-
Phật lịch 2539 - 1995
-
TIỂU SỬ
-
DANH TĂNG VIỆT NAM THẾ KỶ XX
***
IV. PHẬT GIÁO Ở GIAI
ĐOẠN CHIA ĐÔI ĐẤT NƯỚC
HÒA THƯỢNG
(1894 - 1954)
Hòa thượng Thích Giác
Phong sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng,(1) quán làng Bích Khê,
tổng Bích La, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thuở nhỏ Ngài theo học
chữ Nho và chữ Pháp, đậu Tú tài Hán học năm 22 tuổi ở trường thi Hương
Thừa Thiên, khoa Mậu Ngọ (1918) niên hiệu Khải Định thứ 3, khoa thi cuối
cùng của Nam triều. Đồng khoa ấy, anh của Ngài đậu Hoàng giáp.(2) Ngài
có biệt tài viết liễn đối và hoành phi nét chữ rất đẹp, khiến những người
Hoa kiều có học thức lúc bấy giờ rất khâm phục.
Vì là con nhà khoa
bảng và trọng thần của triều đình, sau khi thi đậu Ngài được chiếu chỉ của
vua Khải Định triệu vào triều làm thư ký riêng trong văn phòng của nhà
vua.
Thuở thiếu thời, lúc
đi học ở Huế, Ngài được ở trong chùa Báo Quốc, hấp thụ được không khí mùi
thiền và đã qui y với Hòa thượng Tâm Khoan tại đây. Cho nên khi làm quan,
Ngài càng nhận thấy cuộc đời là trường danh lợi, mạnh hiếp yếu, thiếu tình
thương, đầy khổ não. Ngài tự nghĩ: phải chăng chỉ có ánh đạo Từ Bi mới cứu
vớt được nhân loại thoát ra ngoài bể khổ, đem lại hạnh phúc cho chúng
sinh.
Thêm vào đó, thân phụ
Ngài là một nhà Nho thâm đạt Phật lý, chánh tín tu hành, sống đời từ bi
bác ái. Khi sắp sửa từ trần, cụ ngồi xếp bằng niệm Phật, rồi thoát thần
một cách tự nhiên. Bấy giờ được chứng kiến cảnh vãng sanh Tây phương đầy
nhiệm mầu của thân phụ, tâm ý Ngài càng hướng mạnh về con đường giác ngộ
của đức Phật. Ngài bèn trao ấn từ quan, xuất gia hành đạo.
Trước hết muốn có
nhiều kinh nghiệm, Ngài vân du sang Nhật, sang Trung Hoa v.v... để tham
khảo giáo lý, văn hóa ngoại bang, quan sát tình hình Phật giáo tại những
nước có phong trào phục hưng cao. Sau đó Ngài trở về Huế, đem nhận xét,
hiểu biết của mình áp dụng trong bước đường tu hành và đóng góp cho công
cuộc hoằng dương chánh pháp trong nước.
Đầu tiên, Ngài khai
sơn chùa Giác Phong ở Quảng Trị. Do đó Ngài mới có biệt hiệu là Giác
Phong. Mãi tới năm Bảo Đại thứ 10 (1935), Ngài mới thọ đại giới ở trường
Kỳ chùa Sắc Tứ Tịnh Quang ở Quảng Trị và đắc pháp với Hòa thượng Hải Đức -
Thích Phước Huệ, nên có pháp hiệu Bích Không.
Nhờ uyên thâm Nho
học, Ngài nghiên cứu sâu vào huyền nghĩa của tam tạng kinh điển. Học hỏi
các vị cao Tăng thạc đức ở Huế xong, Ngài lại vào Bình Định tham học với
Hòa thượng Thập Tháp - Quốc sư Phước Huệ. Nhân trong buổi học kinh Lăng
Già, Hòa thượng chỉ nói một câu “Bán cú phi bất đa” mà Ngài được tỏ ngộ.
Từ đó Ngài bắt đầu thực hành sự nghiệp lợi tha, hoằng dương chánh pháp.
Vào những năm 1935 -
1937, là lúc phong trào chấn hưng Phật giáo đang lên cao tại miền Trung,
Ngài đã có công đóng góp cho các tỉnh từ Đà Nẵng trở ra Nghệ Tĩnh. Ngài đã
cộng tác với chư Tôn đức ở Đà Nẵng, thành lập hội “Đà Thành Phật Học”,
xuất bản một tạp chí lấy tên là Tam Bảo và khai mở Phật học đường tại chùa
Phổ Đà cho hai cấp Tiểu học và Trung học do Ngài làm Giám đốc và Ngài Giác
Viên (trú trì chùa Hồng Khê) làm chủ giảng.
Chủ trương của hội Đà
Thành Phật Học qua tờ Tam Bảo thường đề cập tới sự cần thiết thống nhất
các đoàn thể Phật giáo trong xứ thành một hội “Phật Giáo Liên Hiệp” với
tôn chỉ là:
1) Phò khởi Tăng
giới, nguyện cùng chư sơn Nam - Bắc liên đoàn để bảo tồn Tăng Bảo.
2) Nguyện cùng chư
sơn chấn chỉnh tôn phong, chung một điều lệ thi hành, cần nhất là phải giữ
cho được hoàn toàn giới hạnh.
Thời gian Ngài ở Đà
Nẵng, bộ Lễ Nam triều cấp bằng sắc phong Ngài làm trụ trì chùa Sắc Tứ Phổ
Thiên. Tiếp đó Ngài lại vào Nha Trang mở trường hoằng pháp cho Tăng chúng
và tín đồ tu học kiết hạ an cư rất đông tại chùa Sắc Tứ Hải Đức. Tăng Ni ở
các chùa Hải Ấn (Saigon), Bình Quang (Phan Thiết) và chùa Thập Tháp (Bình
Định), các chùa ở Huế, Đà Nẵng v.v... đều qui tập về đây tu học.
Thời gian ở Khánh
Hòa, Ngài làm cố vấn tối cao cho Tỉnh hội Phật học, tham gia rất nhiều
trong việc xây dựng chi hội, khuôn hội. Ngoài ra Ngài còn tham gia Phật sự
ở Đà Lạt và các Tỉnh hội ở miền cực Nam Trung kỳ. Tăng tục đều được thấm
nhuần pháp vũ của Ngài. Pháp tử của Ngài ở khắp mọi nơi. Ngài còn ra các
tỉnh miền Bắc Trung Kỳ tham gia chấn hưng Phật giáo, gây được phong trào
rất sôi nổi ở Nghệ An. Khi Ngài ở chùa Linh Vân thường gọi chùa Diệc ở
thành phố Vinh, Ngài đã hóa duyên cho một cư sĩ tên là Bạch Hưng Nghiêm.
Ông này đã phát tâm ấn tống rất nhiều kinh điển Đại thừa. Ngài cũng vân du
hóa đạo ra Thanh Hóa và một số nơi ở miền Bắc.
Năm 1942, Ngài lại
trở vào Nha Trang làm Tuyên Luật sư tại trường Kỳ chùa Kim Long ở huyện
Ninh Hòa. Năm 1944, Ngài làm Tuyên Luật sư tại giới đàn chùa Bình Quang ở
Phan Thiết để tiếp dẫn Ni chúng. Năm ấy Ngài còn chứng minh cuộc đại trùng
tu Tổ đình Phật Quang ở đây.
Bấy giờ chùa Hải Đức
ở Nha Trang nằm trong thành phố thuộc quyền quản lý của Hòa thượng Phước
Huệ thừa kế Tổ khai sơn, đã bị hư hỏng nhiều, vì Hòa thượng già yếu, lại
bận nhiều Phật sự ở Huế, không thể trực tiếp trông coi được, nên năm Bảo
Đại thứ 14 (1939) Hòa thượng cho mời sơn môn tỉnh Khánh Hòa lại, lập di
chúc giao hẳn chùa Hải Đức cho Ngài trọn quyền điều hành tái thiết, sử
dụng mọi động sản và bất động sản.
Được giao trọn quyền,
Ngài thấy chùa nằm trong thành phố với một khuôn viên chật hẹp, không thể
phát triển được, bèn cùng sơn môn và bổn đạo quyết định dời chùa lên núi
Trại Thủy, chặt cây phá núi để có mặt bằng xây dựng. Bấy giờ đang lúc thế
chiến thứ hai vào hồi quyết liệt, kinh tế suy sụp, dân chúng dưới hai tầng
áp bức Pháp - Nhật. Việc trùng tu di dời chùa gặp không ít khó khăn. Nhưng
Ngài đã vượt qua tất cả với một quyết tâm cao, nên mới có được một đại
tòng lâm uy nghi ngày nay (Trường Cao Đẳng Phật Học Nha Trang) để cho chư
Tăng tu học và Phật tử chiêm bái.
Chẳng những xây dựng
ngôi phạm vũ trang nghiêm, Ngài lại ra làng Hà Già thuộc huyện Ninh Hòa,
cách Nha Trang 50 cây số về hướng Bắc, xin đất lập nông thiền trên 50 mẫu
để cung cấp lương thực lâu dài cho chúng Tăng tu học ở đại tòng lâm. Chùa
làm xong, vật dụng thường dùng trong chùa thiếu thốn. Ngài phải quay về
Quảng Trị bán hết phần gia tài điền sản của Ngài ở quê, lấy tiền mua sắm
các thứ đem vào. Bấy giờ xe lửa bị Nhật trưng dụng, đi lại rất khó khăn,
nguy hiểm, thường bị máy bay Đồng Minh ném bom. Chuyến đi ấy Ngài mang
theo các vật dụng trong chùa rất nhiều, bằng sành, bằng sứ, bằng đồng
thuộc loại cổ xưa, tàu đến ga Tam Quan ở Bình Định, bị bom mất hết. Ngài
còn đưa theo số đông bà con, dân làng vào lập nghiệp tại nông thiền.
Sau Cách mạng tháng 8
năm 1945, quân Pháp đổ bộ Nha Trang, Ngài cùng đệ tử phải xa chùa theo dân
chúng tản cư, lần hồi ra đến Huế. Năm 1946 Ngài làm Giám đốc Phật học viện
Báo Quốc và cùng chư Tôn đức chủ trương xuất bản tạp chí Giải Thoát để làm
cơ quan ngôn luận cho Phật giáo đương thời.
Năm 1947 mặt trận Huế
vỡ, quân Pháp đánh tràn ra. Ngài lại phải tản cư ra Quảng Trị rồi lần đến
Nghệ An, tá túc tại chùa Diệc, tiếp tục hoằng pháp. Nhưng bấy giờ tình thế
đã thay đổi. Với khẩu hiệu tất cả cho kháng chiến, mọi hoạt động đều phải
ngưng trệ, trong đó kể cả việc hành đạo. Về cuối đời, Ngài an trú ở thành
phố Vinh, rồi mắc trọng bệnh. Ngày 15 tháng 9 năm Giáp Ngọ (1954) Ngài đã
trở về đất Phật, hưởng thọ 60 tuổi đời và 21 tuổi đạo.
Công cuộc chấn hưng
Phật giáo ở suốt dải đất từ Thanh Nghệ cho đến Phan Thiết đều có dấu tích
hoằng dương Đạo pháp của Ngài. Ban rải mầm Từ Bi và giống Bồ Đề không hề
ngơi nghỉ trong suốt chặng đường trần có mặt, Ngài Bích Không vẫn sáng mãi
như thế hệ của Ngài, thế hệ nở rộ những bông hoa Ưu Đàm cho ngày sau hưởng
quả.
[1]Chú thích[1]
:
1) Viết theo tài liệu
của Thượng Tọa Thích Viên Giác, tọa chủ chùa Giác Hải ở ấp Xuân Tự, huyện
Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa, in trong quyển “Phẩm Phổ Môn” xuất bản ở Sài gòn
năm 1961.
2) Tài liệu của
Thượng tọa Viên Giác không cho biết thế danh của Hòa thượng Giác Phong,
nhưng căn cứ vào quê quán của Ngài và người anh đậu Hoàng giáp, chúng ta
có thể suy đoán Ngài là con của Cử nhân Hoàng Hữu Xứng, và anh Ngài là
Hoàng giáp Hoàng Bính (còn tên là Hoàng Hữu Tiệp). Xét các nhà khoa bảng
tỉnh Quảng Trị chỉ có 3 người đậu Hoàng giáp là các ông Nguyễn Văn Chương
quán xã Vĩnh Hòa, huyện Đăng Xương, đậu khoa Giáp Thìn (1844). Thiệu Trị
thứ 4; Nguyễn Văn Hiểu quê xã Mỹ Chánh, huyện Hải Lăng, đậu khoa Đinh Mùi
(1847) Thiệu Trị thứ 7; Hoàng Bính quê xã Bích Khuê, huyện Đăng Xương, đậu
khoa Kỷ Sửu (1889) Thành Thái nguyên niên.
***
TỔ
(1923-1954)
Tổ Minh Đăng Quang
thế danh là Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Hườn, sinh ngày 26 tháng 9 năm Quý Hợi
(1923) tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Gia
đình thuộc thành phần trung nông, hiền lương và trung hậu, kính tin Phật
pháp nhiều đời.
Thân phụ là ông
Nguyễn Tồn Hiếu, và thân mẫu là bà Phạm Thị Nhàn. Ngài là con trai út
trong gia đình có năm anh em. Theo truyền khẩu, thân mẫu Ngài mang thai
Ngài đến tháng thứ mười hai mới sanh. Và mười tháng sau, bà đã an nhiên
qua đời mà không hề nhuốm một căn bệnh nào.
Lúc thiếu niên, Ngài
có phong cách sống khác biệt so với các anh em trong gia đình cũng như
ngoài xã hội. Ngoài những buổi học hành, lao động phụ giúp thân phụ, Ngài
thường tìm đọc sách, nghiên cứu và ngồi suy tưởng tại một nơi yên tịnh. Do
thiên tư tĩnh lặng ấy, Ngài được phụ thân cho phép dựng một cái cốc nhỏ
trong vườn nhà, để có nơi học hành và suy nghiệm. Ngài vốn có tính tình
điềm đạm hay giúp đỡ mọi người nên rất được lòng người chung quanh.
Năm Đinh Sửu (1937)
khi vừa 15 tuổi, Ngài xin phép phụ thân cho xuất gia học đạo. Sau nhiều
lần tra gạn lý do và Ngài đã bộc bạch tận tường những ý định cũng như mục
đích chính đáng của mình, nhưng phụ thân đã dùng quyền làm cha để ngăn cản
với lý do Ngài hãy còn quá nhỏ, không thể đi xa gia đình. Nhưng thầm kín
sâu xa nhất nơi trái tim người cha lúc này vẫn Ngài là con trai út, bao kỳ
vọng đặt trọn nơi người con mà từ tính tình cho đến tác phong được mọi
người quý mến.
Ngài vẫn nung nấu chí
xuất gia. Sau khi nhận thấy sự nguôi ngoai nơi phụ thân, Ngài bằng mọi
cách để cha mình thấy được rằng tự thân sẽ chịu đựng được trước mọi gian
nan thử thách trên đường đời. Rồi một đêm, khi những lời hứa cho xuất gia
của một người cha nặng lòng yêu thương đứa con út chưa dứt âm vang Ngài đã
âm thầm ra đi. Nơi đến đầu tiên là tận đất nước Campuchia, nơi có nhiều
chùa tháp hùng vĩ, thể hiện tinh thần Phật giáo vĩ đại, với bóng dáng của
rất nhiều Tăng sĩ trang nghiêm hành trì Phật Pháp.
Ngay từ ngày đầu đặt
chân đến đất nước Campuchia, thiện duyên đưa Ngài gặp được một nhà sư
người Việt gốc Khmer, nổi tiếng từ lâu về kiến thức Phật đà. Ngài không
ngần ngại quy ngưỡng và thọ giáo trong suốt thời gian tu học tại đây.
Năm Tân Tỵ (1941) sau
bốn năm sống và học đạo nơi xứ người, dốc lòng nghiên cứu tìm hiểu kinh
tạng và đường lối y bát chơn truyền của đức Phật, Ngài nhận thấy tương đối
đầy đủ, cùng với năng lực bản thân, có thể trở về quê hương hành đạo. Do
đó Ngài đã xin phép Thầy mình trở về Việt Nam.
Khi vừa về đến quê
hương, chướng lực đầu tiên đã ập đến, chút nợ trần còn vướng nên Ngài phải
trả để tương lai nhân quả được nhẹ nhàng. Đó là việc Ngài lập gia đình với
cô Kim Huê, người đã mang ơn cứu tử nơi Ngài. Tuy nhiên chưa đầy một năm
sau cô Kim Huê từ trần.
Đầu năm Quí Mùi
(1943) Ngài trở lại con đường tu học, mạnh dạn đi sâu vào lãnh vực nghiên
cứu để hiểu thêm về đường lối của hai hệ phái Bắc Tông và Nam Tông. Ngài
trở lại vùng Thất Sơn tìm vào chốn u tịch, hợp với tâm cảnh, để thực hành
sở nguyện suy tầm đó. Sau khi rời Thất Sơn, Ngài qua Hà Tiên dự định một
chuyến ra tận Phú Quốc, nhưng do trễ chuyến tàu nên Ngài ở lại ghềnh mũi
Nai, ngồi tham thiền an trú trong chánh pháp Bát Nhã. Năm ấy Ngài tròn 22
tuổi.
Năm Giáp Thân (1944),
Ngài đã ngộ chứng được lối đạo dung hòa kết hợp truyền thống cao đẹp của
hai hệ phái Bắc Tông và Nam Tông để lập nên một phái Khất Sĩ mang riêng
bản sắc Việt Nam. Rằm tháng tư năm ấy, Ngài bắt đầu truyền khai tư tưởng
và lối đạo của mình tại chùa Linh Bửu, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho, và đã trở
thành vị Tổ đầu tiên của Giáo phái Khất sĩ Việt Nam.
Từ đó, ảnh hưởng Giáo
phái Khất sĩ Việt Nam mỗi ngày thêm lan rộng theo chân vân du hành đạo của
Ngài.
Tất cả những thời
pháp do Ngài diễn giảng trong suốt phần đầu quá trình khai hóa ấy, đều
được ghi lại đầy đủ trong bộ Chơn Lý, gồm 69 tiểu luận. Trong đó Ngài đã
dung hợp được những tinh hoa Phật pháp của cả hai hệ phái Nam và Bắc Tông
theo yếu chỉ trung đạo của giáo lý Phật đà. Theo đó, bản thân người Khất
sĩ phải thực hiện đúng mục đích của hệ phái là: trang bị tinh thần không
mưu cầu tích trữ vật dụng, tiền bạc... không gia đình; mỗi sáng ôm bình
bát đi khất thực, không ở nơi nào nhất định...
Buổi ban đầu khai hóa
đã thành công mỹ mãn, được sự đồng tình ủng hộ và tu học theo con đường
Ngài đã vạch. Chỉ trong thời gian ngắn, đã có hơn 100 vị xuất gia hành
trì, trên chục ngàn Phật tử theo thọ giới quy y với Ngài và từ miền Đông
đến miền Tây Nam bộ đã có trên 20 ngôi tịnh xá của hệ phái, đủ nói lên sức
ngưỡng mộ mạnh mẽ nơi chơn lý.
Trong hàng đệ tử ban
đầu của Ngài, có nhiều vị đã lập được những đoàn du Tăng hành đạo khắp
miền Trung và miền Nam từ năm 1955 đến 1975. Trong đó có các Ngài Giác
Tánh, Giác Chánh, Giác Nhu, Giác Tịnh, Giác An, Giác Nhiên, Giác Lý, Giác
Đức...
Bên Ni giới có Ni
trưởng Huỳnh Liên, Bạch Liên, Thanh Liên, Kim Liên, Ngân Liên, Chơn
Liên...
Trong hàng giáo phẩm
hiện nay, trực tiếp tham gia làm thành viên GHPGVN có các Hòa Thượng Giác
Nhu, Từ Huệ. Và trong Hội đồng Trị sự có Thượng tọa Giác Toàn và Ni sư
Ngoạt Liên.
Trong suốt thời gian
10 năm, kể từ ngày hoằng khai mối đạo tại chùa Linh Bửu, phương pháp hành
trì và sự hướng dẫn trực tiếp của Ngài đã đem lại nhiều lợi lạc cho cộng
đồng Phật giáo Nam bộ. Tuy vậy, do tác động và ảnh hưởng của hệ phái Ngài
khai mở quá lớn nên cũng không tránh khỏi những hiềm khích từ phía những
người ngoại đạo.
Ngày mùng 1 tháng 2
năm 1954, sau khi căn dặn một số điều thiết yếu cho các đệ tử của Ngài
tiếp tục hoằng khai các du xứ. Ngài định mở chuyến đi sâu xuống các tỉnh
vùng Hậu Giang để tiếp tục khai truyền. Nhưng khi đi từ Tịnh xá Ngọc Quang
(Sa Đéc) qua Tịnh xá Ngọc Viên (Vĩnh Long) sang Cần Thơ Ngài đã bị những
người ngoại đạo bắt đi biệt tích.
Hơn 40 năm vắng bóng
Tổ Minh Đăng Quang, những người thừa kế vẫn kiên trì chờ đợi, tiếp tục gìn
giữ những thành quả đã đạt được và không ngừng chăm lo phát triển, làm cho
hệ phái Khất sĩ ngày càng vững chắc trong lòng Phật giáo Việt Nam.
Hiện nay (1994) hệ
phái Khất sĩ Việt Nam có hơn 250 ngôi Tịnh xá đều khắp ở hai miền Nam,
Trung Việt Nam, với hơn 1500 Tăng Ni xuất gia và nhiều chục vạn tín đồ.
Hằng năm, hàng môn đồ
tứ chúng lấy ngày mùng 1 tháng 2 để kỷ niệm ngày Tổ vắng bóng, cùng nhau
vân tập tại Tịnh Xá Trung Tâm (Sàigòn) ôn lại những lời dạy và ghi nhớ
công ơn khai sáng của Ngài. Để tỏ lòng thiết tha quí kính Ngài, các thế hệ
tiếp nối tưởng niệm Ngài bằng tấm lòng trân trọng: Đức Tôn Sư Minh Đăng
Quang.
Các tác phẩm Ngài đã
viết trong quá trình hành đạo nay còn lưu lại :
- Bộ Chơn Lý
- Bồ Tát giáo.
***
HÒA THƯỢNG
(1888 - 1956)
Hòa thượng Huệ Quang,
thế danh Nguyễn Văn Ân sinh năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ
về Trà Vinh. Năm 1902, Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được
Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt pháp danh là Thiện Hải. Ngoài giờ học
Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
Thấy chùa Long Hòa ở
quận Tiểu Cần - Trà Vinh, hư hại và hoang phế, Ngài liền phát tâm trùng
tu. Dân chúng và tín đồ Phật tử ở Tiểu Cần vì thế mến đức Ngài, cử đại
diện đến bạch Hòa thượng ở Trà Cú xin cho Ngài được về trụ trì chùa Long
Hòa. Hòa thượng nhận lời, thế là Ngài về Tiểu Cần. Với đức độ sẵn có, và
với vốn y học, Ngài đã nhiếp hóa được một số đông đồ chúng. Giới trí thức
ở địa phương rất mến phục Ngài, thường đến chùa để được cùng Ngài đàm
luận.
Năm 1919, Ngài đắc
pháp với Hòa thượng Từ Vân, được pháp hiệu là Huệ Quang.
Ngài đọc tân thư, báo
chí và được biết phong trào Phật giáo các nước đang lên mạnh. Ở Trung Hoa,
Thái Hư Đại Sư xây dựng Phật học viện, xuất bản Hải Triều Âm. Bên Nhật,
Tommatsu tiên sinh cùng các nhà nghiên cứu Phật học phát huy nền văn học
Phật giáo, chủ trương biên tập lại Đại Tạng Kinh. Ở Thái Lan, Phật giáo
được xem là quốc giáo làm nền tảng đức dục cho quốc dân. Ở Miên, một viện
khảo cứu Phật giáo được thành lập. Trước sắc thái mới của nền Phật giáo
thế giới phục hưng, Hòa thượng Huệ Quang đã cùng các Hòa thượng khác ở Nam
kỳ thành lập Hội Lục Hòa, ý muốn mở Phật học viện và thư xã. Năm 1928,
cùng với các Hòa thượng Khánh Hòa, Pháp Hải, Khánh Anh, Liên Trì, các
Thượng tọa Từ Nhân, Chơn Huệ, Thiện Niệm, Ngài cổ động tạo lập thư xã.
Tháng 8 năm 1929, các đàn việt thiện tín Trà Vinh chung sức hiến cúng bộ
Đại Tạng toàn bản, gồm có 750 quyển lớn, chưng bày trong thư xã để làm tài
liệu cơ bản cho việc nghiên cứu.
Năm 1931, Ngài cùng
Hòa thượng Khánh Hòa và các vị cao Tăng khác hợp sức với một số cư sĩ hữu
tâm, thành lập Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, đặt trụ sở tại chùa Linh
Sơn, đường Douaumont Sài gòn (nay là đường Cô Giang). Hội xuất bản tạp chí
Từ Bi Âm.
Năm 1934, Ngài bàn
với các Hòa thượng Khánh Hòa, Chánh Tâm, Viên Giác về Trà Vinh lập Liên
Đoàn Phật Học Xã, để đào tạo Tăng tài, làm nền tảng cho việc trùng hưng
Phật pháp sau này. Học Tăng gia nhập Liên Đoàn tuần tự tu học từng tam cá
nguyệt tại các chùa Long Hòa (Trà Vinh), Thiên Phước (Trà Ôn) và Viên Giác
(Bến Tre). Sau thấy sự di chuyển bất tiện, các vị Hòa thượng quyết định
lập trường Phật học tại Trà Vinh.
Tháng 8 năm 1934, hội
Lưỡng Xuyên Phật Học được phép thành lập. Chánh hội trưởng là Ông Huỳnh
Thái Cửu, Hòa thượng Khánh Hòa làm Pháp sư. Ngài lúc này đã 46 tuổi, làm
giảng sư kiêm Tổng lý của hội.
Trong những lần
thuyết pháp giảng dạy, Ngài đã vạch rõ sự cần thiết phải thành lập Giáo
hội, xuất bản tạp chí và kiến tạo Phật học đường, Ngài đã tiên liệu, đã lo
lắng rất nhiều cho tương lai của nền Phật giáo Thống nhất.
Tháng 7 năm 1935,
nguyệt san của hội, tạp chí Duy Tâm được phép xuất bản, do Ngài làm chủ
nhiệm.
Lưỡng Xuyên Phật Học
Đường đã làm được sứ mạng tuyên dương chánh pháp và đào tạo Tăng tài một
cách vẻ vang. Vừa làm chủ nhiệm tờ báo, Ngài vừa hợp lực với các Ngài
Khánh Hòa, Pháp Hải, Khánh Anh trong việc quản trị và giáo dục của Phật
Học Đường.
Năm 1945, chiến tranh
xảy ra, Lưỡng Xuyên Phật Học Hội và Phật Học Đường phải ngưng hoạt động.
Đại chúng ly tán, quân đội Pháp chiếm đóng cơ sở Phật Học Hội. Ngài lui về
chùa Long Sơn ở Tiểu Cần tĩnh tu.
Năm 1951 Tổng Hội
Phật Giáo Việt Nam được thành lập. Đại hội đại biểu nhóm họp tại Huế. Bản
tuyên ngôn thành lập Tổng Hội được chuyển đi khắp nơi. Theo sự thỉnh cầu
của Giáo hội Tăng già Nam Việt, ngày 8 tháng 3 năm 1953, Ngài được Giáo
hội Tăng già Nam Việt suy tôn lên ngôi Pháp chủ.
Năm 1954, mười ngày
sau khi hiệp định Genève được ký kết, một phong trào Hòa Bình ở Sài
gòn-Chợ Lớn ra đời, đấu tranh đòi hòa bình và thống nhất đất nước, do
những nhân sĩ yêu nước Bắc, Nam khởi xướng. Ngài với cương vị Pháp chủ
Giáo hội Tăng già Nam Việt, cùng đông đảo các nhà trí thức Phật tử, tích
cực vận động Tăng Ni và tín đồ Phật giáo hưởng ứng phong trào này, vì thế
Ngài bị câu lưu tại bót Catinat, sau được đưa về quản thúc tại chùa Phật
Quang ở Chợ Lớn.
Năm 1956 kỳ Đại hội
Phật giáo lần thứ 2 tại Sài gòn, Ngài được suy cử Phó Hội chủ Tổng hội
Phật giáo Việt Nam. Tập san Phật giáo Việt Nam được phép xuất bản vào
tháng 8 dương lịch và Ngài được mời làm Chủ nhiệm.
Ngày 10 tháng 11 năm
1956, Ngài cùng phái đoàn Phật giáo Việt Nam dự Hội Nghị Phật Giáo Thế
Giới lần thứ 4 tại Népal. Phái đoàn dự Đại hội Phật giáo Thế giới xong
liền trở về New Delhi. Sau khi quan sát Đại hội Văn hóa Quốc tế, và cuộc
triển lãm Nghệ thuật Phật giáo, Ngài cùng với Hòa thượng Hội chủ Thích
Tịnh Khiết đến dự cuộc mít tinh tổ chức tại công trường Ramila, và viếng
các Phật tích.
Sau khi chiêm bái
Phật tích về, Ngài đã lâm chứng bệnh cũ và đột ngột từ trần vì tai biến
mạch máu não, hưởng thọ 68 tuổi với 37 năm hoằng hóa. Nhục thân Ngài được
hỏa táng tại Ấ n Độ.
Ngày 10-12-1956, Linh
vị và xá lợi của Hòa thượng được đón rước long trọng về Việt Nam, và được
đặt tại trụ sở của Tổng Hội Phật Giáo chùa Ấn Quang, để thập phương Tăng
Ni Tín đồ đảnh lễ tưởng niệm.
Đã qua rồi cuộc đời
và sự nghiệp của một vị cao Tăng thạc đức đã cống hiến đến phút cuối cùng
cho công cuộc chấn hưng Phật giáo nước nhà đến hồi vinh quang. Mãi mãi bao
thế hệ Tăng Ni, Phật tử Việt Nam ghi tạc công hạnh Ngài vào lòng trên bước
đường tu học và phụng sự Đạo pháp - Dân tộc.
***
HÒA THƯỢNG
(1889-1957)
Hòa thượng thế danh
là Trần Văn Ứng, pháp danh Thích Mật Ứng, sinh năm Kỷ Sửu (1889) tại xã Vị
Xuyên, tổng Đông Mạc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, một nơi phát xuất nhiều
vị Nho học nổi tiếng, trong số đó có nhà thơ Tú Xương.
Năm lên 7 tuổi, Ngài
theo học chữ Hán với cụ Tú Nam Thành, tỏ ra là người có tư chất thông minh
xuất chúng, thường được ban khen. Nhà ở gần chùa Cả, thường ngày, ngoài
giờ học ở trường, Ngài hay sang chùa công quả học hỏi, được sư cụ đem giáo
lý uyên thâm của đạo Phật giảng giải cho nghe, Ngài phát tâm thành, sanh ý
xuất gia từ đấy.
Năm Ngài lên 11 tuổi
(Canh Tý, 1900) cụ Tú Nam Thành được bổ đi nhậm chức Huấn Đạo ở tỉnh xa,
Ngài phải tự đi tìm minh sư để thụ huấn. Nhân một ngày giỗ Tổ long trọng
tại chùa Cả, có chư vị Hòa Thượng, Thượng Tọa, Tăng Ni qui tụ về đông đảo
để hành lễ. Khi ấy Ngài cũng có mặt tại trai đàn. Hòa thượng Tâm Nhân ở
chùa Quảng Bá thấy Ngài hình tướng thanh tú, nhã độ, liền đem lòng yêu mến
và cho theo hầu.
Gặp được minh sư, lại
ở chốn già lam danh tiếng, Ngài nhất tâm tu học. Năm Ngài 16 tuổi (Ất Tỵ
1905) được Hòa thượng Tâm Nhân truyền Sa Di giới, và năm 20 tuổi (Kỷ Dậu
1909) thọ Cụ Túc giới tại Đại giới đàn chùa Quảng Bá do Hòa thượng Thông
Toàn, chủ sự chùa Bà Đá (Linh Quang) giữ ngôi Đàn Đầu Hòa thượng và Hòa
thượng Bổn sư Tâm Nhân làm Yết Ma A Xà Lê.
Sau khi thọ giới,
Ngài càng tinh tấn tu hành, nghiên cứu nhiều về Tam Tạng kinh điển và suy
ngộ đạo lý rất sâu xa. Ngài vẫn nuôi chí tham học với các bậc cao minh
thạc đức để tìm hiểu đạo mầu. Nghe Tổ Giám Đào Xuyên, tự Thông Mệnh, là
bậc đạo học uyên thâm, giới hạnh gương mẫu, Ngài tìm đến xin thụ huấn.
Trải mười năm tinh tấn tu học, Ngài được Sư Tổ rất yêu quí, đặt nhiều hy
vọng ở tương lai.
Ngoài việc tìm hiểu
giáo lý Phật Đà, Ngài còn tham cứu Nho học nơi các bậc danh nho trong
vùng, như cụ Tú Thọ Vực ở Nam Định, nên Tứ Thư, Ngũ Kinh, Bách Gia Chư Tử
thảy đều thông suốt, các điển cố văn chương đều được suy cứu tận gốc rễ.
Ngài là bậc được tôn kính ngưỡng mộ trong giới thiền gia.
Ngài từng trú trì
động Kính Chủ, một nơi danh thắng tại hạt Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, sau về
kế thừa trú trì chùa Quảng Bá vào tuổi năm mươi (Kỷ Mão, 1939). Ngài đã
đóng góp công sức lớn lao vào phong trào chấn hưng Phật Giáo từ năm 1935
đến trước Cách Mạng Tháng Tám.
Năm 1949, Hội Việt
Nam Phật Giáo được thành lập lại, đặt trụ sở tại chùa Quán Sứ. Cùng năm
đó, Hội Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt cũng được Hòa thượng Tố Liên thành lập.
Đến ngày 09 tháng 9 năm 1950 thì đổi tên thành Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc
Việt. Năm 1951 Hòa thượng Mật Ứng được cung thỉnh lên ngôi Thiền gia Pháp
chủ của hội.
Sau khi Hội Thế Giới
Phật Giáo Liên Hữu (World Fellowship of Buddhists) được thành lập năm
1950, trụ sở đóng tại Colombo thủ đô Tích Lan, mà Việt Nam là một hội viên
sáng lập, thì Đại Hội Phật Giáo Việt Nam gồm ba miền Bắc, Trung, Nam được
triệu tập tại chùa Từ Đàm, từ ngày 06 tháng 5 đến ngày 09 tháng 5 năm 1951
để thực hiện việc thống nhất Phật Giáo Tăng Già toàn quốc. Ngài nhân danh
Thiền Gia Pháp Chủ Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc Việt, lãnh đạo phái đoàn
Tăng Ni tới dự Đại Hội. Đại Hội này đã khai sinh ra Tổng Hội Phật Giáo
Việt Nam do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết chùa Tường Vân làm Hội chủ.
Đến năm 1955 Hòa
thượng Thiền Gia Pháp Chủ và Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc Việt phải ngưng
hoạt động để biến chuyển sang một giai đoạn mới của Phật Giáo. Ngài lui về
chùa Quảng Bá an tĩnh tu niệm làm cội gốc phúc lành cho Tăng Ni tín đồ quy
ngưỡng và viên tịch tại đây vào ngày 19 tháng 5 năm Đinh Dậu (1957), thọ
68 tuổi đời, 52 tuổi hạ. Bảo tháp Ngài được xây dựng tại đây như dấu tích
ngàn đời lưu bóng một bậc cao Tăng.
***
HÒA THƯỢNG
(1874 - 1958)
Hòa thượng thế danh
là Dương Văn Hiển, pháp danh Thông Hiển, hiệu Doãn Hài, sinh năm Giáp Tuất
(1874) tại làng Mai Xá, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Nam Hà. Thân phụ là
cụ Dương Văn Học, thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Nữ. Ngài sinh trưởng trong một
gia đình nhà Nho thanh bạch nơi thôn quê. Từ nhỏ Ngài đã được theo đòi bút
nghiên nơi cửa Khổng sân Trình.
Năm lên 15 tuổi
(1889), sau một buổi học, thầy trò quây quần đàm đạo nhân tình thế sự,
nhân đề cập, tán thán công đức và đạo hạnh Sư Tổ chùa Bảo Khám ở làng Tế
Xuyên trong hạt, Bồ Đề tâm của Ngài bỗng nhiên nẩy nở, tựa như túc duyên
tự xa xưa nay hội đủ nhân duyên khởi phát. Ngài bèn xin song thân cho xuất
gia đầu Phật, tìm đến Sư Tổ đệ nhị xin quy y thọ giới. Được Sư Tổ hứa khả,
Ngài chí tâm tu học, sớm tối ra vào hầu hạ Bổn sư, siêng năng cần mẫn. Do
đó, Ngài được nghiệp sự và huynh đệ quý mến.
Năm 16 tuổi Ngài thọ
giới Sa Di. Những tưởng con đường tu học của mình có cơ thăng tiến dưới sự
hướng dẫn của Tổ Sư. Không ngờ ngày rằm tháng 2 năm Canh Dần (1891) nghiệp
sư viên tịch, Ngài bơ vơ ở tuổi 17 đạo lực còn non yếu. May sao huynh
trưởng của Ngài là Hòa thượng Phổ Tụ đã là vị Thượng tọa trong sơn môn,
được kế vị là Tế Xuyên đệ tam Tổ, hết lòng dìu dắt Ngài trên con đường tu
học.
Năm Quý Tỵ (1893)
Ngài 20 tuổi được thọ Cụ Túc giới tại Đại giới đàn tổ chức ở bản tự, với
pháp danh Thông Hiển. Một thời gian sau, Ngài được sư huynh gửi lên chùa
Bồ Đề ở Gia Lâm làm thị giả Sư Tổ trú trì là Hòa thượng Nguyên Biểu để sớm
tối tiện bề tu học.
Năm Bính Ngọ (1906)
Sư Tổ Bồ Đề viên tịch, Ngài lại lên Tổ đình Vĩnh Nghiêm ở Bắc Giang tiếp
tục tham học với Hòa thượng Thanh Hanh. Sau đó Ngài trở về quê nhà trú trì
chùa Tế Cát tiếp độ chúng sinh, giáo hóa thiện tín thập phương, đồng thời
trợ giáo Tổ Phổ Tụ truyền pháp, giữ kỷ cương Tổ đình Tế Xuyên.
Năm Bính Dần (1926)
Hòa thượng Phổ Tụ viên tịch, Ngài được sơn môn suy tôn làm đệ tứ Tổ Tế
Xuyên Bảo Khám Tự, tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh, san khắc kinh
điển, luật tạng như bản Thiền Lâm Bảo Huấn, Tăng Hộ, Tâm Tạng, Địa Tạng mà
Tổ đệ tam đang làm dở. Từ đó Ngài là thạch trụ đống lương của sơn môn.
Ngài thường được chư Tăng tôn vinh ngôi chủ Hạ trong các khóa an cư tại Tổ
đình, hoặc có năm tại chùa Quán Sứ - Hà Nội. Ngài kiêm luôn chức Chánh chủ
giảng. Trong các trai hội lớn, Ngài được cung thỉnh thượng tòa Chứng minh.
Năm 1934 tại Bắc kỳ,
phong trào chấn hưng Phật giáo được phát động. Ngài không quản tuổi cao
sức yếu, chẳng những bản thân nhiệt thành hưởng ứng tham gia, mà còn vận
động Tăng Ni, Phật tử trong sơn môn. Ngài còn đi tới các chùa, các Tổ đình
khác vận động các bậc trưởng lão kỳ túc trong các sơn môn tham gia. Sau
khi Hội Bắc Kỳ Phật Giáo ra đời và xuất bản báo Đuốc Tuệ để làm cơ quan
phổ biến Phật pháp, Ngài được Hội mời làm Phó Chủ bút, phụ tá cho Hòa
thượng Trung Thứ đương nhiệm Chủ bút. Năm 1936, Hòa thượng Chủ bút viên
tịch, Ngài tiếp nối duy trì tờ báo, lãnh trách nhiệm Chủ bút, quy tụ được
rất đông chư Tôn đức Tăng Ni và cư sĩ, nhà văn viết bài cho tờ báo, góp
nhiều công sức cho việc hoằng dương chánh pháp, xây dựng nền văn hóa dân
tộc. Tờ Đuốc Tuệ dưới quyền Chủ bút của Ngài xuất bản liên tục cho đến
ngày Cách Mạng Tháng Tám thành công.
Trong thời gian làm
chủ bút báo Đuốc Tuệ, Ngài được Hội Bắc Kỳ Phật Giáo cung thỉnh giữ luôn
chức Chánh trú trì chùa Quán Sứ, nơi đặt trụ sở của Hội.
Năm 1951, các phái
đoàn Phật Giáo ba miền Bắc Trung Nam họp đại hội tại chùa Từ Đàm - Huế
thực hiện nguyện vọng chung của Tăng Ni và Phật tử toàn quốc là thống nhất
Phật giáo dưới danh xưng Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, Ngài được đại hội
cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư.
Năm 1952, Ngài lãnh
đạo sơn môn trùng tu Tổ đình Tế Xuyên thành một tòng lâm khang trang, qui
mô như ngày nay vẫn còn. Tiếp đó Ngài cho trùng tu các chùa ở Tế Cát, Văn
Xá, Nam Xá... là những ngôi Tam Bảo mà Ngài đã có thời làm trú trì.
Ngày 17 tháng 11 năm
Mậu Tuất (1958) pháp thể khương an, tinh thần minh mẫn, Ngài vẫn cùng đệ
tử và tín đồ mừng lễ vía Đức Phật A Di Đà. Qua sáng hôm sau, Ngài ra trai
đường niệm thực, chứng cháo sáng, thụ trai xong, Ngài an nhiên tĩnh tọa
vãng sanh Tây phương, hưởng thọ 85 tuổi đời, 64 hạ lạp.
Trong suốt cuộc đời,
Hòa thượng luôn hoan hỷ dìu dắt Tăng Ni và Phật tử trên con đường tu học.
Ngài luôn thực hiện hạnh từ bi hỉ xả, tận tụy vì đạo pháp và làm rạng rỡ
tông phong lịch đại Tổ sư Tế Xuyên nói riêng, Phật giáo nước nhà nói
chung.
***
HÒA THƯỢNG
(1889 - 1959)
Hòa Thượng pháp danh
Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm
Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu
Diệu Hòa.
Khi còn nhỏ tuổi,
Ngài thường theo mẹ vào chùa lễ Phật. Sư Cụ trụ trì thấy Ngài hình nghi
cốt cách, đĩnh đạc thông minh, nên rất yêu mến muốn truyền đạo cho. Năm 14
tuổi (1903), được song đường cho phép, Ngài xuất gia làm đệ tử Hòa thượng
chùa Phúc Lâm thuộc xã Quần Phương Thượng, sớm tối chăm chỉ học tập, lễ
bái hầu Thầy một lòng tinh tấn.
Năm 1905, Ngài 16
tuổi được Bổn sư trao truyền Sa Di giới. Tuy ít tuổi nhưng tinh cần và khí
phách trượng phu, Ngài được Sư Tổ cử đi trụ trì chùa Cồn, ấp Văn Lý, Nam
Định.
Năm 1909, được 20
tuổi, Ngài thọ Thinh Văn giới tại Đại giới đàn chùa Phúc Lâm. Hầu Thầy
được hai năm thì Bổn sư viên tịch. Từ đó Ngài tham phương tầm Sư học đạo:
khi thì Tổ đình Vĩnh Nghiêm, lúc ở Tế Xuyên thiền viện... Ở đạo tràng nào
Ngài cũng được thầy mến bạn yêu, tinh tấn tu học.
Trong Tam Tạng giáo
điển, Ngài rất chú trọng về Luật Tạng, nổi tiếng nhớ Luật và trì Luật bậc
nhất. Ngoài ra, cả ngoại khoa như Nho, Lão, Lý số Ngài cũng quán triệt, và
văn chương thơ phú cũng rèn luyện tinh thông.
Năm 1920, Ngài cùng
Sư Tổ chùa Dương Lai, chùa Duyên Bình, chùa Quế Phương tỉnh Nam Định lập
Hội Tiến Đức Cảnh Sách để thâu nhận những Tăng Ni hữu học có đức hạnh,
thành một đoàn thể không phân biệt sơn môn này hệ phái nọ; ngõ hầu sách
tấn lẫn nhau trên đường tu học, làm đống lương cho Phật pháp sau này. Trụ
sở đặt tại chùa Quế Phương, Sư Tổ chùa Dương Lai làm Hội trưởng, Ngài giữ
chức giáo sư Luật học.
Năm 1934, miền Bắc
dấy lên phong trào chấn hưng Phật giáo, Ngài rời chùa Quy Hồn cùng với Tổ
chùa Trung Hậu, chùa Bằng Sở, hai Ngài Tố Liên, Trí Hải và cư sĩ Nguyễn
Hữu Kha sáng lập Hội Bắc Kỳ Phật Giáo, trụ sở Trung ương của hội đặt tại
chùa Quán Sứ Hà Nội.
Năm 1935, Ngài giữ
chức Giám viện chùa Quán Sứ để quản trị mọi công việc trong chùa.
Năm 1936, trường Tăng
Học Bắc Việt thành lập đặt tại chùa Sở. Tổ Bằng Sở giữ chức Đốc giáo, Ngài
là Phó đốc giáo kiêm giáo sư Luật học. Hai Tổ Trung Hậu và Bằng Sở nối
tiếp nhau viên tịch năm 1940 - 1942, Ngài một mình gánh lấy trách nhiệm
nặng nề: Giám quản kiêm Đốc giáo toàn trường.
Trong những năm từ
1941-1945, do ảnh hưởng chiến tranh Pháp - Nhật trên đất nước, Ngài đã
lãnh đạo dời đổi địa điểm trường Tăng Học Quán Sứ sang Bồ Đề, đến Trung
Hậu, lên Cao Phong rồi Hương Hải, và cuối cùng lại về Quán Sứ, trải nhiều
gian lao thiếu thốn trong thời chiến tranh, Ngài vẫn dìu dắt Tăng sinh vừa
sản xuất (lương thực tiêu dùng) vừa tu học.
Năm 1945, nhận lãnh
chức Hội trưởng Hội Việt Nam Phật Giáo, kiêm chánh trụ trì chùa Quán Sứ.
Nhưng Ngài vẫn giữ trụ trì chùa Quy Hồn, nơi trụ xứ lúc thiếu thời Ngài đã
gắn bó xây dựng. Cuối năm này, nhận thấy tuổi già sức yếu, cùng là để
thích hợp với tư trào mới, Ngài ủy thác lại mọi việc cho các danh Tăng trẻ
tuổi: Tố Liên, Trí Hải rồi trở về chùa Cồn ở Nam Định để tu dưỡng. Trọng
tài mến đức của Ngài, Tăng chúng bốn phương từ Nam Trung Bắc qui về nơi
Ngài an dưỡng để học đạo từ 1946 đến 1949, đạo tràng lúc nào cùng trên
dưới sáu bảy mươi vị.
Năm 1950, Hội Phật
Giáo Tăng Già Bắc Việt cung thỉnh Ngài trở về chùa Quán Sứ lần nữa giữ
chức Đốc giáo trường Tăng Học Bắc Việt ở đây, kiêm chức Trưởng tòa kiểm
duyệt Giáo lý Bắc Việt, đồng thời Ngài cũng nhận làm Chứng minh Đạo sư cho
Hội Việt Nam Phật Giáo.
Năm 1951, thể theo
nguyện vọng của Phật tử thành phố Nam Định, Ngài nhận chức trụ trì chùa
Vọng Cung. Cũng trong năm này, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập,
trụ sở đặt tại chùa Từ Đàm Huế, Hòa thượng nhận ngôi Chứng minh Đạo sư cho
Tổng Hội.
Năm 1952, đại biểu
Tăng Ni toàn quốc tề tập về chùa Quán Sứ trong thời gian từ cuối tháng 8
đến đầu tháng 9 để thảo luận; duyệt định “Quy chế Giáo Hội Tăng Già Toàn
Quốc do ba Giáo Hội Bắc Trung Nam dự thảo, và bầu Ban Tổng Trị Sự Trung
Ương. Ngài được toàn thể Đại biểu suy tôn lên ngôi Thượng Thủ Tăng Già
Toàn Quốc (ngày 7-9-1952), làm thạch trụ cho hết thảy Tăng tín đồ toàn
quốc quy ngưỡng. Năm đó Ngài được 63 tuổi.
Năm 1953, Ngài đã
soạn thảo và ấn hành “Lá Tâm Thư” đại ý kêu gọi Tăng tín đồ toàn quốc
chung sức chung lòng trùng hưng Phật giáo như thời đại Lý, Trần xưa kia.
Từ năm 1954 trở đi,
Ngài lui về Nam Định tịnh tâm tu dưỡng. Thế nhưng định luật vô thường rồi
cũng đến, nguyện lực hoằng thâm đã viên mãn, thân tứ đại đến lúc trả về
cho tứ đại, ngày 3 tháng 4 năm Kỷ Hợi, tức 10-5-1959, Ngài xả báo thân từ
70 năm qua tại Vọng Cung để nhập về Vô Ưu quốc, và công đức tu trì 50 hạ
lạp.
Trên nửa thế kỷ từ
lúc niên thiếu đến giờ phút cuối cùng cuộc đời, Ngài luôn nghiêm trì giới
luật, hoằng pháp độ sinh, đào tạo Tăng tài bất kể hoàn cảnh khó khăn hay
thuận lợi nào. Là một Luật sư uyên thâm, tiêu biểu nhất của Luật Tông Việt
Nam, pháp âm của Ngài là nền tảng vũng bền cho mạng mạch chính pháp lưu
truyền như di huấn của Phật Tổ.
Bút tích và tác phẩm
Ngài đã soạn và dịch giải để lại :
- Tại gia tu hành.
- Kinh Phạm Võng
giải.
- Sa Di luật.
- Lá tâm thư.
Và hàng loạt các sách
Luật tạng mà Ngài đã giảng dạy ghi chú, tâm truyền cho những học trò kế
tiếp đã là danh Tăng luật sư nổi tiếng sau này như: Hòa thượng Thiện Hòa,
Kim Cương Tử, Bình Minh.
***
HÒA THƯỢNG
(1895 - 1961)
Hòa thượng thế danh
là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi
(1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi
nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
Năm 21 tuổi (1916)
nhận thấy cảnh thế phù du, cuộc đời là vô thường, giả tạm, Ngài quy y thọ
giới tại chùa Cảnh Tiên. Năm 22 tuổi (1917) Ngài được nhập chúng tu học ở
chùa Quang Lộc trong tỉnh, được ban pháp danh Chơn Húy. Sẵn có căn bản Hán
học vững chắc, Ngài thâm nhập kinh tạng rất mau chóng. Ngài lần lượt thọ
giới Sa Di và nghiên cứu Kinh, Luật, Luận rồi thọ giới Tỳ Kheo Bồ Tát với
pháp hiệu Khánh Anh. Khi tròn 30 tuổi, Ngài trở thành một vị giảng sư Phật
học nổi tiếng.
Năm 1927, Ngài được
mời vào Nam làm Pháp sư dạy tại trường gia giáo chùa Giác Hoa tỉnh Bạc
Liêu. Năm 1928, Ngài lại về dạy Phật pháp tại chùa Hiền Long tỉnh Vĩnh
Long. Qua năm 1931, Ngài nhận lời mời làm trú trì chùa Long An, xứ Đồng
Đế, tỉnh Cần Thơ. Ở đây Ngài có rất nhiều Tăng tín đồ đến cầu học.
Năm 1935, Ngài hợp
tác với các Hòa thượng Khánh Hòa, Huệ Quang, Pháp Hải v.v... lãnh đạo Hội
Lưỡng Xuyên Phật Học đặt trụ sở tại chùa Long Phước tỉnh Trà Vinh, và mở
Phật Học Đường tại đây để đào tạo Tăng tài, truyền trì đạo pháp tại miền
Nam. Ngài tham gia giảng dạy tại Phật Học Đường và cộng tác với tạp chí
Duy Tâm, cơ quan truyền bá đạo Phật của Hội. Ngài viết nhiều bài báo cổ
xúy phong trào chấn hưng Phật giáo nước nhà, mong sao theo kịp đà tiến
triển các nước Phật giáo bạn như Trung Hoa, Nhật Bản v.v...
Năm 1940, Ngài được
mời làm Pháp sư dạy ba tháng tại chùa Thiên Phước ở Tân Hương, tỉnh Tân
An. Qua năm sau, Ngài lại đến dạy Phật học trong ba tháng cho Đại giới đàn
chùa Linh Phong ở Tân Hiệp. Năm 1942 Phật Học Đường Lưỡng Xuyên tạm nghỉ
mấy tháng vì thiếu tài chánh. Ngài về trú trì chùa Phước Hậu ở Trà Ôn,
tỉnh Cần Thơ, mở các lớp giáo lý cho Tăng Ni và tín đồ ở đây. Năm 1945,
Ngài được Hòa thượng Huệ Quang mời về dạy trường gia giáo tại chùa Long
Hòa, quận Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
Sau Cách Mạng Tháng
Tám năm 1945, Ngài về nhập thất tại chùa Phước Hậu để tâm nghiên cứu Tam
Tạng kinh điển. Từ đó đến năm 1955, Ngài đã soạn thảo và phiên dịch rất
nhiều tác phẩm. Ngài có cho xuất bản ba tập Khánh Anh Văn Sao. Một trong
ba tập này in những bài Ngài viết về giáo lý, những bài sớ giảng và thi
bút do Ngài sáng tác.
Năm 1955 Hội Phật Học
Nam Việt thành lập, cung thỉnh Ngài vào ban Chứng minh Đạo sư của hội. Năm
1957, ngày mồng một tháng ba năm Đinh Dậu (31-3-1957) Đại Hội Giáo Hội
Tăng Già Nam Việt Kỳ III họp tại chùa Ấn Quang, đã suy tôn Ngài lên ngôi
Pháp Chủ để lãnh đạo Phật giáo miền Nam, kế nối Hòa thượng Huệ Quang viên
tịch tại Tân Đề Li Ấn Độ, khi Hòa thượng lãnh đạo phái đoàn Phật giáo Việt
Nam đi dự Hội nghị lần thứ 4 của Hội Thế Giới Phật Giáo Liên Hữu.
Cũng tại chùa Ấn
Quang, ngày 10-9-1959, Đại Hội Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc Kỳ II đã long
trọng suy tôn Ngài lên ngôi vị Thượng Thủ để cầm cương lĩnh vận mệnh Phật
Giáo Việt Nam. Từ đó Ngài thường xuyên lưu trú tại chùa Ấn Quang để đôn
đốc Phật sự và tiếp tục phiên dịch, trước tác. Ngài vẫn luôn tinh tấn tu
hành, không giờ phút nào quên câu niệm Phật để cầu sanh Tây phương Lạc
quốc.
Xuân Tân Sửu (1961),
nhân dịp hành hương đầu năm, Ngài rời chùa Ấn Quang về thăm chùa Phước Hậu
ở Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ. Sau đó Ngài trở về chùa Long An xứ Đồng Đế, nơi
Ngài đã từng trú trì từ năm 1931. Thấy trong người thay đổi, biết cơ duyên
đến gần, Ngài cho gọi các đệ tử đến dặn dò khuyên bảo tu học và hành đạo,
rồi niệm Phật, an nhiên thị tịch. Hôm đó là ngày 30 tháng giêng năm Tân
Sửu (16-4-1961), lúc 16 giờ. Ngài hưởng thọ 66 tuổi đời với 45 năm sống
với đạo.
Giáo Hội Tăng Già
Toàn Quốc rước kim quan Ngài về chùa Ấn Quang cử hành trọng thể lễ mai
táng tại An Dưỡng Địa Bình Chánh. Đến ngày 15 tháng 2 Đinh Mùi (25-3-1967)
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất long trọng cử hành lễ trà tỳ, rồi
rước linh cốt Ngài về chùa Ấn Quang và chia thờ các nơi sau đây:
- Chùa Ấn Quang, trụ
sở Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc.
- Chùa Long Phước
(Trà Vinh), trụ sở Hội Lưỡng Xuyên Phật Học.
- Tháp Đa Bảo ở chùa
Phước Hậu, Trà Ôn, Cần Thơ.
- Chùa Từ Nghiêm, trụ
sở Ni bộ Bắc tông.
- Chùa Long Phước,
trụ sở Giáo Hội tỉnh Vĩnh Long.
Sự nghiệp trước tác
và dịch phẩm của Ngài để lại gồm có:
- Hoa Nghiêm nguyên
nhân luận.
- Nhị khóa hiệp giải.
- 25 Bài thuyết Pháp
của Thái Hư Đại Sư.
- Tại gia cư sĩ luật.
- Duy thức triết học.
- Qui nguyên trực
chỉ.
- Và Khánh Anh Văn
Sao (3 tập).
Hòa thượng Thích
Khánh Anh là một vị cao Tăng bác học. Sự nghiệp hoằng dương chánh pháp,
giáo hóa lợi sanh của Ngài rất lớn lao. Ngài xứng đáng là viên đá lớn
trong lâu đài Phật Giáo Việt Nam. Ngài đã dày công đào tạo nhiều thế hệ
Tăng Ni mà ngày nay, nhiều người trong số đó đủ khả năng và đức hạnh tiếp
nối, vun đắp cho cây đại thụ Phật Giáo Việt Nam ngày một vững bền, xanh
tươi.
***
HÒA THƯỢNG
(1895 - 1961 )
Hòa thượng thế danh
là Nguyễn Văn An, pháp danh Pháp Hải, sinh năm Ất Mùi (1895) tại làng
Thông Dong, quận Lấp Vò, tỉnh Sa Đéc, nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là
cụ ông Nguyễn Văn Dá, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Tốt.
Khi lên 8 tuổi, Ngài
được gia đình cho theo Nho học. Học hành tiến bộ, lại thêm tính tình hòa
nhã, khiêm cung nên Ngài được thầy khen bạn mến. Đến năm 17 tuổi (Nhâm Tý
1912) Ngài xuất gia đầu Phật, quy y với Hòa thượng trú trì chùa Tây Hưng ở
Sa Đéc.
Năm 22 tuổi, sau khi
Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài đến cầu pháp với Sư tổ chùa Long Phước ở
tỉnh Vĩnh Long và tu học ở đây được sáu năm. Đến năm 28 tuổi, Ngài được Sư
tổ Long Phước bổ xứ làm trú trì chùa Phước Sơn ở quận Trà Cú, tỉnh Trà
Vinh.
Từ năm 1932, phong
trào chấn hưng Phật giáo khởi phát rầm rộ tại Nam kỳ do Hòa thượng Khánh
Hòa làm trụ cột. Ngài là một trong những thiền sư cộng tác tích cực. Năm
1933 và 1934 Ngài cùng với các Hòa thượng Khánh Hòa, Khánh Anh, Huệ Quang
tổ chức Phật Học Đường lưu động lấy tên là Liên Đoàn Phật Học Xã tại chùa
Long Hòa ở Trà Vinh, chùa Thiên Phước tại quận Trà Ôn và chùa Viên Giác
tại Bến Tre. Tại các nơi này, cùng với Hòa thượng Khánh Anh và Huệ Quang.
Ngài đóng góp tích cực vào việc giảng dạy Phật pháp cho Tăng sinh.
Sau hơn một năm Phật
Học đường Liên Đoàn Phật Học Xã tan rã vì thiếu tài chánh. Năm 1934 Ngài
cùng các Hòa thượng Tăng hữu và một số cư sĩ hữu tâm lại tổ chức Hội Lưỡng
Xuyên Phật Học và thành lập Phật Học Đường Lưỡng Xuyên. Trụ sở của hội
cũng như Phật Học Đường đặt tại chùa Long Phước (Trà Vinh) do bà Dương Thị
Liễu cúng cho hội. Ngài được mời làm trú trì, kiêm giáo sư giảng dạy cho
Tăng Ni. Lúc bấy giờ Ngài đã 40 tuổi (Ất Hợi 1935) tuy gầy yếu, nhiều bệnh
nhưng không lúc nào Ngài bê trễ việc giảng dạy và chăm lo các Phật sự
khác. Ngoài việc giảng dạy giáo lý, Ngài còn lo việc ăn ở chu đáo cho học
đường. Sự tận tụy chăm sóc của Ngài làm cho toàn thể học chúng vô cùng
kính mến.
Ngài trú trì chùa
Long Phước được sáu năm (1934-1940). Tiếp đến Hội Lưỡng Xuyên Phật Học mở
chi hội tại quận Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, đặt trụ sở tại chùa Hiệp Châu.
Ban Quản trị Chi hội cung thỉnh Ngài về làm trú trì chùa Hiệp Châu để cầm
cương lĩnh cho các Phật sự của Chi hội. Ngài trụ xứ tại đây được bốn năm
(1944) thì Sư tổ chùa Long Phước ở Vĩnh Long viên tịch, Ngài phải trở về
thừa kế đảm nhiệm chức trú trì tại Tổ đình. Dưới sự giáo hóa dìu dắt của
Ngài, Tăng Ni và Phật tử Vĩnh Long quy hướng về Ngài rất đông.
Năm 1951 (Tân Mão),
Giáo Hội Tăng Già Nam Việt được thành lập tại chùa Ấn Quang do Hòa thượng
Khánh Anh làm Pháp chủ. Các chi hội lần lượt được thành lập khắp các tỉnh
miền Nam, trong đó có tỉnh Vĩnh Long. Ngài được mời làm Trị sự trưởng của
Tỉnh giáo hội. Tiếp sau đó, Hội Phật Học Nam Việt thành lập chi hội tại
Vĩnh Long, Ngài lại được mời nhận chức Chứng minh Đạo sư kiêm Hội trưởng
Tỉnh hội.
Mặc dầu đã cao tuổi,
lại thường bịnh hoạn, mỗi lần có hội họp, Ngài vẫn tham dự đầy đủ từ đầu
cho đến mãn cuộc. Có những buổi họp kéo dài đến khuya. Ngài ngồi mỏi mệt
ngất trên bàn chứng minh. Cả hội nghị đều thỉnh Ngài đi nghỉ. Nhưng Ngài
dạy: “Không sao đâu, tôi cố gắng ngồi đây để khuyến khích tinh thần cho
quý vị hăng hái làm việc”. Đây là một công hạnh đặc biệt của Ngài, Tăng Ni
và Phật tử Vĩnh Long nhớ mãi.
Năm 1961, Ngài vì
bệnh già, đã viên tịch tại chùa Long Phước tỉnh Vĩnh Long, vào ngày mùng 6
tháng 8 năm Tân Sửu, hưởng thọ 66 tuổi đời, 49 tuổi đạo. Kim quan của Ngài
được Giáo Hội Tăng Già Nam Việt rước về cử hành lễ mai táng long trọng tại
An Dưỡng Địa Bình Chánh, gần bên mộ Hòa thượng Khánh Anh, Tăng hữu chí cốt
của Ngài, đã từng cùng nhau hoạt động tích cực cho phong trào chấn hưng
Phật Giáo tại Nam Kỳ.
Đến ngày rằm tháng 2
năm Đinh Mùi (25-3-1967) nhân ngày vía Phật nhập Niết Bàn, Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất làm lễ trà tỳ linh cốt của Tổ Khánh Anh và của
Ngài, rồi rước về thờ tại chùa Ấn Quang, trụ sở của Giáo Hội. Đến ngày
14-10 năm Mậu Thân (1968). Giáo Hội lại đưa một phần linh cốt của Ngài và
Tổ Khánh Anh về tôn thờ tại chùa Long Phước tỉnh Vĩnh Long, nơi Ngài đã
trụ xứ cho đến mãn đời.
***
HÒA THƯỢNG
(1912 - 1961)
Ngài Mật Thể, pháp
danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở
làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống
Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ
Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh
ruột đều xuất gia.
Thuở nhỏ, Ngài được
gia đình cho học chữ Nho, Quốc ngữ, và chữ Pháp đỗ bằng Tiểu học
(Primaire). Năm 12 Tuổi (1924), cụ thân sinh đem Ngài về chùa Diệu Hỷ
(Huế) cho xuất gia làm Tiểu (Điệu). Với bẩm chất thông minh và cần mẫn tu
học, Ngài tiếp thu nhanh chóng kinh luật căn bản dành cho chú Tiểu.
Năm lên 16 tuổi
(1928), Ngài được nhập chúng tu học ở chùa Từ Quang với Hòa thượng Giác
Bổn. Nhận thấy khả năng học tập xuất sắc của Ngài, nên Hòa Thượng Giác Bổn
cho Ngài vào tu học ở chùa Trúc Lâm với Hòa thượng Giác Tiên. Khi vào học
ở tòng lâm này, như cá gặp nước, như rồng gặp mây, lại được gần thầy bên
bạn học hỏi chuyên cần, nên Ngài vượt xa bạn cùng lớp.
Năm Canh Ngọ 1930,
khi Ngài 18 tuổi, được Hòa thượng Giác Tiên, trú trì chùa Trúc Lâm - Huế
chính thức thế độ nhận làm đệ tử và cho thọ Sa Di giới, ban pháp danh Tâm
Nhất, pháp tự Mật Thể.
Năm 1932, Hòa thượng
Giác Tiên thỉnh Đại lão Hòa thượng Phước Huệ - chùa Thập Tháp Di Đà, tỉnh
Bình Định ra chủ giảng Phật Học Đường ở chùa Trúc Lâm và Tây Thiên. Ngài
được đặc cách theo học lớp Cao Đẳng Phật Học này.
Năm 1933, Ngài được
mời làm giảng sư Hội An Nam Phật Học và giảng dạy tại trường Tiểu học Phật
giáo của sơn môn Thừa Thiên.
Năm 1935, Hòa thượng
Bổn Sư viên tịch, đến năm 1937 Hòa thượng Phước Huệ vì tuổi cao sức yếu
trở về Bình Định an tĩnh. Đây là bước ngoặc mới trong đời Ngài. Với hoài
bão lớn lao, Ngài quyết chọn con đường du học để bồi dưỡng thêm kiến thức.
Ngài xin phép các sư huynh Mật Khế, Mật Nguyện, Mật Hiển sang Phật Học
Viện Tiêu Sơn ở Trung Quốc để nghiên cứu học hỏi thêm dưới sự chủ trì của
Hòa Thượng Tinh Nghiêm.
Năm 1938, chiến tranh
Hoa - Nhật xảy ra không cho phép Ngài cư trú lâu ở đất Trung Hoa. Ngài trở
về Việt Nam tiếp tục làm giảng sư cho hội An Nam Phật Học và bắt đầu sự
nghiệp trước tác, phiên dịch các tác phẩm Ngài mang từ Trung Hoa về. Ngài
còn viết các bài nghiên cứu về đạo Phật đăng trong các tạp chí Phật giáo
xuất bản trong nước thời bấy giờ.
Năm 1941, Ngài được
mời vào giảng dạy tại Phật Học Đường Lưỡng Xuyên- Trà Vinh. Sau đó Ngài
trở ra Huế và đi thu thập tài liệu nơi các Tổ đình ở Bình Định, Phú Yên,
Thừa Thiên, Hà Nội..v.v. để viết về Sử Phật giáo.
Năm 1943, tác phẩm
Phật Giáo Việt Nam Sử Lược của Ngài được Nhà xuất bản Tân Việt ấn hành.
Sách được Quốc sư Phước Huệ tán ngữ và Trần văn Giáp đề tựa.
Mãi đến năm 1944, lúc
32 tuổi Ngài mới thọ Cụ Túc giới tại giới đàn chùa Thuyền Tôn do Hòa
thượng Thích Giác Nhiên làm Đàn đầu. Ngài đứng đầu các giới tử và được
chọn làm thủ Sa Di. Cũng vào năm này, Ngài được mời làm trú trì chùa Phổ
Quang-Huế.
Năm 1945, Cách Mạng
Tháng Tám nổ ra, Ngài tham gia phong trào Phật giáo Cứu quốc ở Thừa Thiên-
Huế.
Tháng giêng năm 1946,
khi Chính Phủ Lâm Thời tổ chức Tổng tuyển cử, Ngài ra ứng cử ở Thừa Thiên
và đắc cử làm đại biểu Quốc Hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khóa đầu
tiên. Đây cũng là lần đầu tiên một Tăng sĩ Phật giáo trực tiếp tham gia
chính trường. Cũng năm 1946, Ngài được mời làm Chủ tịch Ủy ban Phật giáo
Cứu quốc tỉnh Thừa Thiên.
Là người có chí
nguyện lớn, Ngài chủ trương phải cải tổ sơn môn và nóng lòng trước quá
trình đổi mới chế độ Tăng già còn diễn tiến chậm. Tuy có nhiều va chạm
nhưng Ngài không nản lòng, luôn ôm hoài bão cao xa đưa Phật giáo phát
triển hòa nhập thời đại và mở ra hướng đi mới cho hàng Tăng sĩ trẻ. Chính
vì thế Ngài đã viết và cho xuất bản nhiều tác phẩm nhằm mục đích cách tân
và mở rộng tầm nhìn cho Tăng sĩ thời bấy giờ.
Với một bút pháp tài
hoa và tâm hồn khoáng đạt, Ngài đã thu hút nhiều trí thức văn nhân ưu tú
đến làm bạn tâm giao như Trần Văn Giáp, Phạm Quỳnh, Khái Hưng. Chính trong
những lần tương ngộ này mà tư tưởng Phật giáo đã gắn liền với họ, thể hiện
qua các tác phẩm như cụ Trần Văn Giáp với cuốn Phật Giáo Việt Nam ; cụ
Phạm Quỳnh với các bài nghiên cứu về đạo Phật đăng trong tạp chí Nam Phong
; Khái Hưng với Hồn Bướm Mơ Tiên...
Năm 1947, khi mặt
trận chống Pháp ở Huế bị tan vỡ, Ngài chia tay từ biệt với anh em Phật tử
và Tăng sĩ đồng chí hướng, ra vùng kháng chiến, theo cách mạng xây dựng
phong trào Phật giáo tại miền Bắc.