Lama Thubten
Zopa Rinpoche
CÁNH CỬA MÃN NGUYỆN
LỜI DẠY TÂM HUYẾT CỦA MỘT
VỊ SƯ PHẬT
GIÁO TÂY TẠNG
NGUYÊN TÁC
THE DOOR TO SATISFACTION
Viết
bởi : Lama Thubten Zopa Rinpoche
Được giảng tại Thánh Địa thiêng liêng
Bodhgaya, Ấn Độ, dựa theo quyển "KHAI MỞ CÁNH CỬA PHÁP: Giai đoạn mở
đầu của việc luyện Tâm trên Đạo lộ từng bước tới Giác Ngộ" (Đây là
tuyển tập cc lời dạy của các Kadampa vĩ đại) Biên soạn bởi: Lodro
Gyaltsen, hành giả du già Tây Tạng thế kỷ 15
Viết
lời tựa : Kirti Tsenshab Rinpoche
Biên
tập : Ailsa Cameron và Robina Courtin
Phát
hành : Wisdom Publication (Boston, USA)
BẢN DỊCH VIỆT NGỮ ẤN TỐNG KHÔNG BÁN
Người dịch : Nguyễn văn Điểu
TRI ƠN
Vâng theo lời dạy
của Thầy Lama Thubten Zopa Rinpoche, con cố gắng dịch cuốn sách "Kim
chỉ nam" này ra tiếng Việt với ước ao chia sẻ những lời dạy tâm
huyết của Thầy đến bạn bè huynh đệ Việt nam, tất cả những ai quan tâm
đến.
Con kính dâng lòng
tôn kính biết ơn sâu xa của con lên Thầy, một Kadampa trong thời hiện
đại, người là nơi nương tựa của con mãi mãi, người đã dạy con đi vào con
đường tu giác ngộ.
Thành kính tri ơn các
Lama, các huynh đệ trong Tổ Chức Bảo Tồn Truyền Thống Phật Giáo Đại Thừa
(FPMT).
Thành kính tri ơn Nhà
Xuất Bản Wisdom Publications-Boston, USA đã cho phép dịch và xuất bản
tác phẩm này ở Việt Nam.
Thành kính tri ơn
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, cô Hồng Như, huynh Nguyễn đình Hoạch, huynh Trần
trung Sơn, huynh Nguyễn Học và các huynh đệ gần xa đã góp sức trong việc
dịch, biên tập và xuất bản cuốn sách này.
Được bao nhiêu công
đức, xin nguyện hồi hướng cho tất cả chúng sinh. Nguyện cầu tất cả độc
giả của "Cánh Cửa Mãn Nguyện" tinh tấn trên đường đạo đưa tới
giác ngộ.
Nguyễn văn Điểu
LỜI TỰA
Khoảng một ngàn năm
trước, ở Tây Tạng, ngài Atisha, vị đại sư độc nhất vô nhị, tác giả luận
giảng Ngọn đèn Soi đường đến Giác ngộ đã thành lập truyền thống Kadampa
tôn quý. Vị đệ tử số một của ngài là Dromton Gyalwai Jungne người mà
định mệnh đến với ngài đã được thiên nữ Tara báo trước. Trong số ba đệ
tử lâu năm nhất của Dromtonpa( thường gọi là ba anh em nhà Kadam), có
ngài Potowa Rinchen Sel. Đệ tử thân cận của Geshe Potowa là Geshe Langri
Tangpa Dorje Seng-ge.
Truyền thống đặt tiêu
chuẩn theo kinh nghiệm thực chứng (Kadampa), chú trọng sự điều phục tám
mối bận tâm thế tục (từ đây gọi là bát phong-ND), từ bỏ dứt khoát mọi
quan tâm đến cuộc sống đời thường này, đồng thời luyện tâm đến giác ngộ
bằng cách yêu thương chăm sóc những người khác thay vì chăm sóc bản thân
mình. Thông qua các vị đạo sư nói trên, tinh hoa của truyền thống này đã
được bảo vệ như là phép tu tập quý báu nhất của truyền thống cựu Kadam.
Sau đó, Lama Tsong
Khapa vĩ đại cùng với người học trò tinh thần và thân cận nhất của ngài
là Khedrub Rinpoche sáng lập truyền thống tân Kadam. Một trong những đệ
tử thân cận là Chen-nga Lodro Gyaltsen đã biên soạn luận giảng : "Khai
mở Cánh cửa Pháp, Giai đoạn Đầu của việc Tu Tâm trên đường Đạo từng Bước
đến Giác Ngộ".
Tác phẩm này như một
chìa khóa mở ra con đường dẫn dắt những hành giả sơ căn đến với Pháp. Do
đó, những ai quan tâm đến nó sẽ hưởng được những lợi ích lớn lao. Đối
với Lama Zopa Rinpoche tác phẩm này đã trở thành nền tảng cho những kinh
nghiệm hết sức xác thực về Pháp.
Với sự toàn tâm toàn ý,
tôi một lòng hoan hỉ giới thiệu luận giảng này. Tôi chân thành dâng lời
cầu nguyện, nguyện rằng cuốn sách này sẽ góp phần xoay chuyển tâm thức
của tất cả chúng sanh hướng về Pháp và dẫn dắt họ mau chóng đến bến bờ
Giác Ngộ hỉ lạc và an lành.
- Kirti Tsenshab Rinpoche
- Dharamsala, Ấn Độ.
LỜI
NÓI ĐẦU CỦA NGƯỜI BIÊN TẬP
Tháng hai năm 1990, hơn
một trăm Phật tử từ nhiều nơi trên thế giới tập trung vềhọc ở tu viện
có tên Root Institute, một trung tâm Phật giáo trong thành cổ Bồ Đề Đạo
Tràng, Ấn độ, nơi mà Đức Phật đã thành tựu Chánh Giác cách đây 2500 năm.
Lớp học là một cái lều rộng trang hoàng nhiều màu sắc được dựng lên trên
nền đất của tu viện ngày xưa.
Khóa học này là một phần
hoạt động định kỳ của các khóa giảng giáo lý và lễ quán đảnh có
tên "Kỷ niệm sự thành tựu giác ngộ lần thứ ba" do Tổ chức Bảo tồn
Truyền thống Phật giáo Đại thừa (viết tắt FPMT) lập ra.
Từ ngày 16 đến ngày 25
tháng hai năm 1990, Lama Thubten Zopa Rinpoche (từ đây trở đi, từ "Rinpoche"
chỉ cho Lama Zopa-ND), người lãnh đạo tinh thần của FPMT, đã giảng về "những
giáo huấn của truyền thống Kadampa"; khóa học có mười bài giảng dựa
theo tác phẩm Khai mở Cánh cửa Pháp do vị hành giả du già Tây tạng Lodro
Gyaltsen trước tác vào thế kỷ 15.
Rinpoche đã gây ngạc
nhiên cho các đệ tử đang theo học khi tuyên bố rằng vào cuối những năm
hai mươi tuổi sau khi đọc tác phẩm đó, Rinpoche mới hiểu được ý nghĩa
chân thật của việc tu tập Pháp. Họ ngạc nhiên bởi vì qua nhiều năm theo
học với Rinpoche và thông qua uy tín của ngài, các đệ tử hiện diện trong
khóa học, bằng kinh nghiệm, đã biết rằng Rinpoche từng giây phút đã và
đang hiến dâng cuộc đời mình cho Pháp, cho việc tu tập tâm linh; đồng
thời họ cũng biết rằng Rinpoche là một tấm gương hoàn hảo của một hành
giả tu tập Pháp. Như vậy rõ ràng, có một nhân duyên đặc biệt để được
nghe khóa giảng này.
Như Rinpoche thuật lại
trong phần dẫn nhập, ngài sinh năm1946 trong vùng Solu Khumbu nước Nepal
gần núi Everest. Theo lời kể lại của mẹ ngài, khi bắt đầu biết nói
Rinpoche thường bảo: "tôi là Lawudo Lama". Lawudo Lama có tên
thật là Kunsang Yeshe đã mất năm 1945; ông nổi tiếng là một hành giả khổ
hạnh và đạt giác ngộ rất cao. Trong hai mươi năm cuối đời, ông đã sống
và thiền định trong một hang động ở Lawudo, và là người dẫn dắt tâm linh
cho dân cư địa phương. Đặc biệt ông đã phụng sự dân làng với một năng
lực vô tận và cũng như các đại hành giả du già, ông đã vượt qua được nhu
cầu nghỉ ngủ.
Trên thực tế, bé trai đã
được thừa nhận là vị tái sinh của Lawudo Lama. Ngawang Chopel,đệ tử
chính của Lawudo Lama, theo truyền thống, đã đến tham vấn nhiều Lama cao
cấp ở Tây tạng, tất cả đều đồng ý xác nhận vị tái sinh này. Thêm nữa,
Lama Zopa Rinpoche đã chỉ trúng các vật dụng cũ của Lawudo Lama đã dùng.
Trong phần dẫn nhập,
Rinpoche kể cho chúng ta nghe về thời niên thiếu của ngài. Đầu tiên,
Rinpoche ở tại tu viện Thami, về sau tại Rolwaling, Nepal và cuối cùng
đi đến Tây tạng, ở tu viện của Doma Geshe Rinpoche xứ Pagri. Lawudo Lama
là một hành giả cư sĩ thuộc truyền thống Nyingma, trái lại khi Lama Zopa
Rinpoche đến ở tu viện Domo Geshe, Rinpoche lần đầu tiếp xúc với truyền
thống Gelug và trở thành một tu sĩ. Vị Hộ Pháp ở tu viện cũng xác nhận
Rinpoche là một Lama tái sinh và đã cho những chỉ giáo để nuôi dạy ngài.
Sau ba năm ở Pagri,
Rinpoche quyết định đi đến tu viện Sera, một trong những trường đại học
Phật giáo nổi tiếng của Gelug ở gần Lhasa để tiếp tục tu học. Tuy nhiên
vị Hộ Pháp bất ngờ khuyên Rinpoche đừng đi và nên ẩn tu thiền định.
Như Rinpoche kể lại, khi
nghe tin người Trung Hoa sắp đến vùng Pagri, Rinpoche bỏ đi đến nước
Bhutan rồi sang Ấn Độ, tới Buxa Duar ở miền Tây Bengal. Rinpoche ở lại
đây tám năm, tiếp tục tu học với hàng trăm Lama, các tăng, và ni sư di
cư sang, sống trong một trại tập trung của người Anh lập nên trước đây.
Chính trong lúc này,
Rinpoche được Lama Thubten Yeshe thuộc Tu viện Sera, quan tâm chăm sóc
và từ đó Rinpoche luôn luôn là đệ tử tâm huyết cho đến khi Lama Yeshe
mất vào năm 1984. Khi Lama Yeshe mất, Rinpoche đã nói: "Lama Yeshe
đối với tôi còn hơn một người cha, hơn một người mẹ", "Lama Yeshe
đã chăm sóc tôi như gà mẹ dùng mỏ mớm thức ăn cho con".
Ròng rã suốt hai mươi
năm sau đó, hai vị Lama này đã có những tác động rất lớn lao đến thế
giới phương tây, thu hút hàng ngàn đệ tử nhờ vào năng lực giảng dạy cũng
như lòng từ bi bao la; các ngài miệt mài họat động vì lợi ích người
khác.
Năm1965 khi Rinpoche bị
đau phổi đang điều dưỡng ở Darjeeling, hai Lama đã gặp Zina Rachevsky,
đệ tử đầu tiên của họ từ Mỹ đến. Là con gái một nhà quí tộc Ukraina trốn
sang Pháp trong thời cách mạng Nga; cô Zina bắt đầu nhận sự giảng dạy từ
Lama Yeshe và Rinpoche với vốn liếng tiếng Anh mới học, làm thông dịch
cho cô ta.Từ đó về sau, cả hai Lama đã đặc biệt dạy Pháp cho các đệ tử
phương Tây bằng tiếng Anh.
Vào năm 1968, lúc đó
Zina đã xuất gia, họ cùng chuyển tới Nepal. Và chính ở Nepal sự nối kết
của hai vị Lama với các đệ tử phương Tây bắt đầu phát triển mạnh. Trước
tiên, họ ở Baudhanath ngay ngoài thành Kathmandu, nơi có một cái tháp
Phật cổ. Theo như Rinpoche kể lại "mỗi ngày từ cửa sổ, Lama Yeshe đưa
mắt nhìn ra xa tới ngọn đồi phía bắc, bên kia những đám ruộng bậc thang
dưới thung lũng. Ngài dường như bị ngọn đồi thu hút và vào một ngày nọ
chúng tôi ra khỏi nhà đi đến tận ngọn đồi đó để xem xét. Đó là đồi Kopan".
Đồi Kopan trước kia là
nơi ở của nhà chiêm tinh của Vua Nepal, và năm 1969 hai vị Lama dời đến
đó ở. Năm sau, nhận lời mời của thân quyến, Rinpoche trở về thăm Solu
Khumbu và trong thời gian này, người con trai của Lawudo Lama trao lại
cho Rinpoche hang động Lawudo cùng các đồ dùng trước đây của cha mình.
Cũng chính trong thời gian này, Rinpoche mới hoàn thành được tâm nguyện
của Lawudo Lama là lập một tu viện cho con em trong vùng. Rinpoche đặt
tên ngôi trường là "Trung tâm Mount Everest".
Năm 1971, Rinpoche ban
bài giảng đầu tiên cho một nhóm mười hai đệ tử phương Tây - một bài
giảng sâu sắc về thiền định và triết lý Phật giáo. Chính lần giảng dạy
đầu tiên này mà sau đó đã trở thành sự kiện mang tính thông lệ hàng năm
và thu hút hàng trăm người tham dự từ nhiều nơi trên thế giới.
Chán ngán xu hướng tôn
sùng vật chất, thiếu thốn một điều gì có thể phù hợp cho những khao khát
nội tâm, những người phương Tây đã tìm đến đây và đã cảm xúc sâu xa bởi
những phương pháp của Phật giáo Đại thừa tràn đầy lòng từ bi và minh
triết, thực tiễn. Đó không phải là những ngôn từ trống rỗng mà là một
truyền thống giáo lý và những thực hành thiền định sống động, một dòng
truyền thừa từ thầy sang trò không gián đoạn, xuất phát từ Đức Phật
truyền cho tới ngày nay. Các phương pháp đó có hiệu quả rõ rệt, lấy bằng
chứng cụ thể từ việc sống cùng với các Lama, lắng nghe họ giảng, cũng
như làm theo những lời chỉ dạy dành riêng cho mình hay để ý tới những
hành động của các Lama khi ở cùng người khác. Đây là những phương pháp
thể hiện rất sống động về sự nhẫn nại, ưu ái, hài hước, uyên bác, hoan
hỉ, tràn đầy lòng thương yêu.
Đáp lại yêu cầu của các
đệ tử phương Tây mỗi lúc một nhiều, các Lama đã đi phương Tây lần đầu
vào năm 1974. Họ đến nước Mỹ, Úc, New Zealand và chặng dừng chân đầu
tiên là ở New York. Rinpoche nói: "Chuyến đi không gây ngạc nhiên cho
tôi lắm vì tôi đã không thấy lạ đối với những nơi ấy nhờ vào việc học
tiếng Anh từ tạp chí Times, và gặp nhiều người phương Tây trẻ có, già
có, nghe họ nói về kinh nghiệm sống của họ ở đó".
Sau các chuyến đi của
hai Lama, các đệ tử ở nhiều quốc gia bắt đầu thành lập các trung tâm
giảng Pháp và Thiền định, và vào năm 1975 khi mạng lưới các trung tâm
này đủ lớn mạnh, Lama Yeshe quyết định đặt tên cho hệ thống này là Tổ
chức Bảo tồn Truyền thống Phật giáo Đại thừa (viết tắt FPMT). Kopan là
đầu mối của tổ chức này. Mỗi năm Rinpoche mở lớp giảng được gọi là "Khóa
giảng tháng mười một". Số lượng trung tâm tăng không ngừng, và hàng
năm các Lama từ Kopan đi đến các trung tâm trên thế giới, đáp ứng những
lời mời thỉnh giảng dạy càng lúc càng tăng.
Giờ đây "Trung tâm
Mount Everest" đã dời từ núi xuống thung lũng Kathmandu ở Kopan, cơ
sở này tiếp tục mở rộng thêm để phục vụ việc tu tập cho người Sherpas,
Manangpas, Tsumpas và cho nhiều người khác nữa ở Nepal cũng như cho
những người Tây tạng.
Năm 1973 Zina Rachevsky
bị bệnh và chết giữa lúc đang ẩn tu thiền định. Theo như Rinpoche nói,
có những dấu hiệu lúc Zina mất cho thấy ni sư đã thành tựu những chứng
ngộ tâm linh.
Một năm sau, khi về thăm
lại hang động Lawudo, Rinpoche bắt gặp cuốn sách giáo lý mà nó được làm
nền tảng cho tác phẩm này. Cuốn sách đó đã khiến Rinpoche nói rằng chỉ
sau khi đọc nó, Rinpoche mới tìm ra được "phương cách tu tập Pháp".
Nội dung cuốn sách như
thế nào mà khiến Rinpoche, một hành giảvĩ đại, đã nói như vậy? Như
Rinpoche có giải thích, Khai mở Cánh cửa Pháp (tên cuốn sách-ND) là "thực
hành đầu tiên bạn phải áp dụng nếu bạn muốn tu tập Pháp".
Như Rinpoche xác định
ngay từ đầu và cũng như trong suốt tác phẩm này, điểm chủ yếu là: một
thực hành được coi là tu tập tâm linh hay không, không phải được xác
định bằng hình thức tu tập như Thiền định, cầu nguyện hay tụng kinh, trì
chú mà phải được xác định bằng động cơ (tâm nguyện) muốn tu tập.
Rinpoche chỉ rõ cái gọi là hoạt động tâm linh có thể không phải là hành
động tu tập Pháp, nói cách khác, nó không đem tới một quả vị thiện hạnh
nếu nó được thúc đẩy bởi ham muốn, gắn với những thành đạt tầm thường
của đời sống thế tục này.
Ngược lại ngay cả cái
gọi là một hoạt động thế tục có thể sẽ là sự tu tập Pháp nếu nó được
thúc đẩy bởi một động cơ vì mục tiêu lớn rộng hơn, lâu dài hơn.
Theo quan điểm của Phật
giáo Đại thừa, động cơ của một hành động được coi lớn nhất là ước muốn
thành tựu giác ngộ để dẫn dắt người khác đạt tới trí tuệ và đại bi tối
thượng. Tiêu điểm này là độc nhất vô nhị của Đại thừa, con đường của các
Bồ Tát - các vị có được tâm giác ngộ, bồ đề tâm không cần dụng công (mặc
nhiên tự phát) ; nói cách khác, một động cơ Đại thừa tự nhiên và liên
tục tự phát. Lamrim - đường đạo từng bước đưa tới giác ngộ - đã vạch rõ
những phương pháp khác nhau để thành tựu bồ đề tâm. Giáo lý này bao gồm
những phép tu từng bước, rút từ các lời dạy của Đức Phật, lần đầu tiên
được Lama Atisha vĩ đại giảng dạy ở Tây tạng vào thế kỷ mười một.
Một phương pháp rất hữu
hiệu khác nữa để phát triển bồ đề tâm là làm theo một loạt các lời dạy
và thiền định, được gọi là chuyển hóa suy nghĩ hay luyện tâm (tiếng
Tạng: lo-jong). Phương pháp này đặc biệt nhấn mạnh sự tu tập trao đổi
mình với người, nói cách khác, yêu thương chăm sóc người khác thay vì
nuông chiều bản thân mình.
Nói chung, hành giả học
sử dụng từng giây phút của cuộc sống - dù đang được sung sướng hay bất
hạnh - để phá hủy chướng ngại lớn nhất của bồ đề tâm, đó là thói quen
chỉ biết có mình, chỉ biết lo cho mình.
Trong tác phẩm Giải
thoát trong Lòng Bàn tay, Pabongka Dechen Nyingpo giải thích rằng:
Phép chuyển hóa suy nghĩ (lo-jong) có thể xua tan bóng tối của vị kỷ (nuông
chiều mình - ND), giống như một tia sáng có thể xua tan đêm đen. Nó có
thể trừ khử căn bệnh vị kỷ giống như thảo dược có thể trị lành bệnh tật.
Trong thời đại ngày nay khi năm thứ suy đồi đang rất phổ biến và các
phép tu khác không hiệu quả thì phép luyện tâm này (lo jong) sẽ giúp
được cho bạn và bạn sẽ không bị các nghịch cảnh gây trở ngại. Phép tu
này có tác dụng rất to lớn.(trang 588-589)
Phép luyện tâm này được
dạy đầu tiên vào thế kỷ thứ tám bởi Shantideva, vị đạo sư Đại thừa ở Ấn
Độ; ngài khuyên các hành giả du già thực hành phép tu tập này một cách
bí mật bởi vì, như Pabongka Dechen Nyingpo nói, chúng không "làm hài
lòng một bình chứa không thích hợp".
Chính Đại sư Atisha đã
đem giáo lý này đến Tây tạng và bí mật trao truyền cho Dromtonpa, đệ tử
ruột của ngài. Và từ đó bắt đầu giòng truyền thừa Kadampa vĩ đại gồm các
vị du già nổi tiếng trong phép tu tập chuyển hóa suy nghĩ (lo-jong). Và
ngày nay các du già Đại thừa áp dụng phép tu tập này trong các khóa
thiền chính.
Luận giảng Khai mở Cánh
cửa Pháp thuộc truyền thống Kadampa này. Cuốn sách chủ yếu nhấn mạnh
đến nhược điểm của sự ham muốn, đến vô thường và cái chết. Những điều
này là "những thực hành đầu tiên nếu bạn muốn tu tập Pháp", bởi
vì, thực tế mà nói, một khi thấy được rằng liền sau ham muốn có nhân của
đau khổ, bạn mới có khả năng tu tập và cuối cùng bạn mới có thể hoán đổi
mình với người khác để phát triển bồ đề tâm.
Với cuốn sách "Cánh
cửa Mãn nguyện" này, Lama Zopa Rinpoche đã sử dụng những lý lẽ mạnh
mẽ, xác thực, nêu ra cho người đọc thấy rằng, bằng việc thực hành những
phương pháp này và bằng sự nhận biết không có cái tôi để nuông chiều,
chúng ta có thể phát hiện được sự mãn nguyện và sự hạnh phúc của mình ỏ
mức sâu sắc nhất, tức là sự giác ngộ, và từ đó chúng ta có thể dẫn dắt
người khác đạt tới trạng thái giác ngộ viên mãn.
Đây là lời khuyên tâm
huyết, cốt lõi trong những bài giảng của Rinpoche từ khi ngài ban cho
khóa thiền định đầu tiên năm 1971. Rinpoche là một Kadampa trong thời
hiện đại. Ngài là một tấm gương điển hình hoàn hảo về những lời giảng mà
ngài đã dạy và ngài đã không ngừng yêu thương chăm sóc người khác hơn là
bản thân mình.
Từ khi người thầy kính
yêu của ngài là Lama Yeshe qua đời vào năm 1984, Lama Zopa Rinpoche là
vị Lãnh đạo Tinh thần duy nhất của FPMT. Tổ chức này tiếp tục phát triển
ở nhiều nước, có hơn bảy mươi trung tâm thiền định, nhập thất, chữa bệnh
cũng như những tu viện, nhà xuất bản và các hoạt động khác nữa trên mười
bảy quốc gia.
Kopan đang phát triển
mạnh. Trung tâm Mount Everest giờ đây là nhà của hơn 250 tăng ni đang
theo học giáo lý Phật theo cách thức tu viện truyền thống.
Rinpoche không ngừng đi
nhiều nơi trong thế giới (mandala) của Ngài, giảng dạy và dẫn dắt hàng
ngàn đệ tử. Đặc biệt nhất trong số các đệ tử mà Rinpoche đang dẫn dắt có
Lama Tenzin Osel Rinpoche, sinh năm 1985 ở Tây Ban Nha, được đức
H.H.Dalai Lama chính thức thừa nhận là vị tái sinh của Lama Thubten
Yeshe. Giờ đây đến lượt Lama Zopa là "còn hơn một người cha, hơn một
người mẹ". Rinpoche chăm lo dạy dỗ vị Lama trẻ này từng giây từng
phút, chuẩn bị cho Lama trẻ này có thể đảm đương một khối lượng rất lớn
các hoạt động Phật Pháp với tư cách là Lama Yeshe.
Chúng tôi chân thành
biết ơn Merry Colony, Alfred Leyens, Connie Miller, Paula Chichester và
Roger Munro đã đóng góp cho cuốn sách này được xuất bản. Xin cầu nguyện
cho những ai đọc Cánh cửa Mãn nguyện nhanh chóng nhận ra tiềm
năng tự tại, đạt tới hạnh phúc tối thượng.
1. PHẦN DẪN NHẬP
Giống như việc nhào nắn bột bằng tay
Chắc chắn bạn chuyển hóa được tâm bạn theo cách bạn muốn.
KHAI MỞ CÁNH CỬA PHÁP
NĂM 1974, khi đang ở
trong hang động trước đây là nơi Lawudo Lama ẩn tu trong vùng Solu
Khumbu, Nepal, tôi (Lama Zopa Rinpoche-ND) quyết định xem lại tất cả các
kinh sách của ông. Hầu hết là kinh sách thuộc truyền thống Nyingma (cổ
mật) liên quan đến việc tu tập các hộ pháp bổn tôn (deity), nhưng có một
luận giảng mà nó là nền tảng của cả bốn truyền thống Phật giáo Tây tạng;
đó là tác phẩm "Khai mở Cánh cửa Pháp: Giai đoạn Đầu của việc Tu Tâm
trên đường Đạo từng Bước đến Giác Ngộ".
Được coi như bộ tuyển
tập các lời khuyên dạy của nhiều Geshes Kadampa, cuốn Khai mở Cánh cửa
Pháp được biên soạn bởi Lodro Gyaltsen, một đệ tử của Lama Tsong Khapa
và đồng thời là đệ tử của Khedrub Rinpoche.Ngài Khedrub là một trong hai
trưởng tử tâm linh của Lama Tsong Khapa. Cuốn sách này trình bày giai
đoạn khởi đầu của việc chuyển hóa suy nghĩ, tức luyện tâm - nói cách
khác, đây là việc đầu tiên cần thực hành nếu bạn muốn tu tập Pháp.
Chỉ đến khi đọc được
cuốn sách này tôi mới biết đích thực việc thực hành Pháp là như thế nào.
Cả quãng đời trước đó tôi đã không biết được như thế. Thông thường, việc
thực hành Pháp là tụng kinh, nghiên cứu, ghi nhớ, thảo luận, đọc lời cầu
nguyện, hành lễ, vân vân. Nhưng chỉ đến khi đọc cuốn sách này tôi mới
biết được việc thực hành là như thế nào. Tôi ngạc nhiên sửng sốt khi
thấy rằng toàn bộ những việc làm của tôi trước đây không phải là tu tập.
Tôi tự xét lại và thấy toàn bộ những gì học thuộc lòng và cầu nguyện
suốt bao năm tháng đã không phải là Pháp. Từ bao năm tháng, không có gì
là Pháp cả
Tôi sinh năm 1946, gần
Lawudo xứ Thami, Nepal. Khi tôi khoảng ba hay bốn tuổi, mẹ tôi gửi tôi
vào một tu viện gần nhà để chú tôi dạy chữ. Ông ta là một tu sĩ theo
truyền thống Nyingma.Nhưng việc học không kéo dài lâu vì tôi quá nghịch
ngợm, tôi hay trốn khỏi tu viện để chạy về nhà mẹ nhiều lần. Nên mẹ tôi
quyết định gửi tôi đến một nơi vắng và xa hơn, đó là vùng Rolwaling.
Rolwaling là một địa danh huyền bí thiêng liêng của Ngài Liên Hoa Sanh
(Padmasambhava), ở đó có nhiều hang động được ban ân phước.
Một người chú khác nữa
tên là Ngawang Gendun đã đưa tôi đi Rolwaling. Chúng tôi phải đi vượt
qua nhiều dãy núi đá rất nguy hiểm, đá rơi nằm trên lối đi có nước chảy
băng qua, và rồi phải đi qua vùng núi tuyết trong một hay hai ngày. Khi
băng qua vùng núi tuyết chúng tôi đã thấy nhiều khe nứt của băng tuyết
sâu tới hơn ba mươi mét tựa hồ như có biển dưới đáy. Thật là một chuyến
đi gian khổ.
Tôi sống ở Rolwaling
đựơc bảy năm, học đánh vần và học đọc. Thầy dạy học là chú Ngawang
Gendun lúc đó đã là tu sĩ. Tôi học chữ cái và đọc tiếng Tây tạng , học
thuộc lòng kinh cầu nguyện, đọc Kangyur (Kinh Phật) vàTengyur (luận
giảng của các vị tôn giả ở Ấn Độ) ngoài ra còn đi dâng lễ Pujas tại
nhà các dân làng.
Ở Solu Khumbu nhiều cư
sĩ không biết chữ. Các Lama cho phép họ tham dự các lễ quán đảnh nhưng
họ không thể nhập thất ẩn tu. Các tu sĩ có thể đọc hiểu Kinh điển nên
được nhập thất, còn cư sĩ trì tụng nhiều triệu biến Chú Lục Tự Om Mani
Padme Hung và các câu chú khác. Vì không biết chữ, các cư sĩ được các
Lama cho phép hành trì theo khả năng của họ.
Lẽ ra các cư sĩ phải tự
mình trì chú nhưng họ thường đến gặp các tu sĩ ở gần nhà và nhờ họ phụ
đọc dùm cho đủ túc số đã phát nguyện. Họ mang khoai, nông sản khác đến
và nói với tu sĩ: "Tôi đã phát nguyện đọc mấy triệu biến của câu chú.
Bây giờ tôi nhờ sư đọc giúp cho tôi". Họ đọc một số rồi yêu cầu vị
sư đọc số lượng còn lại.
Tôi ở đó được bảy năm
tụng đọc các Kinh Kangyur, Tengyur và Prajnaparamita (Bát Nhã Ba La
Mật-ND) tại nhà các cư sĩ khi chú tôi được mời đến hành lễ Pujas. Có khi
chúng tôi cử hành lễ Pujas cho người chết. Theo phong tục khi có người
chết, thân nhân tổ chức lễ Pujas đặc biệt và cúng dường một số tiền lớn
cho các tu sĩ và các người khác.
Khi tôi lên mười tuổi,
tôi đi Tây tạng, đến ở tu viện của Domo Geshe Rinpoche gần Pagri. Tôi ở
đó được ba năm. Buổi sáng tôi tập học thuộc lòng Kinh điển, thời gian
còn lại trong ngày tôi đến nhà dân làng hành lễ Pujas. Tôi trải qua cuộc
thi đầu tiên ở đó với người quản lý dâng lễ cúng dường cho các tu sĩ.
Pagri là một trung tâm mua bán sầm uất, có nhiều thương gia đến từ
Lhasa, Tsang hay từ Ấn Độ - từ rất nhiều nơi.
Vào tháng ba năm 1959,
người Trung hoa đến Tây tạng nhưng vì Pagri gần biên giới Ấn nên chưa có
gì nguy hiểm. Một năm sau tôi được chỉ dạy để thực hiện việc ẩn tu đầu
tiên về phép tu Đạo sư Du già "Lama Tsong Khapa Guru Yoga" ở một
tu viện gần đó, có tên là Pema Choling, một chi nhánh trực thuộc tu viện
của Domo Geshe. Tôi chưa hiểu biết gì về thiền định. Tôi chỉ tụng các
lời cầu nguyện, đọc Migtsemas (lời cầu nguyện khi tu tập Lama Tsong
Khapa Guru Yoga-ND). Tôi cho là đã hoàn tất đợt nhập thất, nhưng tôi
không biết là đã tu như thế nào, cũng không biết đọc được bao nhiêu câu
chú.
Vào cuối năm 1959, cảm
thấy sắp bị nguy hiểm, chúng tôi quyết định đi Ấn Độ. Một ngày nọ, khi
nghe tin rằng vài ngày tới, người Trung hoa sẽ đến, chúng tôi bí mật bỏ
đi vào ban đêm. Chúng tôi chỉ cần vượt qua một ngọn núi là tới được nước
Bhutan. Chúng tôi vượt biên trong đêm tối, không thấy rõ đường, có lúc
lội xuống bùn và trượt chân. Có những người du mục ở ngay biên giới. Nếu
để họ thấy sẽ nguy hiểm vì nghe nói có công an ở cùng với họ, nhưng may
thay, dù có chó sủa nhưng không người du mục nào ra khỏi lều cả.
Cuối cùng chúng tôi cũng
đến được Ấn Độ. Chúng tôi đến Buxa Duar, xứ Tây Bengal; tại đây chính
phủ Ấn độ thu xếp cho các tu sĩ từ các tu viện Sera, Ganden và Drepung
được định cư tiếp tục tu tập. Khi còn là thuộc địa Anh, thì Buxa là nơi
giam giữ các tù nhân trong đó có Mahatma Gandhi, Nehru. Dãy nhà lúc
trước Mahatma Gandhi bị giam nay trở thành nơi các ni sư ở, và chỗ Nehru
bị giam nay trở thành phòng cầu nguyện của Tu viện Sera.
Tôi bắt đầu học triết lý
Phật giáo với Geshe Rabten Rinpoche, học cuốn các "Chủ đề Tập hợp"
(Collected Topics - Dura), một môn học tranh luận đầu tiên. Nhưng Geshe
Rabten có nhiều đệ tử và rất bận rộn nên một người học trò của Geshe là
Gen Yeshe, người vừa mới qua đời, hồi đó đảm nhận dạy tôi. Sau đó, tôi
theo học với Lama Yeshe.
Khi ở Buxa, tôi bị đau
phổi vì điều kiện sống quá thiếu thốn. (Dĩ nhiên đó không phải là lý do
duy nhất, mà còn do nghiệp của tôi nữa!). Sau đó Lama Yeshe và tôi đi
Darjeeling, ở lại đó chín tháng để tôi có điều kiện chữa bệnh. Và chính
trong thời gian đó, tức là năm 1965, khi chúng tôi đang ở trong tu viện
của Domo Geshe ở Darjeeling, chúng tôi lần đầu tiên gặp Zina Rachevsky,
một đệ tử từ phương Tây đến. Cha của Zina trước kia là một hoàng tử Nga,
nhưng gia đình đã trốn sang Pháp trong thời kỳ cách mạng Nga. Zina sinh
ra ở Pháp. Sau đó gia đình sang định cư ở Mỹ.
Zina muốn chúng tôi đi
định cư ở Sri Lanka và mở một trung tâm Phật Pháp ở đó. Chúng tôi đã xin
được phép của đức Dalai Lama và chính phủ Tây tạng, nhưng Zina gặp trở
ngại nên việc đi Sri Lanka bất thành. Vì tôi là người Nepal nên cuối
cùng chúng tôi quyết định đi Nepal.
Khi đến Nepal, chúng tôi
ở trong một tu viện Gelug gần Baudhanath Stupa, ngay ngoài thành
Kathmandu. Mỗi ngày qua cửa sổ, Lama chăm chú nhìn đến một ngọn đồi đặc
biệt. Ngài dường như bị ngọn đồi thu hút và vào một ngày nọ, chúng tôi
đi xem ngọn đồi đó. Đó là đồi Kopan.
Trong thời gian này, mẹ
tôi cùng một số bà con từ Solu Khumbu đi đến Kathmandu để hành hương. Cứ
mười hai năm một lần có một lễ hội đặc biệt và toàn thể cư dân vùng núi
Himalaya xuống núi đi hành hương đến thung lũng Kathmandu. Năm đó họ yêu
cầu tôi về lại quê nhà. Nên tôi về Solu Khumbu.
Vào dịp này, hang động
Lawudo được giao lại cho tôi, và tôi bắt đầu xây dựng tu viện Lawudo.
Lama Yeshe cũng đang xây dựng tu viện Kopan. Hai tu viện được xây dựng
cùng thời gian và cùng lúc đó tôi tìm thấy được quyển sách của Lodro
Gyaltsen.
Chuyển Hóa Tâm
"Khai mở Cánh cửa
Pháp" chủ yếu dạy về sự vô thường, cái chết và những nhược điểm của
ham muốn tức là những chướng ngại tạo nên bởi tám pháp thế gian (từ đây
sẽ dùng từ bát phong-ND). Bát phong, tức tám thứ lo phiền này, là:
1.
Vui sướng khi được lợi
(Lợi)
2.
Buồn khổ khi bị thiệt hại
(Thiệt hại)
3.
Muốn vui sướng (Sướng)
4.
Không muốn bất hạnh khổ sở (Khổ)
5.
Muốn nghe những lời ưa thích (Khen)
6.
Không muốn nghe những lời không ưa (Chê)
7.
Muốn được ca ngợi
(Vinh)
8.
Không muốn bị phê bình lăng mạ (Nhục)
Tôi không biết đến bây
giờ quyển sách này đã dịch ra tiếng Anh hay chưa. Về tư tưởng, quyển
sách này không phải khó hiểu nhưng có nhiều thuật ngữ cổ cần được giải
thích.
Vào lúc đó tôi đọc quyển
sách thấy rất bổ ích. Nó dạy rằng, giống như nhào nắn bột bằng tay, chắc
chắn bạn có thể chuyển hóa tâm theo cách bạn muốn. Tâm thức có thể được
luyện để đi theo hướng này hay hướng khác. Giờ đây cách suy nghĩ của tôi
không còn cứng ngắc, nhưng vào thời điểm đó, khi hiểu được một ít ý
nghĩa của giáo lý, tôi sẽ thấy khó chịu nếu có ai đến cúng dường (ý nói
Rinpoche muốn tự nghiêm khắc bản thân - ND).
Sau khi tìm thấy quyển
Khai mở Cánh cửa Pháp, tôi đã thực hiện một đợt ẩn tu hộ pháp bổn tôn
(deity). Tôi cho rằng nhờ quyển sách này tôi đã hiểu được cách thực hành
Pháp nên ngay ngày nhập thất đầu tiên tôi có được sự bình an hỉ lạc
không thể tin được. Lúc đó, ảnh hưởng của bát phong được giảm đôi chút
nên tâm tôi được tĩnh lặng hơn và thanh tịnh hơn. Giống như dẹp bớt đất
đá ngăn cản đường đi, tâm tôi bớt đi chướng ngại của bát phong. Đây là
điều đã làm cho đợt nhập thất ẩn tu đó thành công. Mặc dù trước khi nhập
thất tôi đã không đọc kỹ các lời hướng dẫn cho việc tu tập tantra (Kim
cang thừa-từ đây sẽ dùng từ tu tập tantra - ND) nhưng tôi đã nhận được
ân phước của hộ pháp bổn tôn vì chướng ngại trong tâm bớt đi.
Cố gắng kiểm soát tâm
bạn cho sạch hết chướng ngại rồi thì Pháp thanh tịnh trong tâm sẽ mang
bạn đến gần hộ pháp bổn tôn hơn. Mặc dù bạn có thể không quen với việc
thiền định nhưng ân phước của hộ pháp bổn tôn sẽ đến với bạn. Những dấu
hiệu tốt ban ngày lúc đang thiền định cũng như ở ban đêm trong giấc mơ
biểu lộ cho thấy hộ pháp bổn tôn hài lòng với bạn và đang ban ân phước
cho bạn. Dường như việc nhận được ân phước từ hộ pháp bổn tôn không tùy
thuộc duy nhất vào sự hiểu biết thiền định trong giai đoạn phát triển và
giai đoạn thành tựu của đạo lộ tantra.
(Dĩ nhiên bạn không thể
tiếp tục nhập thất nếu khi càng ẩn tu thì lung tức là gió, là bệnh bạn
có, càng phát triển nhiều hơn. Sau khi tiếp xúc với Phật giáo Tây tạng
bạn sẽ biết tất cả về lung. Trước đó bạn không biết nhiều về nó. Ở đây,
nguyên nhân chính của lung là không khả năng thực hành ý nghĩa chân thật
của Pháp, tinh túy của giáo lý này)
Kirti Tsenshab Rinpoche,
người nắm giữ Phật Pháp thiêng liêng đã nói: "Toàn bộ Kinh điển của
Phật (tiếng Tạng là Kangyur) và các luận giảng của các vị Tôn giả (tiếng
Tạng là Tengyur) đều nói tới sự điều phục tâm". Toàn bộ các lời dạy
này đều nhắm vào việc luyện tâm, chuyển hóa suy nghĩ. Toàn bộ Kinh điển
của Phật nói tới sự chuyển hóa tâm, điều phục tâm.
"Khai mở Cánh cửa
Pháp" dạy về chuyển hóa suy nghĩ như tôi đã lưu ý. Vì sao được gọi
là chuyển hóa suy nghĩ? Cái gì ngăn cản và làm mất hiệu quả việc chúng
ta lắng nghe, suy ngẫm ý nghĩa của giáo lý, thiền định về đường đạo mà
giáo lý nêu ra? Đó là bát phong, sự ham muốn bám chặt cuộc sống này. Mục
đích đặc biệt của cuốn luận giảng này là kiểm soát bát phong- đây là sự
chuyển hóa suy nghĩ.
Toàn bộ lời dạy của
Lamrim - con đường đạo từng bước đưa tới giác ngộ- là chuyển hóa suy
nghĩ. Mục đích chính của Lamrim là điều phục tâm. Đây là lý do tại sao
việc lắng nghe, suy ngẫm và thiền định về các lời dạy Lamrim rất lợi
ích. Khi các lời dạy khác không có hiệu quả thì việc nghe giảng và đọc
Lamrim có thể điều phục tâm bạn. Lamrim chứa đựng một sự sắp xếp đặc
biệt có thể điều phục được tâm thức.
Cuốn Lamrim đầu tiên
được biên soạn bởi Lama Atisha với tiêu đề "Ngọn đèn Soi đường tới
Giác ngộ". Tác phẩm đó bắt đầu bằng việc dạy quán về sự tái sinh
được thân người hoàn chỉnh - tám tự do và mười thuận lợi. Tuy nhiên đến
lượt Lama Tsong Khapa, ngài mở đầu cuốn sách bằng việc quán về sự sùng
mộ thầy, coi đó là gốc của đường đạo .
Giờ đây, chúng ta suy
xét xem cái gì ngăn cản sự phát triển đạo lộ từng bước đưa tới giác Ngộ
trong tâm ta, cái gì không cho phép chúng ta có được những thực chứng
đầu tiên về lòng sùng mộ thầy hay sự tái sanh thân người hoàn chỉnh.
Lại một lần nữa, đó là bát phong. Bát phong không cho phép việc thực
hành Lamrim trở thành Pháp. Cái gì không cho phép các hoạt động thường
nhật trở thành Pháp? Từ sáng sớm cho tới đêm khuya cái gì không cho phép
những hành động của chúng ta trở thành Pháp? Chính là bát phong, sự ham
muốn bám chặt cuộc sống này. Đây là trở ngại ngăn cản sự phát triển
Lamrim ở trong tâm ta từ lúc bắt đầu tu tập cho đến khi Giác Ngộ, nó
không cho phép chúng ta có được những thực chứng như s? sùng mộ thầy hay
sự tái sinh thân người hoàn chỉnh.
Chúng ta cần luyện tâm
bằng việc soi rọi lại những nhược điểm của bát phong và đối chiếu với
những lợi ích vô tận khi buông bỏ được bát phong. Đặc biệt, chúng ta
luyện tâm bằng sự Thiền định về vô thường và chết. Một khi sự luyện tâm
sơ khởi này được làm, bạn sẽ mở được cánh cửa Pháp. Rồi thì không chút
khó khăn bạn sẽ có khả năng thực hành Pháp. Và bạn sẽ có khả năng làm
được mọi hành động bạn muốn như nhập thất hay các Pháp hành khác. Nói
chung, mọi hành động bạn làm đều là Pháp. Ngoài ra, bạn còn có khả năng
bắt đầu phát triển trong tâm những thực chứng trên đường đạo từ lòng
sùng mộ thầy hay sự tái sinh thân người hoàn chỉnh cho tới sự giác ngộ.
Bạn có khả năng phát khởi, tiếp tục và hoàn tất con đường đạo đưa tới sự
giác ngộ trong tâm bạn.
Tất cả những kết quả này
đều đến từ sự luyện tâm ngay bước đầu tiên, đó là Khai mở Cánh cửa Pháp.
Nếu bạn thực hành được ý nghĩa của giáo lý này, bạn sẽ kiểm soát được
bát phong thay vì để chúng điều khiển bạn. Thay vì bị tước đoạt sự tự
do, bạn giành lấy sự tự do cho mình. Nếu không, bạn sẽ không có tự do,
không tự chủ độc lập.
2. HIỂU BIẾT CÁCH THỰC HÀNH
PHÁP
Cố gắng loại bỏ các
thái độ tiêu cực mang đến đau khổ, và gia tăng các thái độ tích cực mang
đến hạnh phúc.
ĐỘNG CƠ THÚC ĐẨY
HÃY CÓ một động cơ (tâm
nguyện) mong rằng, với sự lắng nghe từng lời trong cuốn luận giảng này
bạn sẽ có khả năng nhận biết được toàn bộ con đường đạo đưa tới giác ngộ,
nhất là bồ đề tâm. Hãy nguyện cầu sao cho điều này xảy ra tức thì, sao
cho bạn có thể khiến điều này cũng xảy ra cho tất cả chúng sanh hữu tình.
Hãy nguyện cầu rằng mỗi chữ trong luận giảng này nhiếp phục được tâm của
các chúng sanh hữu tình ngay tức thì. Hãy nguyện cầu rằng toàn bộ con
đường đạo đưa tới giác ngộ nhất là bồ đề tâm sẽ được phát triển trong
tâm của tất cả chúng sanh hữu tình.
Việc lắng nghe luận
giảng này sẽ làm lợi chính tâm của bạn và sau đó nhờ vào việc lắng nghe,
bạn sẽ có khả năng làm lợi kẻ khác. Khi bạn giải thích luận giảng này
cho người khác, mỗi lời nói sẽ có được nhiều năng lực bởi vì bạn đã xác
lập được động cơ muốn đem những lợi ích tối đa đến cho các chúng sanh
hữu tình khác. Nếu bây giờ bạn xác lập được động cơ như vậy trong khi
bạn đang lắng nghe luận giảng này thì sau này lời giảng của bạn sẽ có
khả năng điều phục tâm người khác rất nhanh và khiến họ phát sinh đường
đạo. Điều này sẽ xảy ra vì nhờ vào năng lực của tâm.
Lúc lắng nghe giáo lý,
sẽ rất ích lợi khi nghĩ rằng đây là cách thức mà tất cả chư Phật đang
dẫn dắt bạn. Nhiếp tâm được như vậy sẽ khiến cho bạn cảm nhận được mối
liên kết gần gũi hơn nữa với chư Phật. Hãy nghĩ rằng chư Phật đang giảng
cho bạn nghe, dẫn dắt bạn đạt tới hạnh phúc ở các đời sau, tới được giải
thoát và giác ngộ. Hãy cảm nhận được điều này trong lòng. Với sự thiền
quán như vậy, tâm bạn sẽ khiến bạn nhận được ân phước của tất cả chư
Phật.
Hãy nghĩ rằng: "Dù
mất bao nhiêu kiếp, dù khó khăn đến đâu tôi PHẢI đạt được trạng thái trí
huệ siêu việt của tâm (từ đây trở đi sẽ dùng từ Phật tánh), thoát khỏi
mọi chướng ngại, hoàn tất mọi chứng ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sanh
hữu tình là mẹ ở cùng khắp không gian. Do đó, tôi đang xác định rõ thái
độ đúng đắn để lắng nghe Pháp thiêng liêng, theo đúng những thực hành
truyền thống của các vị Lama trong dòng truyền thừa".
Trong thời gian ngắn
ngủi ở Bồ Đề Đạo Tràng linh thiêng quý báu này, nơi nhiều ân phước nhất
và vĩ đại nhất này, nơi một ngàn chư Phật sẽ hạ thế, chúng ta nhân cơ
hội này hãy tích luỹ công đức vô lượng nếu có thể. Cho nên hãy toàn tâm
toàn ý lắng nghe luận giảng này.
HÃY NẮM ĐƯỢC TINH TÚY
CỦA THÂN NGƯỜI QUÍ BÁU
Lodro Gyaltsen mở đầu
luận giảng Khai mở Cánh cửa Pháp bằng việc cung kính đảnh lễ xưng
tán vị thầy, chư Phật, chư Bồ tát, chư hiền thánh Tăng như sau:
Cầu mong sao giáo lý của Đức Phật, cội nguồn của mọi lợi lạc và hạnh
phúc của tất cả chúng sanh hữu tình, phát triển dồi dào. Con nguyện cầu
giáo lý được phát triển cùng khắp. Con nguyện cầu mọi chúng sanh hữu
tình nhận được ân phước vô lượng.
Tựa đề của luận giảng
được nhắc lại lần nữa: Khai mở Cánh cửa Pháp: Giai đoạn Đầu của
việc Tu Tâm trên đường Đạo Từng bước đến Giác Ngộ, và luận giảng được
tiếp tục như sau:
Con quỳ lạy dưới gót chân hoa sen vô nhiễm của đạo sư, người là một với
tất cả chư Phật và chư Bồ tát mười phương và con xin quy y đạo sư.
Với sự cung kính đảnh lễ dưới chân hoa sen của đạo sư, sự nương tựa vào
đạo sư, con nhận được mọi sự viên mãn. Với sự tôn kính và sùng mộ, con
xin đảnh lễ vị hộ pháp bổn tôn đạo sư.
Vì
thương yêu tất cả những người mà tự đáy lòng muốn thực hành Pháp, tôi sẽ
nói ra đây cách thức thực hành Pháp thiêng liêng. Để làm cho các trí giả
hoan hỉ, tôi sẽ tiết lộ bài học được trích dẫn từ các giáo lý của Đức
Phật cùng với các luận giảng của các vị tôn giả cũng như các lời dạy của
đạo sư. Hãy lắng nghe với sự tôn kính và sự tập trung nhất tâm.
Vị đạo sư mà Lodro
Gyaltsen quì lạy đảnh lễ là Khedrub Rinpoche, một trong những trưởng tử
tâm linh của Lama Tsong Khapa. Không chỉ riêng Lodro Gyaltsen tôn vinh
xưng tán Khedrub Rinpoche mà còn các thiên nhân như Brahma, Indra và tất
cả chúng sanh trong ba cõi. (Quyển sách nói tiếp - ND).
Từ
cửa miệng thiêng liêng của đạo sư quý báu, tinh hoa của chư Phật ba
thời, đã tuyên thuyết như sau: "Bạn phải giành lấy càng nhiều càng
tốt tinh hoa của đời người quí báu với (tám) tự do và (mười) thuận lợi
ngay lúc này. Để được vậy, bạn hãy xem xét sự khác nhau giữa tâm bạn và
tâm súc vật".
Hãy khảo sát tâm của một
con thú. Nó nghĩ "tôi muốn được sướng. Tôi không muốn bị lạnh. Tôi
không muốn đói." Nếu không nghĩ được điều gì khác hơn thế thì bạn
cũng không khác hơn con thú. Do đó việc nắm bắt cái tinh hoa của thân
người là rất quan trọng và để làm được vậy, bạn không nên bị ràng buộc
vào đời sống này.
Bồ tát Shantideva vĩ đại
cũng nói trong quyển Bồ Tát Hạnh như sau:
Thật cực kỳ khó khăn để có được thân người hoàn chỉnh này, mà ưu thế
được xác định bởi những tự do và những thuận lợi. Vậy nếu không quyết
tâm giành lấy những lợi lạc của thân người ngay bây giờ thì làm sao có
được lại thân người ở kiếp sau?
Khi hỏi làm sao bạn sẽ
có được một tái sinh thân người hoàn chỉnh khác nữa ở kiếp sau, câu hỏi
này ám chỉ rằng bạn sẽ không có được một thân người khác nữa trừ phi bạn
quyết tâm giành lấy lợi lạc từ chính thân người hiện tại này. Và tại sao
bạn cần giành lấy lợi lạc của thân người hiện tại để có một thân người
kiếp sau nữa? Tại vì bạn không muốn đau khổ và bạn muốn sung sướng.
Chẳng có ai lại muốn khổ đau và không muốn hạnh phúc. Với thân người
hiện tại hoàn chỉnh này chúng ta có cơ may tạo nhân duyên được hạnh phúc
và tránh khổ đau.
Hạnh phúc và khổ đau đến
từ tâm của bạn, không phải từ bên ngoài. Tâm bạn là nhân của hạnh phúc.
Tâm bạn là nhân của khổ đau. Để có được hạnh phúc và tránh khỏi đau khổ
bạn phải giải quyết tâm của bạn. Nơi giải quyết là ở ngay trong tâm bạn.
Bạn cần loại bỏ các yếu tố tinh thần nào, các suy nghĩ nào mang đau khổ
đến. Bạn cần xác định những cách suy nghĩ sai trái mang lại khổ đau cũng
như những cách suy nghĩ đúng đắn mang đến hạnh phúc. Bạn sẽ làm được như
vậy bằng cách nương tựa vào một giáo lý đúng, chẳng hạn như Phật Pháp.
Trong tâm của chính bạn - nơi giải quyết vấn đề - bằng sự lắng nghe, suy
nghĩ, Thiền định, bạn cố gắng loại bỏ các thái độ tiêu cực mang đến đau
khổ và phát triển các thái độ tích cực mang đến hạnh phúc.
Phân biệt đạo đức và phi đạo đức
Ngay lúc này đây, chúng
ta đã gặp được Pháp không sai lạc, đó là giáo pháp của Đức Phật đặc biệt
là giáo lý Đại Thừa - Cỗ xe Lớn - nó chỉ ra con đường đạo đưa tới giải
thoát trọn vẹn và giác ngộ viên mãn. Chúng ta đã gặp đạo sư của Đại
Thừa, chúng ta đang có thân người hoàn chỉnh tức là đã có đủ điều kiện
cho phép chúng ta đưa giáo lý vào thực hành.
Từ hôm nay, ngay giây
phút này chúng ta còn lại một số lượng này của năm, tháng, ngày, giờ,
phút, giây để sống. Từng mỗi ngày, giờ, phút, giây này là thời gian
quyết định nơi mà chúng ta sẽ đi tới khi đời này kết thúc. Từ nay cho
đến khi thoát khỏi luân hồi sinh tử, chúng ta chỉ có hai con đường để đi
sau khi chết: đến cõi luân hồi đau khổ hay cõi luân hồi sung sướng.
Không có con đường thứ ba. Từng mỗi ngày giờ, phút, giây này là thời
điểm để quyết định, để chuẩn bị. Bạn tự chọn lấy quyết định trong từng
ngày, giờ, phút, giây này cho đến khi cái chết xảy ra. Bạn có thể quyết
định tránh khỏi bị tái sinh làm chúng sanh ở các cõi luân hồi đau khổ và
được tái sinh ở các cõi luân hồi sung sướng. Mỗi ngày, mỗi phút này là
hết sức quan trọng bởi vì bạn đến gần cái chết hơn sau từng đó ngày,
từng đó phút. Bạn hãy suy nghĩ cho kỹ, soi xét tận đáy lòng của bạn. Bạn
đang có cơ hội để chọn và chuẩn bị đi đến nơi bạn muốn. Do vậy mỗi phút
giây đang có này sẽ cực kỳ quan trọng, cực kỳ quý báu.
Như ngài Long Thọ (Nagarjuna)
có nói trong Tràng hoa Quý báu (The Precious Garland):
Các hành động được thúc đẩy bởi tham, sân, si là phi đạo đức. Từ những
hành động này xuất hiện tất cả chúng sinh luân hồi đau khổ. Từ những
hành động đạo đức xuất hiện tất cả chúng sinh luân hồi luôn sung sướng
trong tất cả các đời.
Như ngài Long Thọ giải
thích, mọi sự - từ hạnh phúc tạm thời đến hạnh phúc vĩnh cửu, từ những
việc khó khăn bất lợi từ đây trở đi sẽ dùng từ "vấn đề") xảy ra
từng ngày đến những đau khổ về sau ở các cõi luân hồi không dứt, tất cả
đều tùy thuộc vào tâm bạn, tuỳ thuộc vào các hành động đạo đức hay phi
đạo đức của riêng bạn.
Mỗi hành động liên quan
đến hai động cơ thúc đẩy: động cơ nhân và động cơ ngay lúc hành động.
Động cơ nhân là động cơ gốc của hành động, là suy nghĩ đầu tiên mà nó
xuất hiện trong tâm để tác hành: nó là nghiệp của tâm, là hành vi khởi
đầu. Còn động cơ ngay lúc hành động là suy nghĩ của bạn đang khi bạn bị
thúc đẩy mà hành động theo bằng thân hay lời: đó là hành động tiếp nối
của tâm.
Cho nên, nghiệp liên
quan đến các suy nghĩ của tâm. Mang thân của kiếp luân hồi sung sướng (ở
cõi trời hay cõi người) hay mang thân của kiếp luân hồi đau khổ (ở địa
ngục, ngã quỉ, súc sinh) tất cả đều là tạo tác của tâm bạn, những kiếp
luân hồi này được tạo nên bởi cách suy nghĩ của bạn, bởi các động cơ của
bạn, chủ yếu là động cơ nhân.
Bạn không thể quả quyết
chắc chắn là sẽ không sinh vào đọa xứ trừ phi bạn đạt được mức độ nhẫn
nhục trong giai đoạn chuyển hóa (tức gia hành đạo). Và khi bạn đạt được
mức độ này bạn sẽ có được sự tin tưởng trọn vẹn là sẽ không sinh vào đọa
xứ. Khi đạt được giai đoạn kiến đạo, bỏ được lòng tham, bạn không tạo ra
những nghiệp xấu ác mới, tức là nhân mới của luân hồi.
Nếu bạn không chấm dứt
được các chướng ngại do vọng tưởng thì chỉ có hai con đường tái sinh sau
khi chết: các cõi thấp hay các cõi cao. Và nghiệp của bạn, tác hành của
tâm, là động cơ sẽ quyết định đường nào phải đi.
Dromtonpa, trưởng tử tâm
linh của Lama Atisha đã hỏi: "Các hành động được thúc đẩy bỡi bát
phong sẽ đưa đến kết quả gì?" Lama Atisha trả lời: "Kết quả là
chính nó" Tôi (Lama Zopa Rinpoche) nghĩ "chính nó" có nghĩa
là hoàn toàn đau khổ. Và muốn câu trả lời được rõ hơn, Dromtonpa liền
hỏi tiếp "sẽ là quả gì ở các kiếp sau?" Lama Atisha trả lời: "Địa
ngục, ngã quỉ, súc sinh". Điều này có nghĩa rằng bất kỳ hoạt động
nào được làm bởi những suy nghĩ bát phong, dính mắc vào cuộc sống này,
đều là phi đạo đức.
Nói chung, mười điều phi
đạo đức nêu ra sau đây, là những dẫn giải về các nghiệp bất thiện và khi
quả được chín sẽ tái sanh vào các cõi thấp: sát sanh, trộm cướp, tà dâm,
nói láo, nói lời độc ác, nói chia rẽ, nói thêu dệt, tham lam keo kiệt,
ác ý, tà kiến. Có những ví dụ khác như đối với một tu sĩ thọ giới đầy đủ
sẽ có một loạt các nghiệp bất thiện phải tránh như đánh người, bỏ giới
luật, sám hối một mình. Trong các bài giảng Lamrim Giải thoát Trong
lòng Bàn tay, Pabongka Dechen Nyingpo nói rằng đánh người đưa đến
quả sẽ sinh vào địa ngục nóng và đau không thể nào chịu nổi, còn việc bỏ
giới sẽ sinh vào Địa ngục Đen, nhẹ nhất trong các giới luật là sám hối
một mình sẽ tái sanh vào Địa ngục Sống lại.
Trong khi thực hành các
phép tịnh hóa như thiền định Kim Cương Tát Đỏa, lễ lạy, cũng như sám hối
các việc làm phi đạo đức, việc nhớ lại và hiểu rõ định nghĩa về phi đạo
đức là rất quan trọng: đó là, những việc làm bỡi bát phong, dính mắc vào
đời sống này, đều là phi đạo đức. Nhớ lại định nghĩa bao quát này về thế
nào là hành động phi đạo đức, chúng ta sẽ có một tầm nhìn rộng rãi về
nghiệp bất thiện cần được tịnh hóa, bằng không, những gì chúng ta sám
hối sẽ rất hạn chế. Và không chỉ nghĩ nhớ lại những việc làm trong đời
hiện tại mà còn hình dung tất cả các hành động trong vô số kiếp đã tái
sinh.
Mặc dù chúng ta nghĩ
rằng chúng ta đang thực hành Pháp, nhưng hoặc chúng ta không có động cơ
hoặc động cơ quá yếu nên việc thực hành không được trọn vẹn. Chúng ta
đang trì chú nhưng tâm bị xao lãng, nên công đức yếu kém và vào cuối
thời khóa chúng ta không cúng dường công đức vừa mới tích lũy hay cúng
dường với tâm kiêu hãnh nên công đức cũng sẽ yếu kém. Hoặc dù có hồi
hướng công đức cho việc thành tựu Giác Ngộ nhưng để sân hận và ganh tị
xuất hiện sẽ phá huỷ công đức và làm chậm những kinh nghiệm chứng ngộ
trong nhiều kiếp.
Chúng ta tạo phước đức
rất nhỏ, ít thiện nghiệp và khi có được phước đức thì cũng không trọn
vẹn. Trong khi đó chúng ta lại tạo những nghiệp bất thiện rất mạnh. Nếu
cái chết xảy ra bây giờ chắc chắn chúng ta sẽ tái sanh đọa xứ. Và nếu
sinh ra ở đó, chúng ta sẽ không có cơ hội tu tập Pháp cho hạnh phúc đời
sau và cho sự giác ngộ. Sẽ không có cơ hội để tu tập Pháp cho mình và
cho người khác. Chúng ta ngập chìm trong khổ đau và rồi tạo thêm ác
nghiệp. Cũng vậy, khi chết và tái sinh trong các cõi thấp, chúng ta tiếp
tục lang thang trong luân hồi bất tận.
Chúng ta không chỉ đến
gần cái chết khi từng phút giây qua đi mà chúng ta còn đến gần các địa
ngục nóng hay lạnh. Trước đây tôi đã lưu ý sự đến gần cái chết nhưng
trên thực tế còn tệ hơn nữa, chúng ta đến gần các đọa xứ.
Ba mức độ hạnh phúc
Nếu bạn hiểu được Lamrim,
con đường đạo từng bước đến giác ngộ, bạn sẽ biết những lợi lạc với thân
người hoàn chỉnh này. Mức độ đầu tiên là hạnh phúc ở các kiếp sau, có
nghĩa là sẽ nhận được thân của chúng sanh luân hồi sung sướng như thiên
nhân hay thân người. Mức độ thứ hai là giải thoát khỏi luân hồi, vĩnh
viễn thoát khỏi gông cùm của nghiệp và vọng tưởng (phiền não). Mức độ
thứ ba là đạt được trạng thái vô ưu vô trụ, Giác Ngộ viên mãn, dứt bỏ
hẳn hai loại chướng: chướng bởi vọng tưởng và chướng che lấp trí huệ
siêu việt.Ba lợi lạc này, nói cách khác là ba mức độ hạnh phúc, là điều
Shantideva đã đề cập trong câu thơ nêu ra ở trước, và Shantideva lưu ý
chúng ta phải đạt được chúng một khi đang có thân người tái sanh hoàn
chỉnh hiện tại này.
Để nhận được ba lợi lạc
này chúng ta cần đi theo các con đường đạo từng bước của ba mức độ của
ba loại chúng sinh có căn cơ. Mức đầu tiên là sơ căn, được mô tả theo
cách sau đây bởi Lama Atisha trong quyển Ngọn đèn Soi đường đến Giác
Ngộ. Ngài nói rằng nếu động cơ chỉ nhắm tới việc cắt đứt hoàn toàn sự
bám chặt vào cuộc đời này và đạt được thân của chúng sanh luân hồi sung
sướng ở kiếp sau thì nhờ vào việc nhận ra những sai trái của hành vi phi
đạo đức, hành giả buông bỏ mười điều ác, làm mười điều thiện. Người này
vì bảo vệ được nghiệp (làm lành lánh dữ - ND), sống đạo đức, mong có
hạnh phúc đời sau, nên là một chúng sanh sơ căn.
Với mức độ thứ hai tức
trung căn, hành giả thấy được rằng toàn bộ cõi luân hồi -vọng tưởng cùng
với nghiệp sẽ tạo ra các uẩn này - chỉ là đau khổ. Vì bị ô nhiễm bởi mầm
mống vọng tưởng nên các uẩn lại tạo ra luân hồi kiếp sau lần nữa. Khi
thấy biết luân hồi toàn là đau khổ như trong nhà lửa, người này sẽ quay
lưng với luân hồi sanh tử, quyết tâm buông bỏ luân hồi. Họ hoàn toàn
không còn bị luân hồi, kể cả những gì tốt đẹp nhất của luân hồi, cám dỗ.
Mong muốn của các chúng sinh trung căn là thoát khỏi luân hồi, khỏi gông
cùm của nghiệp và vọng tưởng, và phương pháp để đạt được điều này là
thực hành con đường đạo của ba tu tập cao hơn, đó là Giới, Định và Huệ
(Tam vô lậu học-ND).
Bây giờ ở mức độ thứ ba,
người thượng căn, hoàn toàn từ bỏ sự nuông chiều mình, thay vào đó là
chăm lo chúng sinh khác, mong muốn đạt giác ngộ tối thượng vì lợi ích
của chúng sanh. Phương pháp để đạt được ước nguyện này là thực hành
đường đạo của thừa nhân tức Đại Thừa (Paramitayana), họ tu tập lục độ
paramitas của một vị Bồ tát (Bố thí, Nhẫn nhục, Trì giới, Tinh tấn,
Thiền định, Trí tuệ). Trên căn bản này người thượng căn cũng tu thừa quả
tức là Kim cang thừa (Vajrayana).
Việc tu tập con đường
thượng căn tùy thuộc vào việc tu tập con đường từng bước của trung căn,
một cách tổng quát, họ cần có thái độ hoàn toàn buông bỏ luân hồi và tu
tập Tam vô lậu học. Và đến lượt việc tu tập con đường trung căn phải tùy
thuộc việc tu tập con đường từng bước của sơ căn, điều này có nghĩa là
một cách tổng quát, họ phải có thái độ dứt bỏ sự bám chặt vào cuộc đời
này và tu tập Giới hạnh như mười điều thiện. Thuật ngữ một cách tổng
quát được dùng ở đây bởi vì thái độ và sự thực hành của đường đạo
thứ nhất làm nền tảng cho đường đạo thứ hai và thứ ba, và thái độ và sự
thực hành của đường đạo thứ hai làm nền tảng cho đường đạo thứ ba.
Khai mở Cánh cửa Pháp
cũng mô tả ba đường đạo như sau:
Bất kỳ ai thực hành Pháp hay các hoạt động thế gian với mong muốn tái
sanh ở cõi trời hay cõi người trong kiếp sau thì được gọi là chúng sanh
sơ căn. Mọi hoạt động vì động cơ này sẽ là nhân cho cõi luân hồi mà
thôi. Bất kỳ ai muốn giải thoát khỏi luân hồi và họ thực hành Pháp quay
lưng với các pháp thế gian thì được gọi là chúng sanh trung căn. Những
hoạt động như vậy được gọi là thiện đức và là nhân cho sự giải thoát
khỏi luân hồi sanh tử.
Bất kỳ ai mà có những hoạt động không chỉ nhằm đạt được sự tự giải thoát
mà còn nhắm tới sự giải thoát tất cả chúng sanh thì người đó được gọi là
chúng sanh thượng căn. Những hoạt động này là nhân cho sự thành tựu giác
ngộ.
Ba
loại chúng sanh này được phân biệt hoàn toàn căn cứ theo tâm.
Một chúng sanh có căn cơ
phải là một trong ba loại chúng sanh vừa mô tả ở trên. Chúng ta phải soi
rọi lại tâm mình, xem có thuộc vào một trong ba loại này hay không. Nếu
không, chúng ta cố gắng đi vào được ba loại căn cơ đó.
Súc sinh mang thân người
Như Panchen Lama Losang
Chokyi Gyaltsen có giải thích trong luận giảng của Ngài về quyển Ngọn
đèn Soi đường đến Giác Ngộ của Lama Atisha như sau:
Những ai sống trên đời chỉ nhắm đạt tới được hạnh phúc của đời này thì
thực ra không phải là chúng sanh có căn cơ - họ là những chúng sinh tầm
thường.
Các sinh vật chẳng hạn
như chuột, muỗi không nghĩ gì khác hơn ngoài sự vui sướng của đời hiện
tại, và mọi hoạt động của chúng chỉ để tìm kiếm điều đó thôi. Cho nên
chúng là những chúng sinh tầm thường. Những gì chúng nó làm chỉ nhắm tới
cuộc đời này chứ không có gì đặc biệt. Khi có được thân người đặc biệt,
thân người hoàn chỉnh, chúng ta phải luôn cố gắng làm sao để không giống
như những chúng sinh tầm thường, những súc sinh ngu muội. Các hoạt động
của chúng ta không thể giống như con vật. Nói cách khác, chúng ta không
nên sống một cuộc sống y như các sinh vật không phải con người - các
sinh vật đó không có được một thân người quý báu.
Đạt được điều này hay
không tùy thuộc vào thái độ của chúng ta. Chúng ta phải luôn canh chừng
tâm của mình, coi tâm như một đối tượng mà ta luôn quán sát nó. Chúng ta
phải là thám tử theo dõi tâm. Điều này sẽ cho chúng ta sự tự do, cho
phép chúng ta nhận ra cách suy nghĩ sai trái hay còn gọi là động cơ phi
đạo đức, đồng thời cũng nhận ra cách suy nghĩ đúng đắn hay còn gọi là
động cơ đạo đức. Cảnh giác nhận biết các thái độ của chính mình sẽ giúp
chúng ta có được sự tự do để chuyển hóa tâm từ phi đạo đức thành ra đạo
đức. Được như vậy, đời ta mới vượt trội hơn đời của một súc vật và chúng
ta mới hoàn thành được mục tiêu với tư cách một con người. Cụôc sống trở
nên có ý nghĩa. Nếu không được như thế thì, giống như một diễn viên trên
sân khấu mang mặt nạ hay mang y phục của một vị thần trong điệu vũ tôn
giáo, chúng ta đang mang một mặt nạ con người trong khi ở trong tâm,
chúng ta là một súc sinh. Chúng ta là một súc sinh mang thân người.
Trong tác phẩm Bồ Tát
Hạnh, ngài Shantideva vĩ đại có nói:
Đã
nhận được sự tự do này một lần, nếu tôi không luyện tâm cho được đạo đức
thì tôi làm gì được khi tôi tái sinh trong các đọa xứ,với vô minh và
khổ đau bất tận?
Thật y như một giấc mơ
đẹp vì đang có được thân người quý báu này với tám tự do và mười thuận
lợi; giống như người hành khất tìm thấy một triệu đô la trong thùng rác.
Shantideva khẳng định
rằng nếu chúng ta không luyện tâm cho được đạo đức, chúng ta sẽ sinh vào
các đọa xứ mà tiếng Tây tạng gọi là ngen-song. "Ngen" có nghĩa là
"xấu ác" chỉ cho nghiệp bất thiện. "Song" có nghĩa "đi
tới". Nghĩa của từ này: vì nghiệp bất thiện một người phải đi tới;
tâm thức sẽ di trú vào thân một súc sinh, một qui đói hay một chúng sinh
địa ngục.
Nếu một chúng sinh sinh
ra trong thân một con chó, một con heo hay một con sâu chẳng hạn, chúng
sinh đó sẽ ngu muội đến nỗi không có được tự do để hiểu được các ý nghĩa
của đạo đức và phi đạo đức. Dù có ai ghé sát lỗ tai một con vật giải
thích ý nghĩa về đạo đức hay phi đạo đức đó hằng bao nhiêu kiếp thì
không có cách nào để con vật hiểu được ý nghĩa muốn nói. Đó là lý do tại
sao ngài Shantideva nói "một khi tôi sinh ra trong đọa xứ mê muội và
đau khổ bất tận thì tôi còn làm gì được?". Vào lúc đó chúng ta không
thể làm gì được, đối với chúng ta mọi sự đã chấm dứt. Cho nên trước khi
có thể tái sanh trong các cõi bất hạnh đó chúng ta hãy khôn ngoan nhanh
chóng thực hành Pháp.
Khi có được thân người
quý báu này, bạn sẽ tự do luyện tâm mình cho được đạo đức, luyện tâm
theo Pháp, cho nên, bạn hãy tích lũy nhiều thiện hạnh, đặc biệt thiện
hạnh chính sẽ là tập trung nỗ lực luyện tâm trên đường đạo từng bước đến
giác ngộ để có được ba loại căn cơ. Điểm chính là luyện tâm theo Lamrim.
Thiền định về Lamrim
Trong luận giảng Lamrim,
ngài Pabongka Dechen Nyingpo giải thích rằng việc thiền định trực tiếp
về Lamrim là rất tốt cho dù chỉ thiền định lời cầu nguyện Lamrim mà Lama
Tsong Khapa đã viết trong tác phẩm Nền tảng của mọi Phẩm tính Tốt.
Thiền định trực tiếp có nghĩa là chúng ta trì tụng lời cầu nguyện
Lamrim, luôn luôn nhất tâm với các ý nghĩa của lời cầu nguyện và nhờ vậy
sự thực hành sẽ trở thành sự Thiền định trực tiếp về toàn bộ con đường
đạo đến giác ngộ. Sự thiền định này quan trọng hơn nhiều so với việc trì
tụng câu chú hay thậm chí cũng quan trọng hơn gặp được Phật. Điều này có
thể giải thích được. Tại sao? Ở trong kỳ nhập thất ẩn tu, tại sao chúng
ta thiền quán Đạo sư Du già, quán tưởng sự bất khả phân giữa đạo sư và
vị hộ pháp bổn tôn? Tại sao chúng ta thiền quán các vị hộ pháp bổn tôn
và trì tụng các câu chú rất nhiều biến (lần) như vậy? Là để giúp chúng
ta thành tựu con đường đạo Lamrim. Nếu chúng ta không hiện thực hóa được
ba căn bản của con đường đạo đến giác ngộ (từ đây trở đi, ba căn bản
được hiểu là gồm có: buông bỏ, bồ đề tâm, tánh Không-ND) thì chúng ta sẽ
không thể thành tựu được con đường Tantra. Chúng ta có thể có một số
kinh nghiệm đến một mức độ nhất định nhưng không thể thành tựu được con
đường đó.
Nói ví dụ, nếu không
thực chứng tánh Không thì không thể nào đạt được Tịnh quang (Chân
như-ND), thân huyễn hay sự hợp nhất của địa vị Vô lậu học giữa thân
thiêng liêng thanh tịnh nhiệm mầu hoàn hảo và tâm thiêng liêng nhiệm mầu
hoàn hảo. Cũng vậy, nếu không có được ít nhất là mức tâm bồ đề có dụng
công thì ngay cả việc Thiền quán nội hỏa cũng không tạo được nhân cho
giác ngộ. Không có sự chứng ngộ hiện thực về bồ đề tâm thì không thể
thực chứng được Tịnh quang và thân huyễn của giai đọan thành tựu. Để đạt
được Tịnh quang, nhân của Pháp Thân (dharmakaya) và thân huyễn,
nhân của Sắc Thân (rupakaya) hành giả cần tích lũy vô lượng công
đức. Nhân tố giúp tích lũy vô lượng công đức cần có để đạt đến Tịnh
quang và thân huyễn, chính là bồ đề tâm.
Khi nhập thất ẩn tu về
các hộ pháp bổn tôn, chúng ta trì tụng chú để cho chúng ta có khả năng
có được những chứng ngộ Lamrim bên trong tâm chúng ta. Chúng ta thực
hành phép tu Đạo sư Du già để nhận được các ân phước để có thể thể hiện
được đường đạo Lamrim trong tâm chúng ta. Mọi việc được làm là nhắm tới
lý do này.
Sẽ không có cách nào đạt
giác ngộ, thành tựu đường đạo Tantra trừ phi ba căn bản được thực chứng
trong tâm bạn. Cho dù hành giả có khả năng trì tụng hàng triệu chú và
thậm chí thấy được Phật, cũng không có cách nào đạt đến giác ngộ trừ phi
người đó thực hiện được ba căn bản của đường đạo. Những gì Ngài PabongKa
Dechen Nyingpo nói ở đây thật có ý nghĩa. Để hoàn thành đường đạo
Tantra, hành giả phải luyện tâm trên đường đạo chung, đó là ba căn bản
của đường đạo, là lamrim; không thể bỏ qua nó được.
Thiền định trực tiếp
Lamrim dù chỉ một lần cũng quý hơn các phép tu tập khác bởi vì nó để lại
dấu ấn về toàn bộ đường đạo đến giác ngộ trong dòng tâm thức tương tục,
khiến sớm muộn gì cũng sẽ hiện thực hóa được toàn bộ con đường. Đây
chính là những gì thực sự sẽ mang chúng ta đến giác ngộ. Nếu bỏ qua việc
thiền định Lamrim thì cho dù chúng ta ẩn tu bao nhiêu lần hay tu tập bao
nhiêu phép tu khác, chúng ta sẽ không tìm thấy sự thay đổi nào trong
tâm. Ngay cả sau khi trì tụng chú đến hàng triệu biến, mòn cả xâu chuỗi
và ngón tay thì tâm vẫn chẳng thay đổi gì.
Tại sao không có gì xảy
ra? Tại sao không có sự thay đổi trong tâm? Tại sao chẳng có sự chứng
ngộ nào? Tâm của ta vẫn giữ nguyên mức độ - hay có khi còn tệ hơn - bởi
vì trên thực tế, chúng ta không luyện tâm theo Lamrim, đường đạo từng
bước đến giác ngộ. Sẽ có nguy hiểm khi bỏ qua sự thực hành cốt lõi này
giống như bỏ qua thân cây và lại đi tìm kiếm các cành cây.
Ở phương Tây có nhiều
loại hình thi đấu : đua xe, đua ngựa, chạy bộ, đi bộ. Và cũng ngay ở đây
khi đi tìm hạnh phúc cho các đời sau hay sự giải thoát và giác ngộ,
chúng ta nên có cuộc đua giữa việc tu tập Pháp với cuộc đời này. Hoặc ít
nhất chúng ta nên cố làm cho hai điều đó ngang bằng nhau. Trong khi cuộc
đời qua đi từng phút, từng giờ, từng ngày - thì chúng ta nên thực hành
Pháp làm cho nó ngang bằng với cuộc đời. Như đức Dalai Lama thường nói:
"Nếu ta không thể khiến cho toàn bộ thời gian trọn ngày trở thành Pháp
thì cũng làm cho ít nhất nửa ngày trở thành Pháp" (và nói như vậy, không
có nghĩa là bạn tu tập Pháp từ sáng sớm cho tới buổi trưa và sau đó
không tu tập nữa).
3.
BUÔNG BỎ CUỘC ĐỜI NÀY
Lama
Atisha đã trả lời: "Hãy buông bỏ cuộc đời này
trong tâm bạn!"
Lama
Atisha
LAMA ATISHA, người đầu
tiên viết luận giảng Lamrim với tựa đề Ngọn đèn Soi đường đến Giác
ngộ, là một tôn giả vĩ đại với kiến thức và thực chứng vô lượng,
người giúp phổ biến Pháp hết sức sâu rộng.Ngài đã thành tựu ngũ minh (năm
tri thức-ND) thể hiện trí huệ siêu việt, thiền định nhất tâm và luôn
được nhiều hộ pháp bổn tôn hộ trì. Ngài xây rất nhiều chùa, tu viện ở
Ấn Độ, Tây Tạng và Nepal. Ngài thọ bảy mươi hai tuổi (từ năm 982 đến năm
1054) trong đó có 17 năm ở Tây Tạng.
Nhờ lòng tử tế của Ngài
Lama Atisha khi viết Ngọn đèn Soi đường đến Giác ngộ mà giờ đây
những ai đã gặp Lamrim sẽ không thể nhầm lẫn và biết mình bắt đầu ở đâu
trên đường đạo từng bước đến giác ngộ. Những ai chưa gặp Lamrim sẽ không
biết bắt đầu tu tập từ chỗ nào. Dù một người đã nghiên cứu rất nhiều
kinh luận nhưng nếu bạn hỏi họ "ông bắt đầu tu tập như thế nào?"
thì họ không biết làm sao trả lời. Và nếu có trả lời thì sẽ lầm lẫn
trước thành sau, họ sẽ nói những phép tu tập ở khoảng giữa trước khi bàn
tới bước khởi đầu của đường đạo.
Chúng ta rất ư may mắn,
vì khi viết Ngọn đèn Soi đường đến Giác ngộ, Ngài Atisha đã hợp
nhất được toàn bộ các con đường Kinh thừa và Tantra thừa của Đức Phật -
Tiểu thừa, Đại thừa, Tantra thừa. Từ đó Ngài soạn thành một đường đạo
trọn vẹn, một phép tu từng bước, và ai thực hành đều có thể đạt tới giác
ngộ. Về phương diện giáo lý, luận giảng trình bày mọi việc rất rõ ràng,
vấn đề duy nhất là, chúng ta không chịu tu tập.
Lama Atisha có nhiều học
trò nổi tiếng : những người nổi tiếng ở Ấn Độ như tôn giả Bhumisara và
Vua Mahapali, và ở Tây tạng, ngoài trưởng tử tâm linh là Dromtonpa còn
có ba vị Geshe Kadampa: Gonpawa, Naljor Chaktri Chok và Jangchub Rinchen.
Còn có nhiều học trò khác nữa chẳng hạn như cháu trai của Vua Yeshe Od
là Jangchub Od, Rinchen Zangpo, và Lotsawa Nagtso. Ngay cả những đệ tử
của Lama Atisha cũng có được phẩm tính vô lượng như đã đề cập trong tiểu
sử của họ.
Khi Lama Atisha sắp qua
đời, Geshe Naljor Chaktri Chok có nói với ngài: "Sau khi thầy qua đời
con sẽ hiến trọn đời mình cho thiền định". Lama Atisha trả lời: "Hãy
nên từ bỏ tất cả việc gì được coi là hành vi xấu". Lama Atisha đã
không nói rằng thiền là tốt, ngài không nói: "Ô! vâng, như vậy là tốt"
thay vào đó, ngài nói "Hãy buông bỏ việc gì được coi là hành vi xấu".
Rồi Naljor Chaktri Chok
nói tiếp với Lama Atisha: "Thôi được, con sẽ thỉnh thoảng giảng Pháp,
thỉnh thoảng thiền định". Lại lần nữa Lama Atisha lập lại câu trả
lời như lần trước. Naljor Chaktri Chok suy nghĩ thêm rồi nói ra một đề
xuất khác. Nhưng dù Naljor có nói gì, Lama Atisha vẫn giữ nguyên câu trả
lời cũ. Cuối cùng Naljor Chaktri Chok hỏi: "Vậy con phải nên làm gì?"
Lama Atisha đáp: "Hãy buông bỏ cuộc đời này trong tâm".
Khắc ghi lời dạy này
trong lòng, Naljor Chaktri Chok đã vào rừng bách xù gần Tu viện Reting,
sống không khác gì một con thú ở trong rừng. Ở đây không đề cập đến tâm
của ông ta - chỉ nói tới thân. Ông ta sống cô độc, không gặp ai cả và
qua đời ở đó.
Dromtonpa
Dromtonpa là người phiên
dịch của Lama Atisha; Ngài sinh ra ở phía Bắc Lhasa, rất gần với Tolung,
nơi sinh của Lama Yeshe. Đây là một nơi thiêng liêng ở đó Lama Tsong
Khapa đã thấy được Guhyasamaja và Mahakala. Và trong thời gian hành
hương đến Tây tạng năm 1987 tôi (Lama Zopa Rinpoche) đã ban lễ quán đảnh
Quán Thế Âm Bồ Tát ở đó. Đây cũng là nơi các tu sĩ của Trường Cao đẳng
Tantra sơ cấp học giáo lý gốc tantra do tu viện trưởng dạy, học hát tụng
lời cầu nguyện, và dự các kỳ thi. Dường như Dromtonpa đã sinh ra rất gần
nơi đó.
Đức Tara đã tiên đoán
việc ra đời của Dromtonpa, Ngài là hiện thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Đức
Tara tiên đoán Dromtonpa sẽ là người nắm giữ Phật Pháp, tâm thiêng liêng
của ngài sở hữu vô hạn năng lực hiểu biết Kinh điển cùng những thực
chứng và Ngài linh kiến (thấy) được các hộ pháp bổn tôn với số lượng
không thể nghĩ bàn.
Trước khi đến vùng Trung
Tây tạng và trở thành người phiên dịch cho Lama Atisha, Dromtonpa đã
sống ở vùng Kham, làm thị giả cho Lama Setsuen. Sau khi gặp Lama Atisha,
Dromtonpa đã hỏi Ngài điều gì là phép tu tốt nhất trong số những thực
hành mà bản thân (Dromtonpa) đã làm. Dromtonpa đã kể cho Lama Atisha
nghe về những phép thực hành của mình. Ngài cũng nói ra những nỗi cực
nhọc khi phục dịch cho Lama Setsuen. Ban đêm Ngài phải mang vũ khí canh
chừng đàn gia súc. Ban ngày Ngài phải làm việc quần quật suốt ngày. Ngài
đốt các đống lửa. Ngài đưa lưng để cho bà vợ của Lama Setsuen ngồi lên
vắt sữa. Có những lúc vừa mang vật nặng trên lưng, tay vừa xe dây thừng
bằng lông gia súc, chân vừa đạp vừa phết bơ lên tấm da súc khô để làm
cho nó mềm đi. Trong nhiều năm Ngài đã làm việc như thế - nhiều việc
cùng một lúc. Dromtonpa kể cho Lama Atisha biết mọi sự. Lama Atisha nói:
"Trong số những điều ông đã làm thì những việc cực nhọc mà ông phục
dịch cho Lama Setsuen mới là Pháp thực sự".
Dromtonpa chân thành
dâng hiến cuộc đời cho Lama Atisha trong suốt mười bảy năm ròng. Từ lúc
gặp Lama Atisha, Dromtonpa luôn luôn ở bên cạnh thầy. Hằng đêm ngài thắp
đèn bơ dâng cho thầy, để thầy khỏi bị tối.
Dòng truyền thừa của các
Geshe Kadampa bắt đầu từ Dromtonpa. Ngài có nhiều đệ tử, trong đó có ba
vị xuất sắc nhất, thường được biết là ba đệ tử chính; đó là Geshe Potowa,
Geshe Chen-ngawa và Geshe Puchungwa; họ là những người nắm giữ Phật Pháp
với vô lượng thực chứng .Sau khi thành lập Tu viện Reting vào năm 1057,
Dromtonpa sống thêm bảy năm nữa, tổng cộng ngài sống được năm mươi mốt
tuổi.
Dromtonpa không phải là
một tu sĩ mà là cư sĩ giữ năm giới nguyện. Khi quán tưởng các vị Lama
truyền thừa của Lamrim, bạn hãy quán Dromtonpa là một người dân du mục
Tây tạng, mặc áo chupa dày màu xanh làm bằng tấm da súc.
Dromtonpa luôn luôn mặc
quần áo cũ rách. Đôi khi ngài khoát vội lên người chiếc áo chuba không
có tay áo, rồi đi vào rừng bách xù. Cắm hai hay ba cái cọc vào nhau rồi
choàng một tấm đan bằng lông thú lên, như các dân du mục Tây tạng thường
làm, Dromtonpa ngồi thiền định trong một chỗ nhỏ như vậy. Khi đi xuyên
qua rừng, Dromtonpa thỉnh thoảng trì tụng đoạn văn ngắn trích từ Bức thư
gửi Bạn của Ngài Long Thọ:
Được, mất, sướng, khổ, khen, chê, vinh, nhục những bát phong này không
phải là chuyện của tâm tôi. Tất cả bát phong đó đối với tôi là giống
nhau.
Ngài cũng trì tụng một
đoạn trong quyển Bồ Tát Hạnh như sau: "Tôi là người đi tìm giải thoát.
Tôi không muốn bị ràng buộc với việc thọ nhận sự cúng dường hay sự tôn
kính". Đôi khi ngài trì tụng cả đoạn, đôi khi ngài chỉ đọc câu đầu
của đoạn văn. Trong khi đọc, ngài thường lắc đầu; ý muốn diễn tả rằng
ngài chẳng cần nhận vật dụng hay nhận sự tôn kính nào cả.
Các Geshe Kadampa thường
nói: "Đối với bản thân, Dromtonpa không cần sống một cuộc sống khổ
hạnh, nhưng sở dĩ ngài làm vậy là để các đệ tử noi theo".
Dromtonpa, người đã
buông bỏ mọi hoạt động đời thường của thế gian, có lần được mời đến một
nơi có tên là Rong để cử hành lễ cúng dường Puja cho các tu sĩ. Ngài gọi
Pelgye Wangchuk là đệ tử của ngài đến và nói: "Lần này con đi. Ta
không thể đi được. Ta ngồi ở đây, cố gắng buông bỏ cuộc đời này."
Vào một ngày nọ có tu sĩ
đi nhiễu vòng quanh tu viện, Dromtonpa gọi ông ta đến và nói: "Đi
nhiễu là tốt, nhưng thực hành Pháp thì tốt hơn". Vị tu sĩ khi nghe
vậy nghĩ rằng: "Có thể lễ lạy tốt hơn".
Khi thấy vị tu sĩ lễ lạy,
Dromtonpa lại nói: "Lễ lạy thì tốt nhưng thực hành Pháp thì tốt hơn".
Sau đó, khi vị tu sĩ trì tụng lời cầu nguyện và thiền định, Dromtonpa
lại nói câu đó lần nữa. Cuối cùng tu sĩ hỏi: "Vậy con nên làm gì?"
Dromtonpa lập lại ba lần: "Hãy buông bỏ cuộc đời này trong tâm ông.
Hãy buông bỏ cuộc đời này trong tâm ông. Hãy buông bỏ cuộc đời này trong
tâm ông."
Mọi việc
phải được làm với thái độ của bạn, cách suy nghĩ của bạn, động
cơ của bạn.
Có một động cơ thanh tịnh
ĐIỀU TỐI QUAN TRỌNG là
bạn hãy có một động cơ (tâm nguyện) đúng đắn bất luận đó là hành động gì.
Cho dù bạn là một nông dân hay một thiền sư nhưng nếu bạn hành động để
nhằm đáp ứng sự ham muốn được vui sướng hay nổi tiếng thì bạn không khác
gì súc sinh.
Khi tôi hỏi một tu viện
trưởng "pháp thế gian" là gì, ông ta trả lời đó là việc đánh bạc,
cày ruộng và vân vân. Cách suy nghĩ về hành động thế gian như thế này
rất phổ biến, chỉ để ý tới hoạt động mà không để ý tới động cơ hay thái
độ. Tuy nhiên, nếu được làm với một động cơ thanh tịnh thì những hoạt
động như đánh bạc cày ruộng có thể trở nên Pháp thanh tịnh.
Không có một hành động
nào tự bản thân nó được xác định trước là hành động thế gian. Nó có thể
là một hành động Pháp thiêng liêng hoặc là một pháp thế gian, tức là đạo
đức hoặc phi đạo đức - nó có thể là cái này hoặc cái kia. Chỉ khi nào
biết được động cơ của nó bạn mới có thể nói nó là một Pháp thiêng liêng
hay một pháp thế gian bất luận đó là công việc đồng áng hay việc thực
hành thiền định.
Trong Giải thoát Trong
lòng Bàn tay, ngài Pabongka Dechen Nyingpo đưa ra ví dụ sau: có bốn
người trì tụng lời cầu nguyện Tara. Người thứ nhất tụng lời cầu nguyện
với động cơ mong đạt giác ngộ vì lợi lạc chúng sanh hữu tình, người thứ
hai với mong muốn đạt giải thoát cho riêng bản thân, người thứ ba mong
được hạnh phúc đời sau và người thứ tư chỉ mong tìm kiếm hạnh phúc ngay
trong đời này.
Hành động trì tụng của
người thứ nhất trở thành nhân của giác ngộ. Hành động trì tụng của người
thứ hai không trở thành nhân cho giác ngộ vì được làm với động cơ muốn
giải thoát cho riêng mình. Hành động này sẽ là nhân dành riêng cho sự
giải thoát, tức là thoát khỏi luân hồi nhưng không là nhân cho giác ngộ
- vì giác ngộ là trạng thái tâm linh thoát khỏi tất cả lỗi lầm, viên mãn
mọi chứng ngộ, mọi đức hạnh.
Việc trì tụng của người
thứ ba không trở thành nhân của giác ngộ, cũng không trở thành nhân cho
giải thoát. Vì động cơ là đạt tới hạnh phúc các kiếp sau, nên nó chỉ là
nhân hạnh phúc trong luân hồi, sẽ có thể tái sanh ở cõi trời hay cõi
người .
Hành động trì tụng của
ba người này là hành động Pháp thiêng liêng. Nhưng hành động trì tụng
của người thứ tư không phải là Pháp thiêng liêng. Đó là pháp thế gian
bởi vì nó được làm với sự quan tâm đến thế gian, dính chặt vào cuộc đời
này. Động cơ của nó là phi đạo đức. Như tôi đã đề cập trước đây, các
hành động được làm do bát phong, do tham ái, dính chặt vào hạnh phúc đời
này đều là phi đạo đức và quả là tái sanh vào địa ngục, ngã quỉ hay súc
sanh. Cho nên, mặc dù lời cầu nguyện tự bản thân là Pháp nhưng hành động
của người trì tụng có thể không là Pháp thiêng liêng.
Ngài Pabongka Dechen
Nyingpo dùng hành động trì tụng lời cầu nguyện như một ví dụ để làm sáng
tỏ sự nhầm lẫn thông thường. Rất dễ nhầm lẫn rằng một hành động nào có
liên quan đến Pháp chẳng hạn như tụng kinh, đọc lời cầu nguyện, hay
Thiền định đều là một hành động Pháp. Thật quá dễ tin như vậy.
Nếu hành động tụng kinh
và cầu nguyện với động cơ là sự quan tâm đến thế gian mà có thể mang đến
thành công, nếu nó có thể trở nên nhân của hạnh phúc thì có thể nói đi
cướp ngân hàng cũng có thể là nhân của hạnh phúc. Bằng việc cướp ngân
hàng người ta có thể trở nên giàu sang, sống hạnh phúc. Vậy ăn cướp có
gây nên hạnh phúc không? Có sự tương tự nào đấy giữa hai thí dụ này. Nếu
nói một hành động phi đạo đức như ăn cướp (được làm vì ích kỷ, tham lam,
sân hận hay vô minh) là nhân của hạnh phúc thì bạn cũng có thể có hạnh
phúc từ việc phi đạo đức. Ý tưởng sai lầm này tự nhiên nẩy sinh.
Chỉ có những hành động
nào không những không bị thúc đẩy bởi bát phong, mà còn chống lại chúng,
mới trở thành Pháp. Từ sớm tới khuya, bất cứ hành động nào như ngủ, ăn,
ngồi, đi lại, nói chuyện vân vân nếu được làm để chữa trị vọng tưởng thì
nó trở thành Pháp. Ngược lại những hành động nào đáp ứng cho bát phong,
cho tham ái bám chặt cuộc đời này thì sẽ trở thành pháp thế gian, hay
còn gọi là phi đạo đức. Chúng nó không thể trở thành Pháp thiêng liêng
được.
Như đại Bồ Tát
Shantideva có nói trong Bồ Tát Hạnh:
Mặc dù ai cũng mong ước đạt hạnh phúc và chấm dứt khổ đau nhưng vì không
biết được bí mật của tâm, ý nghĩa tối thượng của Pháp, nên chúng sinh
vẫn mãi luân hồi một cách vô ích.
Ở đây "bí mật của tâm"
không ám chỉ những thực chứng cao cấp như là tịnh quang, thân huyễn hay
sự hợp nhất của chúng; "bí mật của tâm" cũng không nói về cái gì
quá phức tạp. Chúng ta có thể hiểu "bí mật của tâm" là các mức độ khác
nhau thuộc động cơ của tâm. Đoạn văn này nhấn mạnh đến tầm quan trọng
của việc canh chừng tâm, gìn giữ tâm được đạo đức bởi vì hạnh phúc hay
khổ đau tùy thuộc vào tâm của ta, tức là những suy nghĩ của ta là thiện
hay bất thiện. Cách suy nghĩ như thế này sẽ đưa tới hạnh phúc. Cách suy
nghĩ như thế kia sẽ đưa tới đau khổ và hàng loạt vấn đề. Tất cả - từ
những vấn đề hằng ngày và những khổ đau của sáu cõi luân hồi cho tới sự
giải thoát, giác ngộ, tất cả đều tùy thuộc vào tâm của chúng ta, cách
suy nghĩ của chúng ta.
Bạn có thể không để ý
tới bí mật này của tâm: cách suy nghĩ và thái độ của bạn - mà từ đó xuất
phát mọi hạnh phúc và khổ đau. Biết được bí mật này, bạn có thể loại bỏ
những suy nghĩ sai lệch sản sinh các vấn đề, toàn bộ khổ đau ở các kiếp
sau, toàn bộ chướng ngại ngăn cản giác ngộ. Với cách suy nghĩ đúng bạn
có khả năng có được bất kỳ hạnh phúc nào bạn muốn.
Hai người ăn xin
Một đoạn văn khác trích
từ Khai mở Cánh cửa Pháp như sau:
Trước khi có các hành động Pháp, khả năng của tâm (có nghĩa là động cơ,
là tâm nguyện) là quan trọng nhất. Nếu một người nói hay làm với một tâm
bất thiện, người ấy sẽ chuốc lấy khổ đau từ hành động đó như trong thí
dụ về một người bị bánh xe cắt lìa đầu. Còn nếu một người nói hay làm
với một tâm an lành, người ấy sẽ nhận được hạnh phúc từ hành động đó như
thí dụ về cái bóng di chuyển.
Đoạn văn có ý nói rằng
người ta nhận lấy đau khổ từ những hành động được làm với ba tâm độc.
Các thí dụ nêu trên liên
quan đến câu chuyện sau đây do đức Song Rinpoche kể. Hai người ăn xin đi
riêng rẽ đến xin ăn ở một tu viện. Một người đến lúc chiều tối khi các
tăng dọn dẹp bếp xong nên ông ta không có được thức ăn. Người ăn xin thứ
hai đến tu viện vào buổi trưa lúc các tăng đang dùng cơm nên ông ta xin
được rất nhiều thức ăn.
Người không xin được
thức ăn đã nổi giận. Ông ta bực tức nói: "Tôi ước gì cắt đứt đầu các
sư và xem các đầu đó rớt xuống đất". Chẳng bao lâu sau, khi ông ta
nằm bên lề đường, một chiếc xe ngựa chạy qua đã cán lên người ông và cắt
lìa đầu ông.
Còn người ăn xin kia khi
nhận được nhiều thức ăn đã rất sung sướng. Biết ơn các sư tăng, ông ta
nói: "Tôi ước gì có thể dâng cúng nước cam lồ của thiên nhân cho các
sư". Lòng ước muốn này đã sản sinh rất nhiều công đức trong tâm ông
ta. Sau đó ông ta đến nằm ở một công viên dưới một gốc cây.Từ xế đến
chiều, bóng cây không rời ông ta. Vào dịp này dân địa phương đang cần
tìm một người có phẩm hạnh đặc biệt để tôn làm tân vương. Khi thấy người
ăn xin lúc nào cũng được bóng cây che mát, họ đã khẩn cầu người này làm
vua.
Có ba loại nghiệp
(xét lúc nghiệp đã chín muồi):
Nghiệp mà bạn tạo ra và
nhận lấy quả ngay trong một đời; nghiệp mà bạn tạo ra trong đời này
nhưng nhận lấy quả ở ngay kiếp sau; và nghiệp mà bạn tạo ra ở đời này
nhưng sẽ nhận quả sau nhiều kiếp tái sanh. Mặc dù người ăn xin trên thực
tế đã không cúng dường nước cam lồ, ông ta chỉ ước muốn mà thôi nhưng
tăng đoàn có năng lực rất mạnh vì đã thực hiện rất nhiều giới hạnh nên
người ăn xin đã tích lũy được công đức to lớn. Do vậy ông ta nhận được
quả ngay trong cùng một đời.
Vị thuyền trưởng Bồ tát
Có câu chuyện khác nữa.
Thông thường giết người là ác nghiệp. Thế nhưng, trong một kiếp quá khứ,
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã giết một người. Vào kiếp đó, Ngài là
vị thuyền trưởng của một chiếc thuyền đang chở năm trăm lái buôn và một
người trong số đó có âm mưu giết tất cả những người kia. Biết được việc
này, và vì nghĩ rằng nếu xảy ra chuyện, kẻ giết người ắt phải đi vào địa
ngục và phải chịu đựng khổ đau trong rất nhiều đại kiếp, vị thuyền
trưởng liền cảm thấy quá bi mẫn xót thương ông ta tới mức không chịu nổi.
Ngài nghĩ : "Tôi sẽ vào địa ngục chịu thay cho ông ta. Tôi sẽ giết
ông ta trước khi ông ta có cơ hội giết người. Cho dù việc giết ông ta sẽ
đưa tôi vào địa ngục nhưng tôi vẫn phải làm". Vì lòng bi mẫn xót
thương quá mức, vị thuyền trưởng đã giết người lái buôn đó.
Tuy nhiên, nhờ vào động
cơ đại bi này, hành động giết người đã không trở thành ng