Nội dung quyển
“Phật học Nhập môn” được biên soạn từ bộ phận nội dung Phật giáo Nhận
thức của Tịnh Không Đại Sư và Phật giáo Tùng thư của Thái Hư Đại Sư,
cùng tổng hợp với “Phật học Nhập môn thủ sách” của Phật giáo Mã Lai.
Thêm vào đó là bộ phận tư liệu trong Phật học Giáo bổn của Bồ tát Phương
Luân biên tập và mười bốn bài giảng Phật học của Bồ tát Lý Bỉnh Nam biên
soạn. Quyển sách này lại được tiến hành trùng tân chỉnh đốn, cải cách,
đánh chữ, sắp chữ và được trải qua việc cân nhắc tỉ mỉ của cư sĩ Khưu
Thục Chân. Thể chữ dễ hiểu, rõ ràng, hy vọng có thể giúp đỡ việc học tập
Phật pháp cho người mới học. Kính dâng đây với tấm lòng biết ơn của tôi.
Nội dung của
quyển sách, từ chương một đến chương tám là nói rõ Phật giáo
duyên khởi. Chương chín đến chương mười hai là khuyến khích chúng ta
phát bồ đề tâm, siêng tu Phật đạo vô thượng và cương lĩnh tu hành cùng
việc nỗ lực học tập. Chương mười ba đến chương ba mươi hai là Giảng
thuật giáo lý Phật giáo. Chương ba mươi ba đến chương ba mươi sáu là Nói
rõ nhân duyên Phật pháp diễn hóa và truyền vào Trung Quốc. Chương ba
mươi bảy đến chương bốn mươi mốt là nói về việc Giảng thuật Phật pháp ở
thế gian phải gắn liền với sự giác biết của thế gian. Nghĩa là đời sống
con người được giác ngộ nhưng không phải là tín ngưỡng tôn giáo theo
kiểu tiêu cực, trốn tránh, mê tín. Chương thứ bốn mươi hai là Giới thiệu
danh từ pháp tướng giản dị và Phật giáo thường thức có liên quan đến
quyển sách.
Phân loại như trên, chúng tôi
hy vọng môn đệ, người mới học Phật có khả năng trợ lực để nhận thức Phật
giáo và đi vào phật pháp một cách chính xác, càng trông mong tất cả
chúng hữu tình đồng phát tâm bồ đề, cùng chứng đạo vô thượng.
ĐỔNG SỰ
GIÁO DỤC PHẬT ĐÀ CƠ KIM HỘI
(Bài tựa của Giản Phong Văn
vào ngày 26 tháng 9 năm 1997)
I LỊCH SỬ
GIẢN LƯỢC PHẬT THÍCH CA MÂU NI
Từ chương
thứ nhất đến chương thứ tám là nói rõ Phật giáo duyên khởi.
1. Thái Tử
Thích Ca đản sanh:
Phật Thích Ca Mâu Ni giáng
sinh vào năm 623 trước công nguyên. Phụ thân của Ngài tên Tịnh Phạn, là
quốc vưong nước Ca Tỳ La Vệ, rất anh minh nhân từ. mẫu thân là Ma Gia
phu nhân, công chúa nước Câu Lệ, là người có trí tuệ và đức độ vẹn toàn.
Lúc bà bốn mươi lăm tuổi, mang thai thái tử, khi đã đủ mười tháng, trên
đường trở về nhà để sanh, bà hạ sanh thái tử tại vườn Lâm Tỳ Ni cách thủ
đô khoảng năm dặm. Vừa đản sanh, Thái tử có thể đi xung quanh bảy bước,
nơi Ngài dẫm lên hiện ra bảy đóa hoa sen, vả lại ngước mắt nhìn xung
quanh, một tay chỉ lên trời một tay chỉ xuống đất và tự nói một mình:
“Trên trời dưới đất chỉ có ta được Tôn thôi”. Theo truyền thuyết thời đó,
trên trời hoa hương phất phới rơi xuống, từ xa có chín con rồng phun
nước tắm cho thái tử. Cha mẹ tuổi già được người con, vui mừng không thể
tả. Sau khi đưa thái tử về cung, cả nước tiến hành lễ chúc mừng. Có tu
sĩ A Tư Đà đến thăm, Ông nói thái tử có tướng mạo trang nghiêm và dự
đoán rằng tương lai thái tử có thể làm Phật đà – Bậc Nhất thiết trí học
rộng hoặc là Chuyển luân thánh vương, thống nhất toàn thế giới. Phụ
vương đặt hy vọng rất sâu dày nơi thái tử, cho nên thỉnh riêng giáo đồ
Bà La Môn nổi tiếng để chọn cho thái tử cái tên. Đó là Tất Đạt Đa, có
nghĩa là tất cả công đức thành tựu và kiết tường.
[Chú giải]
1/ A Tư Đà
là tu sĩ theo giáo pháp Bà La Môn. Lúc thái tử Tất Đạt Đa chưa giáng
sanh, vị tu sĩ A Tư Đà trong cảnh giới thiền định thấy thiên nữ hiện ra
chuẩn bị làm tướng thùy rải hoa trong khi thái tử giáng sinh (Tướng
“thùy” là tiếng Phạn còn gọi là thùy ứng, kỳ thùy, tường thùy, linh thùy,
tức là hiện lên điềm vui vẻ chúc mừng).
2/
Chuyển luân thánh vương
là người có phước đệ nhất thế giới. Có bốn loại phước báo:
a)
Có rất
nhiều tài nguyên trân bảo, tài vật, đất đai – là đệ nhất thiên hạ.
b)
Tướng mạo
trang nghiêm đoan chánh, đủ ba mươi hai tướng.
c)
Thân thể mạnh khỏe không bệnh
và yên ổn vui vẻ.
d)
Thọ mệnh lâu dài – là đệ nhất thiên hạ.
Lúc Chuyển luân Thánh vương
xuất hiện thì thiên hạ thái bình, nhân dân yên ổn, không có thiên tai,
nhân họa. Đây chính là do trong đời quá khứ, Thánh vương phần nhiều tu
phước nghiệp, mà không tu huệ nghiệp xuất thế thì chỉ có thể trở thành
đại vương có phước báo thống trị thế giới, lại không thể tu hành ngộ đạo
chứng quả.
2.
Thời đại ấu niên và thiếu niên:
Thái tử Tất Đạt Đa đản sanh
được bảy ngày thì mẫu hậu qua đời. Di mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề là kế hậu
của vua Tịnh Phạn, nuôi dưỡng thái tử, yêu thương Ngài xem như con ruột,
khiến cho thái tử lớn lên và sinh hoạt trong hạnh phúc dễ chịu như xưa.
Lúc bảy
tuổi, thái tử bắt đầu đọc sách, vua Tịnh Phạn mời danh sư dạy thái tử
học tập tiếng Phạn, nghiên cứu đọc ngũ minh và tứ phệ đà từ cạn đến sâu.
Thái tử thông minh nghe một biết mười. Không mấy năm (Lúc mười hai tuổi)
Ngài tinh thông tất cả việc học vấn. Sau đó, thái tử lại học binh pháp
và võ thuật cũng đều được rất thông thạo. Có một lần trong hội thi võ
của con em vương gia, thái tử đã biểu diễn cuộc đọ sức ưu việt với võ
nghệ và cuộc bắn tên hơn người. Người giỏi nhất trong các vương tử, bắn
một mũi tên chỉ có thể xuyên thủng ba trống, trong khi đó một mũi tên
của thái tử lại có thể xuyên qua cả bảy trống.
Lúc mười sáu tuổi, Phụ thân
lệnh cho thái tử kết hôn. Người mà Thái tử cưới là công chúa nước láng
giềng, tên Gia Du Đà La, sau đó, sinh ra cậu bé tên La Hầu La. Khi La
Hầu La mới lọt lòng, thì Thái tử thở dài rằng: “La Hầu La có tướng thị
giả hộ trì chính pháp”. Ý nghĩa gốc là La Hầu La là sợi dây xích nằm ở
cổ phụ thân.
Vua Tịnh Phạn rất thương thái
tử và hy vọng Người kế thừa ngôi vua. Cho nên vua đặt biệt xây cho Người
cung điện ba mùa (Lạnh – Nóng – Âm) và chọn nhiều cung nhân mỹ nữ hầu hạ
để khiến thái tử trải qua đời sống khoái lạc. Nhưng thái tử Tất Đạt Đa
lại không cảm nhận đựơc hứng thú đối với mọi phú quý khoái lạc của thế
gian này.
[Chú giải]
1/ Ngũ minh
a)
Thanh minh
ngữ văn học
b)
Công xảo
minh – công nghệ học
c)
Y phương
minh – y dược học
d)
Nhân minh –
luân lý học
e)
Nội minh
tông giáo học
2/ Tứ phệ đà:
(Phệ đà tiếng Phạn là Veda, là ý nghĩa minh trí).
a)
Lợi câu phệ
đà – ca ngợi tông giáo.
b)
Sa ma phệ
đà – văn tụng về nghi thức tế tự.
c)
Dạ nhu phệ
đà –lời ca về nghi thức tế tự
d)
A xà bà phệ
đà – chú thụât tương truyền thế tục.
3. xuất gia:
Thái tử
Tất Đạt Đa là một vương tử, nhưng Ngài nhìn thấy sự đãi ngộ không bình
đẳng của bốn giai cấp Ấn Độ đương thời thì rất không hài lòng. Ngài
thường nghĩ: “Thủ Đà La vì sao làm nô lệ? Lẽ nào họ không phải là người
sao? Có biện pháp gì để khiến họ có được đời sống tự do bình đẳng?”.
Có một lần,
thái tử Tất Đạt Đa theo Phụ vương đi đến miền quê du ngoạn. Nhìn thấy
nông phu ở đồng ruộng, thân trên không có mặc áo, lại phơi mình dưới ánh
nắng gay gắt, toàn thân là bùn lầy, mồ hôi nhễ nhại và thở hì hụt. Trên
cổ của con trâu cày thì có sợi dây thừng ghì lại làm cho da trâu bị trầy
và chảy máu, lại còn bị người nông phu quất roi. Trên phần đất đã đựơc
cày thì lộ ra nhiều con trùng nhỏ, chim se sẻ bay đến giành nhau để mổ
ăn. Thái tử sanh tâm đồng tình và khởi lòng từ bi, cảm thâý bần dân vì
muốn sinh tồn mà bị thống khổ biết bao! Lại vì sinh mệnh mà đấu tranh
tàn sát lẫn nhau. Đúng là một màn bi kịch lớn! Ngài bèn ở dưới gốc cây
đại thọ mà lặng lẽ suy nghĩ: “Nên làm thế nào để giúp đỡ họ, để mọi
người có được đời sống hợp lý?”. Thái tử suy nghĩ đến nỗi mê say, suýt
nữa quên trở về cung. Sau đó, Ngài ra khỏi bốn cửa thành để du ngoạn,
tình cờ thấy được tình huống thống khổ của người già, người bệnh, người
chết, lại thấy được tinh thần khoái lạc của tu sĩ xuất gia. Nhân các
khoảng tư duy này, Ngài biết con người thế nào cũng không tránh khỏi
cảnh khổ đau: già, bệnh và tử vong. Vả lại, tất cả chúng sanh vì cầu sự
sanh tồn của họ mà bèn gây ra tội lỗi chồng chất, thậm chí tàn sát lẫn
nhau một cách không thương tiếc, tạo thành vô số bi kịch. Kết quả, con
người vẫn hướng về con đường già – bệnh – chết mà đi. Trong kiếp sinh
mạng thảm kịch này thì đời sống con người không hợp lý với mâu thuẫn đó.
Vậy nên, làm thế nào để giải thoát khỏi khổ đau?.
Những vấn
đề này khiến thái tử không thể an trú ở cung vua mà hưởng thụ những tôn
vinh và phú lạc. Cuối cùng, trong một đêm trăng tròn sáng rực của năm đó
lúc ngài 29 tuổi, Ngài hạ quyết tâm lớn nhất từ bỏ ngôi vị phú quý, cha
mẹ, vợ con mà chỉ đem người hầu Xa Nặc và cưỡi con bạch mã Kiều Đẫu,
nhẹ nhàng rời bỏ cung vua. Ngài vượt qua dòng sông A Nô Ma đến thâm sơn
với cánh đồng bát ngát để tìm cầu chân lý giải thoát khổ đau cho người
đời.
[Chú giải]
1/ Bốn
giai cấp của ấn độ
a)
Bà la môn
b)
Sát đế lợi
c)
Phệ xá
d)
Thủ đà la
2/ Sông A Nô Ma (River Anoma)
là con sông nhỏ tích tụ phù sa trải qua hơn hai ngàn năm. Hiện nay, hình
như không có mưa. Sông đã cạn. Lúc thái tử Tất Đạt Đa rời cung vua, đã
đi qua lưu vực sông này, men theo bờ và đi hướng về phía trước, lại vượt
qua Phía nam của dòng sông này mà ngấm ngầm tìm đạo.
4 .Quá trình
tu hành:
Sau khi
thái tử Tất Đạt Đa xuất gia, Ngài tự tay cắt rơi mái tóc bên bờ sông A
Nô Ma, rồi khoác lên người chiếc áo Cà sa và bảo Xa Nặc mang áo, mão và
bạch mã trở về cung, Xa Nặc khóc nghẹn ngào, bạch mã hí lên tiếng đau
thương vì không muốn rời bỏ Thái tử.
Vua Tịnh
Phạn trông thấy xa nặc trở về, lại nhìn không thấy thái tử cùng về thì
đau buồn vạn phần. Lập tức nhà vua điều khiển đại thần đi tìm Thái tử
trở về. Nhưng ý chí xuất gia của Thái tử rất kiên quyết, Ngài nói với
đại thần đến tìm Ngài rằng: “Tôi nếu như không giác ngộ chân lý (thành
phật) thề không trở về cung.” Quốc vương không còn cách nào khác đành
phải chọn năm thanh niên trong thân tộc đi theo hầu thái tử tu hành.
Thái tử
hướng về cánh đồng mênh mông mà đi về phía trước. Ngài tiến vào rừng khổ
hạnh của vị tiên Bạt Già. Trông thấy những người khổ hạnh đó vì cầu sanh
thiên mà tu nhiều khổ hạnh, Ngài cảm thấy không phải là chánh đạo và lập
tức phải rời khỏi nơi đây. Vị tiên khổ hạnh thấy chí đạo của Ngài khác
thường mới nói với Ngài: “hãy đến rừng khổ hạnh phía nam sông Hằng để
tìm danh sư, chắc chắn có thể đạt đến nguyện vọng”. Thế rồi, thái tử đi
hướng phía nam vượt qua bờ nam sông Hằng và đến nước Ma Kiệt Đà, và Ngài
ở trong thành Vương Xá khất thực. Sau khi khất thực Ngài đi về nham động
Ban Đạt, thuộc đảo Bali (Inđônêxia).
Vua Tần Bà Sa La biết được, vua một mình đến nham động Ban Đạt, đảo Bali
để hỏi thăm thái tử và mời thái tử đi vào cung, cúng dường tất cả thức
ăn, vật uống, yêu cầu được nhường ngôi cho thái tử, với tặng một nửa đất
nước cùng tài vật cho thái tử và khuyên Ngài hoàn tục. Vì ý chí tu đạo
kiên định, nên thái tử không tiếp nhận. Vua Tần Bà Sa La rất kính phục,
nói với thái tử rằng: “nếu như Ngài thành Phật thì đừng quên độ tôi”.
Thái tử nói: “đại vương, tôi nhất định có thể làm theo tâm nguyện của
ông”. Thế rồi thái tử từ biệt vua Tần Bà Sa La, theo con đường thẳng nhỏ
của rừng khổ hạnh lại đi tìm danh sư. Thái tử cùng năm người hầu hướng
tới phía trước của cuộc hành trình đi tìm chân lý. Ngài hỏi thăm nhà sư
tông giáo nổi tiếng lúc bấy giờ là A La La Ca Lan và Uất Đà ca La Ma
Phất, nhưng học thuyết của họ đều không viên mãn, không có khả năng đáp
ứng hy vọng của thái tử. Ngài bèn lìa họ và di thăm dò nơi khác.
Thái tử ở
thôn U Ru Ve La nơi gần sông Ni Liên Thiền mà tu khổ hạnh. Trải qua đời
tu sáu năm rất khắc khổ, hàng ngày ăn lúa mè, thân thể gầy ốm, tứ chi
mất sức. Sau đó, Ngài tự biết khắc khổ quá đáng thì không thể hoạch được
chân lý. Ngài bèn bỏ khổ hạnh mà nhận cháo sữa của Su Ja Ta, cô gái chăn
bò, Ngài đã khôi phục sức khỏe. Năm người theo hầu cho rằng thái tử đã
mất đạo niệm, nên không theo hầu nữa. Thế rồi, thái tử đến sông Ni Liên
Thiền để tắm gội. Chất ô uế sáu năm qua đã được rửa sạch, Ngài đặt quyết
tâm là phải truy cầu chân lý cho thật viên mãn.
5. Thành đạo:
Thái tử
Thích Ca một mình vượt qua sông Ni Liên Thiền, Ngài đi đến cây bồ đề Ca
Da gần núi Ca Da, lúc bấy giờ có đồng tử cắt cỏ, là người đầu tiên lấy
cỏ trải một tòa ngồi cho thái tử dưới cây bồ đề. Thái tử liền tĩnh tọa
phía trên tòa cỏ. Ngài phát ra lời thệ nguyện kiên cường: “Tôi không
thành chánh giác, thề không rời khỏi tòa này”. (Kinh phật gọi tòa này là
Kim Cang Tọa).
Trải qua đêm khuya của ngày thứ bảy, truyền thuyết cho rằng lúc này thái
tử trong thiền định thấy hiện ra cảnh ma nhiễu loạn. Tức là ma vương Ba
Tuần sai khiến ma nữ đến dụ hoặc Ngài và phát động ma binh, ma tướng đến
đe dọa. Nhưng trước sau gì cũng không phá nổi những gì ma vương Ba Tuần
làm Thái tử dao động. Kết quả là ma vương bị hàng phục. Truyền thuyết
này chính là nói rõ trong quá trình tâm lý thì Ngài đã khắc phục được
tình dục và uy thế trong nội tâm.
Sau khi
hàng phục được ma vương, thái tử tập trung toàn lực tinh thần để vươn
lên. Ngài vận dụng trí tuệ tối cao để suy nghĩ vấn đề chúng sanh đại địa.
Cuối cùng vào nửa đêm đó (năm 588 trước công nguyên). Ngài được ba mươi
lăm tuổi. Nhìn thấy minh tinh xuất hiện, Ngài chợt thông suốt giác ngộ
tất cả chân lý và hoàn thành vô thượng chánh giác. Từ đó, người đời tôn
xưng Ngài là Phật Đà. Thánh hiệu chính là Thích Ca Mâu Ni Phật.
Chân lý mà
Phật Đà giác ngộ là gì?. Điều quan trọng nhất là: Lý Pháp Duyên Khởi. Vũ
trụ nhân sinh chính là từ duyên khởi mà có. Vạn pháp là do nhân duyên
hòa hợp cùng nương theo mà tồn tại. Ví du: Thân thể chúng ta là do cha
mẹ dưỡng dục là duyên, mà sinh mệnh là nghiệp lực của mình mang đến là
nhân. Nghiệp lực phiền não của chúng ta là do quá khứ của mình tạo ra,
cho nên chúng ta chịu sự chiêu cảm quả báo của thân thể này. Đã có đời
sống thân thể quả báo, như thế già, bệnh, chết thì không thể tránh khỏi;
cho nên, phải giải thoát nỗi thống khổ của sanh lão bệnh tử. Chỉ có tu
đạo mới đoạn trừ được “Vô minh”, vì vô minh là phiền não căn bản.
Lúc Phật
đà thành Phật dưới gốc cây bồ đề, Ngài nói rằng: “Lạ thay, lạ thay,
chúng sanh trong đại địa đều có đức tướng trí tuệ của Như Lai, nhưng vì
vọng tưởng chấp trước mà không thể chứng đắc”. Điều này chính là nói tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật mà không có nguyên
nhân và khả năng thành Phật là vì vô minh phiền não chướng nó che lấp
Phật tánh. Vì vậy, việc thành đạo của Phật đà là việc liễu ngộ duyên
khởi, đoạn trừ vô minh, huệ quang soi sáng, Phật tánh hiển hiện, nội tâm
thanh tịnh, và Ngài đã thắp lên hào quang chân lý, chiếu diệu nhân gian.
6. Nhiệm vụ
thuyết pháp tế độ chúng sanh:
Sau khi Phật đà thành đạo, Ngài bắt đầu công việc thuyết pháp tế độ
chúng sanh.
Lúc đầu, Ngài đến vườn Lộc Uyển giáo hóa năm người Kiều Trần Như
v.v… Sau khi họ nghe Phật thuyết về Pháp Tứ Đế thì đắc đạo và trở thành
năm vị Tỳ kheo. Đây là Tăng già có sớm nhất trong lịch sử Phật giáo.
Lại có Da Xá, con ông Trưởng lão Câu Lê Ca nước Ba La Nại và năm
người đều là bạn, cùng theo Phật xuất gia. Trưởng giả Câu Lê Ca và phu
nhân cũng đến quy y Phật đà, họ trở thành Ưu bà tắc và Ưu bà di sớm nhất.
Tiếp theo đó, Phật đà một mình lên núi Ca Da hóa độ ba anh em Ca
Diếp. Ba người này là lãnh tụ giáo đồ thờ lửa. Người anh cả tên Ưu Lâu
Tần Loa Ca Diếp có năm trăm đồ chúng, em thứ hai là Già Da Ca Diếp có
hai trăm năm mươi đồ chúng, và em thứ ba là Na Đề Ca Diếp cũng có hai
trăm năm mươi đồ chúng, cộng chung là một ngàn đồ chúng. Họ tập hợp đến
để xuất gia và hết sức đề cao thanh danh của Phật đà. Phật đà dẫn ba anh
em Ca Diếp và đồ chúng ngàn người đi đến nước Ma Kiệt Đà. Vua Tần Bà Sa
La cung kính nghinh tiếp, đảnh lễ quy y, mà còn kiến trúc tinh xá Trúc
Lâm hiến dâng cho Phật đà và chúng Tỳ kheo. Đây là một tòa tự viện đầu
tiên trong lịch sử Phật giáo, cũng là cơ sở thuyết pháp của Phật đà ở
phía nam Ấn Độ xưa.
Phật đà thuyết pháp tại tinh xá Trúc Lâm thì có giáo đồ nổi tiếng
trong thành Vương xá là Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, cũng do sùng bái
chân lý duyên khởi của Phật đà thuyết, mà kết hợp với hai trăm người đồ
chúng của họ theo Phật xuất gia. Xá Lợi Phất thì đệ nhất trí tuệ, Mục
Kiền Liên thì đệ nhất thần thông, họ đều trở thành trợ thủ chuyển pháp
luân của Phật đà.
Không bao lâu, có con của trưởng giả rất giàu có của nước Ma Kiệt
Đà tên là Ma Ha Ca Diếp đến quy y Phật đà và trở thành đệ nhất đầu đà.
Sau đó, Phật đà Niết bàn, ông được truyền thừa bình bát mà Phật đà để
lại.
Trưởng giả Tu Đạt Đa quy y Phật đà và xây dựng tinh xá Kỳ Viên ở
thành Xá Vệ nước Kiều Tát La, ông hiến dâng đạo tràng cho Phật đà thuyết
pháp. Tự viện này to lớn hơn tinh xá Trúc Lâm, là cơ sở thuyết pháp của
Phật đà ở phía bắc. Vua Ba Tư Nặc và hoàng hậu Mạt Lợi của nước Kiều Tát
La cũng đều đến quy y Phật đà và trở thành tín đồ Phật giáo hộ pháp
trung thành của Phật đà.
Năm thứ sáu, sau khi Phật đà thành đạo, Ngài trở về nước thăm phụ
thân già yếu. Di mẫu của Ngài là Ba Xà Ba Đề và mấy người em họ như A Nan
Đà v.v… và La Hầu La cũng tin Phật, sau này đều đã xuất gia. Vào một năm
đó, lúc vua Tịnh Phạn tuổi thọ chín mươi ba và lâm bệnh nặng. Phật đà
một mình lại trở về nước thuyết pháp cho phụ vương lúc lâm chung, tiễn
đưa, chôn cất và bố thí tài vật tỏ lòng hiếu kính.
Phật đà là người an ủi và là người cứu hộ của đại chúng. Ngài xem
mọi người như là cha mẹ, con trai, con gái của mình để mà thương yêu và
bảo vệ. Ngài giúp Tỳ kheo bị bệnh rửa vết thương, giúp Tỳ kheo già xâu
kim may vá. Gia tộc Thích Ca và gia tộc Câu Lợi tranh giành nước uống,
Ngài không từ khổ nhọc, đưỡng xá xa xôi, Ngài chỉ riêng một mình đi đến
giúp họ điều giải. Tỳ Xá Ly bị bệnh dịch lưu hành, Phật đà không sợ
truyền nhiễm, Ngài đích thân đi vào thành để an ủi người bệnh, giáo hóa
bệnh nhân, vả lại hướng dẫn họ về phương pháp chính trị và dân chủ mà
một quốc gia cần phải có.
Phật đà dùng thái độ từ bi vô úy thâm nhập nhân gian để
truyền bá chân lý Trung đạo. Phàm người nào đã tiếp xúc với Ngài, Người
nào đã nghe Ngài thuyết pháp thì không ai mà không được cảm hóa sâu sắc
và tín ngưỡng một cách chân thành.
Tín đồ Phật đà từ quốc vương, hậu phi, đại thần cho đến bần dân,
hành khất, nô lệ, mỗi một tầng lớp trong xã hội, Ngài đều trang trãi cho
họ và chuẩn bị đầy đủ những gì họ cần phải có. Đây là sự biểu hiện tính
vĩ đại của Phật đà về việc đề xướng bình đẳng, lòng từ bi để cứu độ
chúng sanh.
[Chú giải]
1/
Ưu bà tắc:
là cận sự nam, tức là cư sĩ ở nhà thọ ngũ giới.
2/ Ưu bà di:
là cận sự nữ, tức là cư sĩ ở nhà thọ ngũ giới.
3/
Đầu đà:
tức là khổ hạnh.
4/
Nhân duyên Da Xá quy y Phật đà:
Da Xá là
con trai của trưởng giả Câu Lê Ca ở thành Ca Thi. Người này trải qua đời
sống phú lạc, nhưng vì đam mê tửu sắc nên khốn khổ bất an. Có một lần,
sau khi tan buổi tiệc xa xỉ, ông đã uống say và trở về nhà nằm ngủ, nửa
đêm nằm thấy ác mộng. Sau khi tỉnh dậy, ra ngoài phòng nhìn thấy cô vũ
nữ, người tình của ông đang trêu đùa cùng một nhạc sư, nhân đó, ông bị
ngọn lửa sân thiêu đốt, thần kinh điên đảo, ông liền rời khỏi gia đình,
điên cuồng chạy rảo như kẻ mù không biết đường đi. Mãi đến Trời gần sáng,
ông đi đến bờ sông gần vườn Lộc Uyển gặp Phật và than khổ. Ông được pháp
âm an ủi của Phật đà ban cho, thì tinh thần của ông mới được khôi phục
và ổn định. Do nhân duyên này, ông và cha mẹ ông đều quy y Phật đà.
Không bao lâu, Da Xá xuất gia và bạn của ông năm mươi người cũng đến
theo Phật xuất gia.
5/ Phật
đà hóa độ ba anh em Ca Diếp:
Phật đà
đến núi Ca Da, trước tiên Ngài hóa độ Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp. Trên núi
này có một hang của con rồng lửa, rồng thường hại người, các ngoại đạo
không dám đến gần rồng. Đức Phật lại đi hướng về hang rồng của Ưu Lâu
Tần Loa Ca Diếp mà tá túc. Vào ngày mai, các ngoại đạo đi đến xem, thấy
Đức Phật đã đem rồng lửa về hàng phục. Các ngoại đạo bèn kính tin và quỳ
trước Phật, cùng với năm trăm đồ chúng của họ đều nghe pháp và chứng quả.
Thế rồi họ lấy vật của ngoại đạo dùng mà bỏ xuống sông, vật trôi xuống
hạ lưu. Già Da và Na Đề đang bơi dưới sông, thấy vật trôi thì kinh dị,
sợ anh mình bị người hại, mới dẫn đệ tử đi thăm dò, vì nhân duyên này mà
cũng được gặp Phật nghe pháp xuất gia. Mỗi người đều có đồ chúng hai
trăm năm mươi người cũng xuất gia theo.
6/ Phật
đà hóa độ vua Tần Bà Sa La:
Phật đà
dẫn ba anh em Ca Diếp và đồ chúng của họ ngàn người đi đến nước Ma Kiệt
Đà, vua Tần Bà Sa La cung kính nghinh tiếp Ngài và cho hoàng hậu Vi Đề
và văn võ quan chức đều quy y Phật đà. Phật đà thuyết ngũ pháp riêng cho
họ:
a. Bố thí: là phân phối tài vật mà mình có với
tư cách là tự lợi, lợi tha. Đặc biệt là bố thí công đức mới được phước
báo, hoạch được phú quý.
b.
Trì giới: là phải tu trì ba nghiệp thân, khẩu, ý cho thanh tịnh.
c.
Quả báo: là nói rõ công đức bố thí, trì giới, mới có thể sanh thiên.
d.
Nhân ác: nói rõ tham dục là làm ác, không thể thoát khổ.
e.
Tu hành: là phải tu tâm, học giới, định, huệ mới có thể đạt đến chỗ ly
khổ đắc lạc.
7/ Xá
Lợi Phất và Mục Kiền Liên :
Xá Lợi
Phất: “Xá Lợi” Tàu dịch là thu lộ, “Phất” là tử (vì mẹ của ông là nữ
luận sư Bà La Môn ở thành Vương Xá, nước Ma Già Đà, lúc sanh sản, mắt
của bà tựa như chim Xá Lợi, bà mới cho bà là Xá Lợi. Vì vậy, ông có tên
là Xá Lợi Phất (tức là con của Xá Lợi). Cho nên ông được gọi là Xá Lợi
Phất, hoặc là Xá Lợi Tử, còn gọi là Thân Tử. Ban đầu, ông là người ngoại
đạo, giữa đường gặp tỳ kheo Ma Đằng và được nghe giảng về pháp lý Nhân
duyên, ông liền mời bạn tốt của mình là Mục Kiền Liên theo Phật xuất gia.
Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên là hai vị đại đệ tử của Phật trước khi Phật
nhập diệt.
8/ Ma Ha Ca Diếp:
“Ma Ha”, Tàu dịch là “Đại”, cũng gọi là Đại Ca Diếp là một
trong mười đại đệ tử của Phật. Thân có ánh sáng màu vàng kim, lấp lánh
chiếu và khiến các ánh sáng khác bị che lấp, cho nên cũng gọi là “Đại ẩm
quang”. Lúc ông chưa xuất gia, gia cảnh giàu có, vì căn thiện đời trước
có sẵn nên ông sớm phát nguyện tu đạo. Tuy cha mẹ của ông cưới người con
gái đẹp cho ông làm vợ, nhưng ông lại giao ước với vợ là chỉ trên danh
nghĩa vợ chồng thôi. Sau khi nghe Phật thuyết pháp ở tinh xá Trúc Lâm,
được Phật đà quy y cho ông, ông tu trì khổ hạnh đầu đà và trở thành đệ
nhất đầu đà. Sau đó, Đức Phật niêm hoa trước chúng, Đại Ca Diếp lãnh hội
được ý Phật mà mĩm cười. Ông thọ nhận Nhãn tạng chánh pháp, được truyền
tâm ấn của Phật và trở thành sơ tổ của thiền tông.
9/
Trưởng giả Tu Đạt Đa:
Là đại thần của vua Ba Tư Nặc, ông thích làm công việc thiện, giúp đỡ
người cô quả bần cùng, lại được gọi là Trưởng giả Cấp Cô Độc. Lúc ông
đến thành Vương Xá để thăm bạn, một mình đi bái kiến Phật đà, và thỉnh
Phật đi đến thành Xá Vệ tuyên giảng Phật pháp. Ông một mình hướng về
vườn hoa thái tử Kỳ Đà để mua đất, xây dựng tinh xá Kỳ viên cúng dường
Phật đà làm đạo tràng thuyết pháp. Nhân đó, ông được thái tử Kỳ Đà tặng
cây trong vườn hoa, cho nên tinh xá Kỳ Viên còn gọi là “Kỳ Thọ Cấp Cô
Độc viên”
10/ Vua Ba Tư Nặc quy y Phật đà:
Ba Tư Nặc, quốc vương của nước Kiều Tát La, biết Thái tử Kỳ Đà, con của
ông đem vườn hoa thành Xá Vệ ở Thủ đô bán cho trưởng giả Tu Đạt Đa để
xây dựng tinh xá Kỳ Viên cúng dường Phật đà, ông sớm đã ngưỡng mộ trước
Phật đà. Có một hôm, ông dẫn dắt năm trăm quan đại thần đến tinh xá để
bái kiến Phật đà. Vua Ba Tư Nặc hỏi: “Nghe nói ông là một vị Phật đà đại
giác ngộ, cho nên tôi đến để bái kiến. Nhưng tôi cảm thấy có nhiều người
tu đạo, tu hành lâu năm ở trong tùng lâm núi sâu, mãi đến tuổi già yếu
vẫn không thể giác ngộ. Ngài thì trẻ tuổi thế này, làm sao mà đạt đến
chánh giác?”. Phật đà đáp rằng: “Trên thế giới có bốn việc không thể xem
nhẹ. Tức là:
a)
Vương tử
lúc nhỏ tuổi sẽ là đại vương thống trị quốc gia trong tương lai.
b)
Rồng nhỏ
lúc mới sanh là rồng lớn của vị lai.
c)
Lửa đốm
nhỏ có thể thiêu cháy cánh đồng.
d)
Tăng lữ
trẻ tuổi chỉ cần tâm có thể thanh tịnh, giữ gìn đạo nghiệp, hoằng pháp
lợi sanh, bất luận già trẻ, giàu nghèo đều có khả năng đạt đến chánh
giác.
Cho nên, bốn việc trên thật là không thể xem thường.”
Phật đà lại hướng về vua Ba Tư Nặc nói rõ về Phật tánh
bình đẳng: “Mỗi người chỉ cần đoạn ác tu thiện, chuyển mê thành ngộ, đều
có thể thành Phật. Sau khi vua nghe, rất tin phục, bèn quy y Phật đà và
trở thành đại hộ pháp trung thành của Phật giáo.
11/
Phật đà trở về nước và các vương tử xuất gia:
Các
vương tử A Nan Đà, Đề Bà Đạt Đa, A Na Luật, Bạt Đề, Bà Sa theo Phật xuất
gia. Em ruột của Phật đà là Nan
Đà và con là La Hầu La trước sau đều theo Phật xuất gia.
12/
A Nan Đà:
Tàu dịch
là “Khánh Hỷ” có tướng mạo trang nghiêm, sức trí nhớ rất dai, hai mươi
lăm năm làm thị giả Đức Phật, là đệ nhất đa văn.
7. Niết bàn (viên tịch):
Phật đà
thuyết pháp bốn mươi lăm năm, bôn ba nơi pháp tòa không chút rãnh
rỗi cho nhục thể, chân dẫm lên khắp hai bờ sông Hằng. Năm đó, Ngài được
tám mươi tuổi, từ nước Ma Kiệt Đà đến Tỳ Xá Ly, Ngài làm sự giáo huấn
một lần sau cùng. Lúc này thân thể Phật đà bị nhiễm bệnh, tự biết sẽ
Niết bàn nội trong ba tháng, mà Ngài còn đi dần về phía trước. Mỗi lần
đi qua một thôn trang, Ngài bèn lợi dụng thời gian để nghỉ ngơi, rồi
hướng về thôn dân để thuyết pháp. Ở thôn Ba Bà, Ngài tiếp nhận sự cúng
dường sau cùng của người thợ kim thuộc tên Thuần Đà (thợ sắt). Xu hướng
bệnh của Ngài càng nặng. Thế rồi, Ngài lại đi bộ đến cây Sa La Song Thọ
ở ngoại thành Câu Thi Na La, Phật đà chọn nơi khoảng giữa của hàng Sa La
Song Thọ làm chỗ nhập Niết bàn.
A
Nan Đà đã trải xong Y Tăng Già Lê (đại y) của Phật đà. Lúc Ngài hạ hông
bên phải để nằm xuống, thì A Nan Đà phủ kín Y Tăng Già Lê cho Phật đà và
Phật đà đã mỏi mệt không kham được. Lúc đó, một vị ngoại đạo tên Tu Bạt
Đà La (Subahadra) đến xin gặp, Phật đà lại phấn chấn tinh thần nghiêng
về phía ông mà thuyết pháp và ông trở thành đệ tử hóa độ sau cùng. A Nan
Đà v.v… theo làm thị giả Phật đà, thấy xu hướng bệnh của Ngài trầm trọng
mười phần khó qua. Đức Phật nói với A Nan Đà v.v… rằng : “Ta khó qua
khỏi, các con hãy tin tưởng và can đảm phó thác mình, hãy mau nắm đèn
chân lý, hãy cầu giải thoát trong chân lý”. A Nan Đà ba phen thỉnh Phật
ở đời, Phật đà đáp: “Tự tánh của vạn pháp vẫn quy về ở sự tịch diệt. Ai
ai có sanh ắt có tử, nhục thể của ta làm sao vĩnh viễn tồn tại? Sinh
mệnh của ta chấm dứt ở đây, ắt phải theo pháp tánh tự nhiên mà quy về
tịch diệt”. Các vị La Hầu La, A Nan Đà và A Na Luật nghe rồi đều không
ngăn được dòng lệ! Thế rồi, chúng đệ tử cùng đề cử A Nan Đà thỉnh vấn
Phật đà bốn vấn đề:
1/ Lúc Phật đà ở đời, chúng con nương
theo Phật đà làm thầy. Sau khi Phật đà Niết bàn, chúng con nương theo ai
để làm thầy?
2/ Lúc Phật đà ở đời, chúng con
nương theo Phật đà an trụ. Sau khi Phật đà Niết bàn, chúng con nương vào
đâu để an trụ?
3/ Lúc Phật đà ở đời, Tỳ kheo
tánh ác có Phật đà điều phục. Sau khi Phật đà Niết bàn, Tỳ kheo tánh ác
được điều phục như thế nào?
4/ Lúc Phật đà ở đời, ngôn giáo
của Phật đà khiến mọi người dễ sanh lòng tín giải. Sau khi Phật đà Niết
bàn, kinh điển kiết tập như thế nào mới có thể khiến cho người khởi tin?
Phật đà nói: “Ta đáp lại cho các con bốn vấn đề, các con cố
gắng nhớ:
1/ Sau khi ta Niết bàn nên dựa
theo giới luật làm thầy.
2/ Sau khi ta Niết bàn nên dựa
theo Tứ niệm xứ an trụ.
3/ Sau khi ta Niết bàn, tỳ kheo
có tánh ác nên “Tránh xa” (không vãng lai và đàm thoại với họ), hãy để ý
điều này.
4/ Sau khi ta Niết bàn, các câu ở
đầu câu của tất cả kinh điển nên để “Như thế, tôi nghe” để làm chứng tín.”
A Nan Đà và chúng đệ tử bên thân Phật đà rơi lệ. Phật đà an ủi, giống
như con thuyền từ mẫu rằng: “Các con đừng bi thương, giáo pháp mà ta nói
một đời rất nhiều, chỉ cần các con y theo để thực hành, thì chính là
pháp thân của ta vĩnh viễn ở thế gian này”. Ngài còn nói: “Tất cả chúng
sanh đều có Phật tánh, đều sẽ thành Phật. Người siển đề đoạn trừ thiện
căn cũng có thể thành Phật”. Nửa đêm trăng tròn tháng năm, Ngài đã nhập
Niết bàn một cách thong dong an tĩnh.
Quốc vương nước Câu Thi Na La và các chúng đệ tử của Phật
đà đã cử hành lễ hỏa táng rất long trọng cho Phật đà. Xá Lợi của Phật do
quốc vương của tám nước thỉnh để xây tháp cúng dường. Các tháp Xá Lợi
này, mãi đến bây giờ vẫn còn lưu lại ở nhân gian, mà tinh thần từ bi cứu
tế một đời của Phật đà vĩnh viễn cho chúng ta ngưỡng mộ và sùng bái.
[Chú giải]:
1/
Phạn ngữ
“Niết bàn”, Tàu dịch là “Viên tịch”, tức là tất cả trí đức được viên mãn,
tất cả hoặc nghiệp đều tịch diệt.
2/
Phạn ngữ “Xá Lợi”, Tàu dịch là linh cốt hoặc là kiên cố tử, là công đức
tu Giới, Định, Huệ kết tinh mà thành.
8. Chân lý tôi viên mãn:
Phật Đà đem chân lý giác ngộ của Ngài thuyết ra, để chỉ rõ
cho chúng ta phương pháp thế nào là làm người? Và do làm người như thế
nào mới thành Phật? Điều này chính gọi là làm “Phật pháp”.
Sau khi Phật Đà thành đạo cho đến khi Niết bàn, Ngài mãi
tuyên thuyết Phật pháp. Từ bài thuyết pháp ban đầu ở vườn Lộc Uyển cho
năm Tỳ kheo, đến bài thuyết pháp sau cùng ở Câu Thi Na La cho Tu Bạt Đà
La. Phật pháp mà Ngài đã thuyết từ ba mươi lăm tuổi đến tám mươi tuổi,
tất cả là bốn mươi lăm năm.
Những giáo pháp này là của Phật Đà, thuyết vào năm đó Ngài
nhập Niết bàn (tức là 90 ngày, sau khi Đức Phật nhập Niết bàn). Do năm
trăm đại A La Hán cùng đề cử Ma Ha Ca Diếp làm trưởng tòa, và tập hợp
để biên tập tại nham động Thất Diệp, núi Linh Thứu, ở ngoài thành Vương
Xá. Đầu tiên, vì giữ giới nên Ưu Ba Li tụng ra luật tạng. Kế đến, do A
Nan Đà, đệ nhất đa văn tụng ra kinh tạng. Trải qua ấn chứng của đại
chúng, giáo pháp của Đức Phật đã hoàn thành việc kiết tập lần thứ nhất.
Sau đó, kinh điển lại trải qua việc tập hợp và chỉnh lý mấy lần, hon nữa
được phiên dịch lại thành các loại văn tự, truyền bá đi đến các nước
trên thế giới. Kinh Phật mà Trung Quốc phiên dịch, mãi lưu truyền đến
bây giờ, gọi chung là : “Đại tạng kinh”, thì rất có giá trị văn hiến.
Nội dung của Phật pháp đã nói rõ chân tướng vũ trụ, ý nghĩa đời sống con
người và phép tắc đạo đức. Mục đích của Phật pháp là dạy chúng ta làm
thế nào để ngưng ác hành thiện, chuyển mê thành ngộ, lìa khổ được vui,
quên mình lợi người. Phật pháp thật là chân lý tối viên mãn trên thế
giới, là học vấn mà đời người rất cần. Ai ai cũng có khả năng để nghiên
cứu, tu học Phật pháp và hoằng dương chánh pháp mới có thể chuyển ta bà
thành cực lạc.
II TÁM
TƯỚNG THỊ HIỆN CỦA THÍCH TÔN:
Tám tướng thị hiện là sự tích của một thời đại Phật đà
được thuật đơn giản như sau:
1. Giáng Đâu suất: Đầu tiên, Ngài trụ vào
nội viện của cõi trời Đâu suất Đà. Muốn giáng sinh nhân gian, trước hết
Ngài quan sát cơ duyên thích hợp của năm hạng bậc, tức là: thời gian,
địa điểm, quốc gia, gia đình và cha mẹ, rồi sau đó giáng xuống nhân gian.
2. Thác thai: Ngài cưỡi voi trắng sáu ngà,
miệng voi ngậm hoa sen trắng, giáng vào thai mẹ.
3. Xuất sanh:
Ngày trăng tròn tháng năm của năm 623 trước công nguyên, ở vườn Lâm Tỳ
Ny, Ngài theo hông bên hữu của Ma Da phu nhân mà xuất sanh.
4. Xuất gia:
Năm Ngài hai mươi chín tuổi, quán sự vô thường của thế gian và muốn truy
cầu chân lý đời người trong vũ trụ để giải thoát đau khổ của sinh tử,
nên Ngài lìa bỏ cung vua để đi vào núi tu đạo.
5. Hàng ma:
Ở rừng khổ hạnh gần sông Ni Liên Thiền, sau khi tu khổ hạnh sáu năm,
Ngài đến dưới cây đại bồ đề gần núi Già Da, và hàng phục ma quân trên
tòa Kim Cang.
6.
Ngày trăng tròn tháng năm của năm 588 trước công nguyên, ban
đêm Ngài thấy sao vàng sáng rực, bỗng nhiên ngộ đạo. Năm đó, Ngài ba
mươi lăm tuổi (nơi thành đạo tức là bồ đề Già Da Ấn Độ bây giờ.)
7. Chuyển Pháp luân:
Sau khi thành đạo, Ngài thuyết pháp độ sanh, thời gian bốn
mưới lăm năm.
8. Nhập Niết bàn:
Ở đời, Ngài thọ tám mươi tuổi, thị nhập Niết bàn giữa hàng
cây Sa La Song Thọ, thành Câu Thi Na
La.
Trong kinh Nhân quả, có nói đến truyền thuyết về đời trước
của Phật đà:
Về đời trước, thuở quá khứ vô lượng kiếp, lúc bấy giờ có
Phật Nhiên Đăng trụ ở đời, và có một vị tiên nhân tên là Thiện Huệ, vị
này quy y với Phật và mua được năm nhành hoa sen để cúng dường Phật. Lúc
bấy giờ, Phật Nhiên Đăng thọ ký cho tiên nhân Thiện Huệ rằng: “Tương lai
thành Phật Thích Ca Mâu Ni”. Có một hôm, tiên nhân Thiện Huệ thấy Phật
Nhiên Đăng đến. Vì đất bùn lầy, Thiện Huệ liền đem áo da nai đang mặc
trải trên đất, lại lấy tóc trên đầu rải lên, đợi Đức Phật đi qua. Thế
rồi, Phật Nhiên Đăng thọ ký thêm cho Thiện Huệ rằng: “Tương lai thành
Phật ở thế giới Ta bà để độ chúng sanh”. Thiện Huệ bèn xuất gia tu hạnh
Bồ tát, mãi đến khi Đức Phật Ca Diếp trải qua bao nhiêu thời kiếp, thì
công hạnh của Bồ tát Thiện Huệ mới được viên mãn, khi Ngài mệnh chung
được sanh vào cõi Trời Đâu suất.
Xét:
Cõi Đâu suất, chính là cõi trời Dục giới ở. Cõi này có hai viện, viện
trong và viện ngoài. Viện ngoài chính là chỗ cư trú hưởng phước của
Người và Trời, sung sướng vô cùng. Viện trong chính là các vị bổ xứ lên,
là chỗ Bồ tát sắp sửa kế thừa ngôi vị của Phật mà ở. Công đức tu của Bồ
tát viên mãn thì hết một đời này liền có thể thành Phật. Vì thế lại gọi
là Nhất sanh bổ xứ. Bồ tát Thiện Huệ đã lên bổ xứ, ở trong cõi này mà
diễn thuyết diệu pháp cho các chúng trời, cùng việc theo dõi và quán sát
nhân duyên về căn tánh của các chúng sanh đã thành thục. Thời cơ đã đến,
Bồ tát liền xuống sanh ở nhân gian mà thành tựu Phật đạo.
Khi Bồ tát từ cõi trời Đâu suất giáng xuống nhân gian, thị giả của
chư thiên phóng đại quang minh, Bồ tát cưỡi voi trắng sáu ngà, miệng voi
ngậm hoa sen trắng, oai thần vòi vọi, giáng vào thai mẹ vào lúc sao sáng
xuất hiện mà ứng hiện ở đời. Đây đúng là cốt truyện của tướng lẻ tẻ
trong tám tướng thị hiện của Đức Phật.
III GIẢI THÍCH GIẢN LƯỢC
VỀ HỌ TỘC PHẬT ĐÀ :
Giải thích sơ lược về
sự phân biệt họ gia tộc của Phật Thích Ca Mâu Ni- họ chủng tộc – bốn
lọai họ và các dân tộc trực thuộc.
1.
Tất Đạt
Đa Kiều Đạt Ma:(tiếng pali là SIDDHATTHA GOTAMA, tiếng
phạn là SIDDHARTHA GAUTAMA) – Tất Đạt Đa là tên thời thơ ấu của thích Ca
Mâu Ni, có nghĩa là “kiết tường” và “tất cả công đức thành tựu”. Kiều
Đạt Ma là họ gia tộc của Phật Đà, có thể gọi tắt là Kiều Đạt Ma, chính
là họ của thái tử Tất Đạt Đa, cũng có người dịch GOTAMA là Cù Đàm.
2.
Phật
Thích Ca Mâu Ni: (SAKYAMUNI BUDDHA)
- Thánh hiệu tôn xưng sau khi Phật thành đạo là Thích Ca Mâu Ni Phật.
Đây là dùng chủng tộc của Thích Ca làm họ mà không dùng Kiều Đạt Ma gia
tộc làm họ, cho nên nói “Thích Ca “là họ của Phật, “Mâu Ni” là tên của
Phật.
3.
Thích Ca
Mâu Ni là thuộc về vương tộc Sát đế lợi, giai cấp thứ hai
của bốn loại họ của Ấn Độ xưa(
hoặc goi là bốn họ, tức là bốn giai cấp).
4.
Nếu như
lấy việc phân bố dân tộc
của thế giới để mà nói thì
lúc đó hơn hai ngàn năm trước công nguyên, dân tộc Nhã Lợi An xâm nhập
Ấn Độ, họ đã chinh phục người Đạt La La Điện, dân tộc nguyên thủy của Ấn
Độ. Quốc gia mà họ xây dựng sau khi định cư là thuộc về dân tộc Nhã Lợi
An .
5.
Bốn họ
của Ấn Độ xưa (bốn giai cấp),
giai cấp cao quí nhất là Tăng lữ, gọi là Bà La Môn, nhiệm vụ của họ là
giảng truyền kinh điển, chuyên lo cúng tế , được hưởng đặc quyền. Giai
cấp thứ hai là quí tộc và quốc vương, gọi là Sát Đế Lợi. Giai cấp thứ ba
là Phệ Xá, nhiệm vụ của họ là canh tác, trồng trọt ruộng vườn, kinh
doanh công thương nghiêp, không có đặc quyền. Giai cấp hạ tiện nhất là
nô lệ và hầu hạ, gọi là Thủ Đà La, nhiệm vụ của họ là phục dịch ba giai
cấp trên, có thể nói ngay cả quyền lợi làm người cũng đều không có. Sau
khi phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo, Ngài chứng ngộ thấy rằng: tất cả
chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật, nên ngài đề xướng
lòng từ bi bình đẳng. Vì thế, lúc đó ngài có thể chiết phục giáo đồ Bà
La Môn đến qui y phật giáo.
[Chú giải ]:

IV DỊCH GIẢI THÁNH HIỆU
PHẬT ĐÀ:
Sau khi thái tử
Tất Đạt Đa Kiều Đạt Ma thành đạo, thánh hiệu được gọi là Thích Ca Mâu Ni
Phật. Thích Ca là họ của Phật, dịch nghĩa là “Năng nhân”, Mâu Ni là tên
của Phật, dịch nghĩa là “Tịch mặc”. Năng nhân là tượng trưng cho đức
hạnh của Phật Đà có lòng từ bi cứu thế, hy sinh quên mình lợi người.
Tịch Mặc là nói chân lý vũ trụ nhân sinh mà Phật ĐÀ đã chứng ngộ, biểu
trưng cho công năng trí huệ cao thâm tối thắng có tự lợi của Ngài .
Phật: tiếng Phạn là Phật đà
da (BUDDHA), ý nghĩa là đấng giác ngộ, là bậc thánh tiên tri, tiên giác.
Đấng giác ngộ này có ba nghĩa, một là tự giác, hai là giác tha, ba là
giác hạnh viên mãn. Cho nên Phật đà là bậc đại thánh có đầy đủ vạn đức
và ba giác viên mãn.
V THÁNH ĐỊA CỦA PHẬT
GIÁO ẤN ĐỘ:
Thánh địa của Phật
giáo Ấn Độ được thuyết minh rằng:
1.Thích
Ca Mâu Ni Phật là thái tử của vua Tịnh Phạn, nước Ca Tỳ La Vệ.
2.
Vườn Lâm Tỳ
Ni là nơi đản sanh của Phật đà.
3.
Bồ đề Ca Da
là nơi thành đạo của Phật đà.
4.
Vườn Lộc
Uyển của nước Ba La Nại là nơi chuyển pháp luân đầu tiên của Phật đà.
Phật đà thuyêt pháp tứ đế cho Kiều Trần Như v.v… mà trong lịch sử, Phật
giáo gọi bài pháp mà Phật thuyết lần này là Kinh chuyển pháp luân (PRAVARTA
SUTRA). Năm người Kiều Trần Như v.v… nghe Phật thuyết pháp mà ngộ đạo,
là năm Tỳ kheo ban đầu trong lịch sử Phật giáo, cũng tức là có sự bắt
đầu của Tăng già.
5.
Vua Tần Bà
Sa La nước Ma Kiệt Đà, xây dựng tinh xá Trúc Lâm ở thành Vương Xá cúng
dường đạo tràng cho Phật thuyết pháp, là một tòa tự viện lớn có sớm nhất
trong lịch sử Phật giáo.
6.
Xá Vệ thành
là đô thành của nước Kiều Tát La. Trưởng giả Tu Đạt Đa xây dựng tinh xá
Kỳ Viên này để cúng dường đạo tràng cho Phật đà thuyết pháp, là tòa tự
viện lớn thứ hai trong lịch sử Phật giáo.
7.
Câu Thi Na
La thành, tức là đô thành của nước Câu Thi Na La, là nơi Niết bàn của
Phật đà. Phật đà Niết bàn ở giữa hàng cây Sa La Song thọ, thành Câu Thi
Na La. Vương quốc của nước Câu Thi Na La là vua Ma La Tư (The King of
the Mallas of Kusina) cùng các cao Tăng sắp xếp cho di thể của Phật đà,
và cử hành lễ hỏa táng ở phía đông thành.
8.
Sau khi
Phật nhập Niết bàn, Ngài Ma ha Ca Diếp được năm trăm vị đại A la Hán
cùng nhau đề cử Ngài làm thượng thủ và cử hành kiết tập tạng kinh lần
thứ nhứt ở nham động Thất Diệp, núi Linh Thứu, ngoài thành Vương xá.
Kinh tạng được A Nan Đà đệ nhẩt đa văn tụng ra, Luật tạng được Ưu Ba Li
đệ nhất trì giới tụng ra.
9.
Vật kỷ niệm
hiện tại về việc kiến trúc Tứ thánh địa của Phật giáo Ấn Độ là:
1)
Vườn Lâm Tỳ
Ni có trụ đá do vua A Dục xây dựng.
2)
Bồ đề Ca Da
có đại tháp Kim Cang (còn gọi là tháp Đại bồ đề).
3)
Vườn Lộc
Uyển có tháp Chuyển pháp luân.
4)
Thành Câu
Thi Na La có tháp Niết bàn.