc, cho nên sẽ đạt đến cảnh giới vô tướng của “Tam luân thể không” thì được công đức vô hạn.

            Lục độ này đều có “Tam luân” nhưng hành giả tu lục độ phải nên biết: “Tam luân” vốn là không. Không chấp ở pháp tướng chính là hợp với “Niết bàn”. Vì đó, hành giả tu lục độ không chấp trước “Nhân, ngã và pháp tướng”, mới có thể coi là Ba la mật, mới có thể đến được bờ kia. Đây đúng là “Lý lúc độ”. Nếu như  hành giả chấp trước “Nhân, ngã và pháp tướng” mà tu, thì tương lai chỉ được phước báo nhân thiên, cuối cùng không thể vượt khỏi tam giới. Cho nên Vĩnh Gia đại sư có một bài ca về chứng đạo thật hay: “ Bố thí trì giới sanh phước Trời, giống như đón tên bắn trong hư không, thế lực hết thì tên rớt, đời sau chiêu cảm không như ý”. Đây chính là nói về việc tu hành của tướng chấp trước  “Tam luân” là vẫn còn phải luân hồi sanh tử.

[ Chú giải ]:

            Những danh từ bao gồm pháp lục độ được giải thích tóm tắt như sau:

  1. Tài thí: dùng của cải, tiền tài trợ giúp sự nghiệp từ thiện hoặc chúng sanh nghèo khổ, tật bệnh.

  2. Pháp thí: dùng chân lý Phật Đà khuyên người tu thiện đoạn ác, lìa khổ được vui.

  3. Vô úy thí: Hy sinh tất cả chính mình để giúp đỡ tất cả chúng sanh xa lìa sợ hải và thống khổ.

  4. Chữ “Trì” của trì giới nghĩa là nắm giữ. “ Giới” chính là các loại giới cấm: sát sinh, trộm cướp, dâm dục, nói các điều ác và cấm uống rượu, cờ bạc, hút nha phiến và vật có chất độc ma túy…

  5. Giới luật nghi: là lúc hành, trụ, tọa, ngọa ở mỗi việc quy luật mà Đức Phật chế lập ra đều phải giữ gìn, không phạm mọi ác pháp về thân, khẩu và thất chi.

  6.  Giới nhiếp thiện pháp: Bồ tát tu thiện mà quên mình. Hết thảy vì thiện pháp mà làm lợi ích cho nhân quần, nhiếp thọ chúng sanh.

  7.  Giới lợi ích chúng sanh: Rộng tu các việc thiện, làm lợi ích cho chúng sanh.

  8.  Sanh nhẫn: tức là nhẫn thọ việc oán hận bị người khác phỉ báng, ác mắng, gia hại mà không sanh tâm sân hận, vả lại có thể dùng lòng từ bi để cảm hóa người khác.

  9.  Pháp nhẫn: là các việc gió thổi, mưa rơi, đói kém, lạnh rét, nóng nực đều có thể an nhiên nhẫn thọ.

  10. Vô sanh pháp nhẫn: đối với chân lý Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã của Thánh giáo mà nói thì có khả năng kiên tâm tín ngưỡng và không chấp tướng.

  11. Tinh tấn: tức là ý chí kiên cường không thoái lui, nổ lực và hướng thượng.

  12.  Đoạn tinh tấn: là chỉ cho việc đoạn tất cả ác.

  13. Tu tinh tấn: là chỉ cho việc tu tất cả thiện.

  14. Cầu hóa tinh tấn: là nổ lực, trên cầu Phật quả, dưới hóa độ chúng sanh.

  15. Thiền định: tiếng Phạn là Thiền na, nghĩa là yên lặng, tư duy. Vì yên lặng có thể sanh “Định” , suy nghĩ có thể sanh  “Huệ”.

  16. Thân định: quán xét lại bản thân, khiến cho không phạm lỗi.

  17.  Khẩu định: an nhiên; yên lặng, không nói chuyện thị phi.

  18.  Ý định: nhiếp tâm chánh niệm, thanh tịnh không nhiễm.

  19.  Bát nhã: là tiếng Phạn, nghĩa là trí tuệ. Do vì có trí tuệ giác chiếu nội tâm phát ra chánh niệm mà tu thân, hành thiện, đoạn ác.

  20.  Sanh không trí: quán sát thể tánh của tất cả chúng sanh đều không có thực tại.

  21.  Pháp không trí: quán tất cả pháp đều từ nhân duyên mà sanh.

  22. Tất cả trí trí: tức là chánh trí của tất cả sự lý “Thế gian” và “Xuất thế gian”, Đức Phật đều có khả năng hiểu khắp.

  23.  Lục độ: là phước huệ song tu viên mãn như  bố thí, trì giới, nhẫn nhục là tu phước. Thiền định, bát nhã là tu huệ. Tinh tấn là lục độ khuyến khích.

XXX    TỨ VÔ LƯỢNG TÂM:

Nội tâm của Bồ tát nên có đủ Tứ vô lượng tâm, chính là bốn loại tâm vô lượng: từ, bi, hỷ, xả. Thế nào gọi là vô lượng? Vô lượng là không biên tế, cũng không có lĩnh vực nhân ngã. Bồ tát trong lúc tu tập Tứ vô lượng tâm từ, bi, hỷ, xả đối với mỗi chúng sanh, thậm chí toàn thể quốc gia, trọn cả thế giới, không kể là chúng sanh hữu tình trong loài người hay trong loài khác, họ đều hy vọng cho tất cả chúng sanh có đủ năng lực xa lìa khổ hải và đạt được an vui, đồng thời được phước báo vô lượng, cho nên gọi là vô lượng. Vô lượng lại được phân giải như sau:

1.   Từ vô lượng tâm: ý nghĩa của Từ  là mong cho người ta được vui. Người đời phần nhiều chỉ biết tự tìm khoái lạc, quên đi nỗi đau khổ của người khác. Nhưng người tu tập Từ vô lượng tâm thì khác, họ không những chỉ mong cho người thân của mình được vui vẻ, mà cho đến tất cả chúng sanh trong mười phương thế giới đều phải được vui vẻ. Người tu tập Từ vô lượng tâm này còn phải bước chân vào mãnh đất thực tế để giúp đỡ chúng sanh được an vui thì tức là “Từ” của vô lượng, là có khả năng làm cho vô lượng chúng sanh được vui.

2.   Bi vô lượng tâm: bi là một loại tâm đồng tình thương xót người khác chịu khổ. Bình thường người ta chỉ biết tự tìm cách giải trừ  đau Khổ cho mình mà không nhìn lại nỗi đau khổ của người khác. Nhưng Bi vô lượng tâm này thì ngược lại: chỉ biết cứu bạt nỗi đau khổ của người khác lại quên nỗi đau khổ của mình, nghĩa là “ Tôi không vào địa ngục thì ai vào địa ngục”. Đây là lời nguyện rộng lớn của bi tâm tựa như biển, là cứu bạt nỗi khổ của người, tức là cái “Bi” vô lượng có thể cứu bạt nỗi khổ của vô lượng chúng sanh.

3.      Hỷ vô lượng tâm: